Saturday, May 16, 2009

Những người trấn cửa cuối cùng của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH - Hoàng Khởi Phong

Lực lượng Biệt Cách 81 chuyển quân vào Phước Long tháng 01/1975

Hoàng Khởi Phong

(Một trong những câu chuyện về những “NGƯỜI LÍNH” thật sự đã làm nên Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là bài viết dưới đây của nhà văn Hoàng Khởi Phong, viết về “Hổ Xám Phạm Châu Tài”, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, người chịu trách nhiệm trấn cửa cuối cùng tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH).

Ðầu năm 1975 vì nhu cầu chiến trường, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù phải chia ra làm hai cánh quân hoạt động cách xa nhau. Ðại Tá Phan Văn Huấn và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 1 và Số 2 đang hành quân nhảy toán trong khu vực Bắc Tân Uyên, Biên Hòa. Riêng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy tăng phái cho Sư Ðoàn 25 Bộ Binh hành quân tại Tây Ninh. Giữa Tháng Tư 1975, lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu gọi toàn bộ liên đoàn rút về trấn giữ Sài Gòn, và được trải ra để hoạt động trong một vùng khá rộng chung quanh đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh.

Ngày 26 Tháng Tư, Ðại Tá Phan Văn Huấn - Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn, sau khi nhận lệnh từ Bộ Tổng Tham Mưu, đã ra lệnh cho Thiếu Tá Phạm Châu Tài - Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Ðoàn, đem toàn bộ cánh quân do Thiếu Tá Tài chỉ huy, gồm một ngàn quân thiện chiến về phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu. Thiếu Tá Phạm Châu Tài chuyển quân xong thì trời đã về chiều. Tại Bộ Tổng Tham Mưu Thiếu Tá Tài được Ðại Tá Tòng Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Mưu đón tiếp niềm nở. Kế đó Ðại Tá Tòng giao việc phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu lại cho Trung Tá Ðức, Chỉ Huy Phó Tổng Hành Dinh phối hợp với quân số tăng phái của Thiếu Tá Phạm Châu Tài. Ðó lần duy nhất Thiếu Tá Phạm Châu Tài được tiếp xúc với Ðại Tá Tòng, sau đó ông đại tá này biến mất cho tới tận bây giờ.

Trung Tá Ðức đưa Thiếu Tá Tài đi quan sát chung quanh bức tường thành bao quanh Bộ Tổng Tham Mưu, và đề nghị toàn bộ đơn vị của Thiếu Tá Tài vào nằm trong vòng thành, để cố thủ bên trong vòng đai của Bộ Tổng Tham Mưu.

Thiếu Tá Phạm Châu Tài khựng lại trước đề nghị cố thủ bên trong vòng đai. Dường như cả hai vị sĩ quan của Bộ Tổng Tham Mưu mà ông tiếp xúc không một ai nắm vững khả năng của lực lượng Biệt Cách Dù, bởi vì cố thủ hay tử thủ gì đó không phải là chiến thuật sở trường của Biệt Cách Dù. Từ Mậu Thân cho đến Mùa Hè 72, Biệt Cách Dù nổi danh nhất là đánh đêm trong thành phố. Những trận đánh tại Ngã Ba Cây Thị, khi địch đã tràn vào trà trộn trong dân chúng, hay đã lẩn vào trú ẩn trong các căn nhà dân chạy loạn bỏ trống.

Trong tình hình đó lối đánh sát phạt của Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Ðộng Quân chắc chắn sẽ giải quyết được chiến trường nhưng cũng sẽ làm cho nhà cửa, sinh mạng của dân chúng bị vạ lây không ít. Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đã dương danh trong những trận đánh này, tiến chiếm từng ngôi nhà, từng con ngõ, từng khu phố… Nếu bỏ toàn đơn vị của Thiếu Tá Tài vào nằm bẹp trong Bộ Tổng Tham Mưu, thì chẳng khác gì nhốt một con chim vào trong một cái lồng hẹp, sẽ bị dụ vào thế phòng thủ hoàn toàn thụ động, không có chỗ xoay trở. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thẳng thắn trình bày ý niệm phòng thủ của ông là tấn công địch trước, và được Trung Tá Ðức đồng ý để Thiếu Tá Tài hoàn toàn tự do bố trí, trải quân của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù.

Ngay từ khi mới ngừng xe ở trước cổng chính của Bộ Tổng Tham Mưu, Thiếu Tá Phạm Châu Tài đã nhìn thấy một điều, ông phải bung quân ra xa. Phải chặn địch ngay trên những con đường chính dẫn về Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc đó trời đã nhá nhem tối, Thiếu Tá Tài tạm thời cho quân tập trung vào sân banh của Bộ Tổng Tham Mưu, và đó có lẽ cũng là một đêm hiếm hoi mà binh sĩ của ông tạm có thể coi là có dịp nghỉ ngơi, để lấy lại hơi thở cho chính họ, trước khi phải lao vào trận đánh cuối cùng.

Trong thâm tâm Thiếu Tá Phạm Châu Tài, ông sinh ra ngay tại đất Gia Ðịnh này, lớn lên tại Sài Gòn nên ông có thể nhắm mắt cũng biết, để có thể ngăn chặn địch xung phong vào Bộ Tổng Tham Mưu, đơn vị của ông phải bung ra xa. Phải chặn đánh địch xâm nhập ngay từ khi chúng mới ló đầu ra ở Bà Quẹo, Ngã Tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Trung Tâm Tiếp Huyết, đường Võ Di Nguy… Với một địa bàn quá rộng như thế, phải cần quân số của cả Liên Ðoàn, nghĩa là ba ngàn người. Thế nhưng toàn thể Liên Ðoàn được đưa về Sài Gòn không phải chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là phòng thủ cho Bộ Tổng Tham Mưu. Rất nhiều nơi quan yếu khác cần đến những người lính Biệt Cách Dù, những người lính chuyên về đánh đêm trong thành phố.

Ðêm 26 Tháng Tư qua đi trong yên tĩnh, trọn buổi sáng 27, Thiếu Tá Phạm Châu Tài lo bố trí quân tại những địa điểm cần thiết, để có thể chận đánh, tiêu diệt những chiến xa mở đường của địch quân. Sau khi rải quân xong, Thiếu Tá Phạm Châu Tài được lệnh lên trình diện Trung Tướng Nguyễn Văn Minh Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô. Từ cổng ngoài của Biệt Khu Thủ Ðô, một chiếc xe tuần tiễu Quân Cảnh dẫn đường cho xe của Thiếu Tá Tài đến văn phòng của ông tư lệnh. Trong lúc này Tướng Nguyễn Văn Minh đang bàn thảo với Tướng Ðỗ Kiến Nhiễu, chung quanh hai vị tướng này có vài đại tá. Nhìn thấy Thiếu Tá Tài đi cùng người lính Quân Cảnh, tướng Minh đứng dậy tiến hẳn ra bắt tay rất niềm nở, và nói với Thiếu Tá Tài: “Em về đúng lúc lắm”. Sau một cuộc tiếp xúc ngắn không đầy mười phút, Tướng Minh yêu cầu Thiếu Tá Tài qua thăm phối hợp với Ðại Tá Châu Văn Tiên - Tỉnh Trưởng Gia Ðịnh. Nhiều năm sau này Thiếu Tá Tài được biết, ngay sau buổi hội kiến ngắn ngủi đó (ngày 27 Tháng Tư), Trung Tướng Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô biến mất.

Buổi chiều 27 Tháng Tư, Bác Sĩ Ngô Thế Vinh cưỡi Vespa đến thăm Thiếu Tá Phạm Châu Tài tại Bộ Tổng Tham Mưu. Bác Sĩ Ngô Thế Vinh mang từ trong cốp xe ra một cặp rượu cho Thiếu Tá Tài và nói: “Có Hổ Xám về đây tôi thấy ấm lòng”. Thiếu Tá Tài đưa Bác Sĩ Vinh lên sân thượng của building số 1, một tòa nhà cao sáu tầng nằm đối diện với cổng số 1 của Bộ Tổng Tham Mưu, ở đó Thiếu Tá Tài chỉ tay ra xa, giải thích cho bạn biết những nơi ông đã rải quân chặn địch. Từ nóc tòa nhà cao nhìn ra tứ phía, bạt ngàn tầm mắt là nhà cửa của dân chúng, kể cả những cao ốc khác nằm đó đây trong lòng Sài Gòn, tất cả như co mình lại, lún xuống thấp để chờ những cơn mưa.

Không phải những cơn mưa đầu mùa, mà là những cơn mưa pháo mà Cộng quân đã từng bắn không thương tiếc vào An Lộc, Kon Tum, Bình Long, trên đại lộ kinh hoàng, trên Liên Tỉnh Lộ 7B… Vào lúc này dân khắp nơi đổ xô về Sài Gòn, khiến cho dân số thủ đô của miền Nam gia tăng đến chóng mặt. Dễ chừng có tới bốn triệu con người trong một thành phố chật hẹp. Trên sân thượng này Thiếu Tá Phạm Châu Tài và Bác Sĩ Ngô Thế Vinh cùng không nói nhiều, chỉ trao đổi với nhau những câu ngắn và gọn, nhưng dường như họ đồng cảm với nhau về những suy nghĩ. Cả hai đều có điều kiện để cao bay xa chạy, thế nhưng cả hai cùng đứng lại.

Bác Sĩ Ngô Thế Vinh khi nói với bạn, không bao giờ dùng tên hay cấp bậc. Với ông, Thiếu Tá Phạm Châu Tài là “Hổ Xám”. Danh hiệu này đã thành từ nhiều năm nay do một sự tình cờ, từ khi Thiếu Tá Phạm Châu Tài còn là các toán A trưởng, hoạt động song song với các toán Lực Lượng Ðặc Biệt Mỹ. Các người bạn Mỹ khi phát âm TÀI không chuẩn, nghe như TAI (TIGER), và danh hiệu HỔ XÁM ra đời từ đó. Hổ Xám không phải là một danh hiệu gọi cho kêu, cho oai. Ðể có được danh hiệu này, Thiếu Tá Phạm Châu Tài đã cống hiến cho quân đội toàn bộ tuổi trẻ của ông, đã lao mình vào không biết bao nhiêu trận đánh trong suốt mười năm chinh chiến. Và nếu như HỔ XÁM phải nằm xuống, sẽ có rất nhiều máu của địch quân phải đổ ra.

Chính vì vậy mà trong những ngày sau cùng, đã có rất nhiều lần Thiếu Tá Phạm Châu Tài được các người quen có thế lực, có tiền của rủ ra ngoại quốc, song chưa bao giờ ông có ý nghĩ bỏ lại anh em, bỏ lại đồng đội. Chẳng những thế từ khi cơn bão lửa dấy lên từ bờ sông Thạch Hãn, thổi dọc theo dãy Trường Sơn, thổi xuôi theo Quốc Lộ 1 xuống phía Nam, Hổ Xám Phạm Châu Tài chưa bao giờ có ý nghĩ đầu hàng, ông toàn chỉ nghĩ đến cách nào để chiến đấu với quân địch ở ngay trước mắt. Ông cũng không có thời giờ để nghĩ đến vợ con, ngay cả lúc đã được đưa về trấn cửa Bộ Tổng Tham Mưu, chỉ cách nơi vợ con ông trú ngụ trên đường Trương Minh Giảng gần Ðại Học Vạn Hạnh không đầy ba cây số.

Ngày 27 Tháng Tư rồi cũng qua đi, nhìn chung không khí Sài Gòn cực kỳ sôi động. Vì phải đôn đốc binh sĩ dưới quyền, nằm rải rác chung quanh Bộ Tổng Tham Mưu, trong ngày 27 Tháng Tư, có đôi lần Thiếu Tá Phạm Châu Tài ghé ngang cổng Phi Long của phi trường. Ông nhìn thấy những đoàn người tìm cách chạy trốn ra ngoại quốc qua ngả phi trường. Không mấy hứng thú trước cảnh này, Thiếu Tá Phạm Châu Tài quay về với các binh sĩ của ông.
Trong đêm 27 Tháng Tư, ông cảm nhận được bầu không khí thoi thóp không phải chỉ của Sài Gòn mà thôi. Những tiếng động ầm ì từ phi trường Tân Sơn Nhất, những tiếng súng đại bác bắn đi từ Phú Lâm vọng về, thỉnh thoảng những ánh đèn nhấp nháy của những chiếc máy bay đơn lẻ vụt qua trên nền trời tối sẫm.

Sáng ngày 28 Tháng Tư, trong lúc đang thị sát binh sĩ tại những ổ kháng cự, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nhận được điện thoại của một sĩ quan Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu, tự xưng là Ðại Úy X (đã quá lâu nên Thiếu Tá Phạm Châu Tài quên mất tên của vị sĩ quan này). Qua điện thoại vị sĩ quan này lớn tiếng:

- Tôi báo động cho thiếu tá biết, thằng Cao Văn Viên đã bỏ đi rồi.

Thiếu Tá Phạm Châu Tài ôn tồn nói với vị sĩ quan này:

- Ðại úy không nên dùng những ngôn ngữ đó. Dù sao Ðại Tướng Viên cũng là Tổng Tham Mưu Trưởng của toàn thể quân đội, và việc bỏ đi của Ðại Tướng Cao Văn Viên thuộc về lịch sử. Ðể lịch sử sau này sẽ phán đoán việc làm của đại tướng. Tôi sẽ tới Phòng 3 ngay bây giờ, chuyện đâu còn có đó.

Khi Thiếu Tá Phạm Châu Tài quay trở lại Bộ Tổng Tham Mưu, ông không gặp vị sĩ quan đã gọi điện thoại cho ông. Hầu như Phòng 3 trống trơn, Thiếu Tá Tài không còn tin vào cặp mắt của mình. Xe cộ chạy dọc ngang, các sĩ quan cao cấp có xe Jeep chở đầy đồ đoàn trên xe. Người ta chạy tứ tung, kêu gọi nhau ơi ới. Nhìn ra ngoài cổng chính cũng như cổng phụ của Bộ Tổng Tham Mưu người ta ra vào lũ lượt. Vẫn còn những toán lính Quân Cảnh mang sắc phục hành sự tại hai điếm canh, song hình như họ cũng đứng đó bất lực như Thiếu Tá Phạm Châu Tài.

Trong buổi sáng 28 Tháng Tư tại Bộ Tổng Tham Mưu, văn phòng của Ðại Tướng Cao Văn Viên trống trơn. Các phòng, ban của Bộ Tổng Tham Mưu chỉ vài tháng trước nhộn nhịp kẻ ra người vào, quân nhân các cấp ra vào áo quần thẳng tắp, giờ đây sáng ngày 28, Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy cơ quan đầu não của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vắng lặng như tờ. Ông chua chát nhận chân được thế nào là một đoàn quân không có tướng cầm đầu. Ông nghiệm lại từ lúc về trình diện tăng phái về trấn cửa cho Bộ Tổng Tham Mưu, được Ðại Tá Tòng - Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh, tiếp vào lúc xế chiều của ngày 26 Tháng Tư, tới bây giờ là 10 giờ sáng của ngày 28 Tháng Tư, chưa một lần nào Thiếu Tá Tài nhìn thấy bóng dáng ông Ðại Tướng Cao Văn Viên.

Không hiểu trong những giờ phút thập tử nhất sinh như thế này, ông đại tướng ở đâu, làm gì. Ngay cả ông Ðại Tá Tòng cũng biến mất không thấy tăm hơi. Trong sân Bộ Tổng Tham Mưu, quân nhân các cấp người chạy lên, kẻ chạy xuống như là những quân đèn cù. Xe Jeep, xe Dodge phun khói mờ trời đất. Nhiều chiếc xe còn kéo theo cả móc hậu, bên trong đầy đồ đạc, dụng cụ. Ai nấy đều như mê sảng. Trong hoàn cảnh đó, Thiếu Tá Phạm Châu Tài cho dù muốn xin một cái lệnh của cấp trên, cũng sẽ không tìm ra một sĩ quan cao cấp nào để ban hành lệnh.

Khoảng 11 giờ trưa ngày 28 Tháng Tư, Thiếu Tá Phạm Châu Tài gọi điện thoại liên lạc với Ðại Tá Phan Văn Huấn, lúc đó đang đóng quân ở Suối Máu - Biên Hòa, để trình bày tình hình ở Bộ Tổng Tham Mưu. Trong khoảng hai, ba tiếng đồng hồ liền Bộ Tổng Tham Mưu như là cảnh tan chợ chiều. Vào khoảng 3 giờ chiều, Ðại Tá Phan Văn Huấn đích thân lái xe từ Suối Máu về gặp Thiếu Tá Phạm Châu Tài, thì tình hình ở Bộ Tổng Tham Mưu đã dịu xuống, những ai muốn TAN HÀNG khi chưa có lệnh TAN HÀNG đã không còn hiện diện tại đơn vị. Hai vị chỉ huy của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù trao đổi với nhau vài câu ngắn ngủi, rồi chia tay để mỗi người quay về với nhiệm vụ của mình.

Khoảng 4 giờ rưỡi chiều, một nhân viên của Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Tham Mưu liên lạc với Thiếu Tá Tài, mời lên gặp Ðại Tá Trần Văn Thăng, một sĩ quan thâm niên của Cục An Ninh Quân Ðội, không hiểu do lệnh của ai, đã được đưa về thay thế cho Ðại Tá Tòng trong chức vụ Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tổng Tham Mưu. Khi hội kiến xong trở ra, Thiếu Tá Tài nhận thấy Ðại Tá Thăng có lẽ là người phúc hậu, một cấp chỉ huy đàng hoàng tử tế, chứ không phải một sĩ quan tác chiến dầy kinh nghiệm. Thật tình mà nói thì Ðại Tá Thăng không phù hợp với tình thế dầu sôi lửa bỏng trong lúc này.

Khoảng 5 giờ chiều ngày 28 Tháng Tư, trong lúc Thiếu Tá Phạm Châu Tài đang đứng trên nóc một cao ốc gần Bộ Tổng Tham Mưu, nơi bố trí của một toán Biệt Cách Dù thì thấy một phi đội A37 bay vụt qua trên đầu, Thiếu Tá Tài nghĩ là phi cơ của Không Quân đi oanh tạc ở đâu về. Bốn chiếc A37 bay thật thấp xẹt qua các nóc cao ốc, rồi hướng về phía phi trường Tân Sơn Nhất. Thế rồi Thiếu Tá Tài thấy những cụm lửa, khói bốc lên ở phi trường. Té ra không phải là máy bay của phe ta mà là phi cơ địch bỏ bom xuống phi trường. Phản ứng đầu tiên của Thiếu Tá Tài là ra lệnh cho binh sĩ của ông phòng thủ trên các cao ốc chĩa hết súng, kể cả súng cá nhân lên trời đề bắn hạ các phi cơ này, nếu chúng quay lại bỏ bom vào Bộ Tổng Tham Mưu là nơi mà ông chịu trách nhiệm phòng thủ. Tất cả chỉ xảy ra trong vòng vài phút, chỉ một pass bom, song phi đạo chính của phi trường Tân Sơn Nhất đã bị hư hại nặng.

Mãi mấy tiếng đồng hồ sau, qua làn sóng của đài phát thanh Việt Cộng, Thiếu Tá Phạm Châu Tài mới biết được mấy chiếc A37 đó là của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, bị bỏ lại ở ngoài Trung khi các đơn vị ở đó triệt thoái xuống phía Nam. Các phi cơ này do tên CS Nguyễn Thành Trung hướng dẫn, bay từ phi trường Phan Rang vào oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất.

Sau khi Ðại Tá Thăng nhận nhiệm vụ, lệnh đầu tiên và có lẽ cũng là lệnh duy nhất của ông ban ra trong tư cách Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh là kể từ giờ không một ai được phép RA khỏi Bộ Tổng Tham Mưu, còn người VÀO, thì có lẽ trong giờ thứ 25 này, mấy ai còn nghĩ đến việc quay trở lại một địa điểm sắp làm mồi cho lửa đạn. Sau khi phi trường bị mấy chiếc A37 bỏ bom bất ngờ, vào khoảng 6 giờ chiều, Tướng Nguyễn Văn Chức từ Bộ Tổng Tham Mưu lái xe Jeep ra ngoài, bị lính Quân Cảnh chặn lại, nhưng ông Chức vẫn muốn lái xe ra ngoài, thấy vậy các binh sĩ Biệt Cách Dù can thiệp, và yêu cầu Tướng Chức quay trở lại. Suốt đêm 28, tiếng súng lớn nhỏ ở khắp nơi vọng về, song tại khu vực phòng thủ của Thiếu Tá Phạm Châu Tài tình hình lắng dịu.

Ngày 29 Tháng Tư, Bộ Tổng Tham Mưu đã có một Tổng Tham Mưu Trưởng khác: Trung Tướng Vĩnh Lộc. Vì Tướng Cao Văn Viên đã chuồn, cho nên không hề có lễ bàn giao giữa hai ông tân và cựu Tổng Tham Mưu Trưởng. Dầu sao thì sự hiện diện của một ông tướng cũng vãn hồi phần nào bộ mặt của Bộ Tổng Tham Mưu, khiến cho cơ quan đầu não này có một chút sinh khí. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy một số tướng lãnh khác cũng tới cùng với khá nhiều sĩ quan cấp đại tá.

Buổi chiều ngày 29 Tháng Tư, Tướng Vĩnh Lộc và một số tướng lãnh hội họp với nhau ngay tại phòng khánh tiết của Tổng Tham Mưu Trưởng. Buổi họp giống như một buổi tiếp tân nhiều hơn là một cuộc họp trong tình thế cực kỳ khẩn trương. Hầu như không một vị sĩ quan nào ngồi trên ghế, có tới vài chục vị đứng quây quần với nhau thành nhiều nhóm. Thiếu Tá Phạm Châu Tài được gọi lên tương kiến trong buổi họp kỳ lạ này.

Cùng đi với Thiếu Tá Tài là bốn người lính cận vệ, và cả Thiếu Tá Tài ai nấy đều trang bị vũ khí khắp người. Thiếu Tá Tài được giới thiệu như là một người hùng. Ông ghi nhận được trong buổi họp này ngoài Trung Tướng Vĩnh Lộc, tân Tổng Tham Mưu Trưởng còn có sự hiện diện của Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, và một chuẩn tướng nữa có bảng tên là Hỷ (không có họ) và sau cùng có chừng mười mấy vị phần lớn là đại tá. Sau khi được các sĩ quan cao cấp bắt tay khích lệ, Thiếu Tá Tài được Trung Tướng Có hỏi thăm về tình trạng đơn vị, và nhắn nhủ:

- Em ráng giữ Bộ Tổng Tham Mưu cho tới sáng ngày mai. Ráng giữ nguyên vẹn cho tới ngày mai. Ðã có giải pháp.

Thiếu Tá Phạm Châu Tài ngửng mặt lên nhìn thẳng vào mắt các tướng lãnh trong phòng họp rồi bằng một thái độ quả quyết, một giọng nói tự tin trả lời cho Trung Tướng Nguyễn Hữu Có:

- Tôi xin cam đoan với quý vị tướng lãnh và các vị sĩ quan trong phòng họp này, là trong đêm nay sẽ không có một con kiến, một con ruồi nào lọt được vào Bộ Tổng Tham Mưu chứ đừng nói tới một thằng Việt Cộng.

Kế đó Trung Tướng Có hỏi Thiếu Tá Tài có cần ông giúp đỡ gì không.

Thiếu Tá Tài nhân đó xin rút một biệt đội của ông đang phải nằm án ngữ tại Lục Quân Công Xưởng về, để tăng cường cho quân số phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu, vì cả đơn vị có một ngàn người còn phải chia mất một phần tư lực lượng, bị xé quá mỏng không có được một đại đội làm tuyến phòng thủ cuối cùng trong Bộ Tổng Tham Mưu.

Nghe vậy Trung Tướng Có bốc điện thoại gọi và cho kết quả ngay. Buổi họp cấp kỳ tại Bộ Tổng Tham Mưu diễn ra không lâu, sau khi các sĩ quan cao cấp rời khỏi phòng khánh tiết, cái không khí đìu hiu của buổi sáng lại diễn ra. Tuy nhiên buổi chiều đó biệt đội phòng thủ tại Lục Quân Công Xưởng được trả về cho Thiếu Tá Tài.

Ðêm 29 Tháng Tư súng nổ ở nhiều nơi vọng về chỗ đóng quân của Thiếu Tá Tài. Binh sĩ dưới quyền ông chạm súng lẻ tẻ với địch ở nhiều nơi, nhưng các đứa con được bung ra không bị một thiệt hại nhỏ nhoi nào. Thiếu Tá Phạm Châu Tài cảm nhận được một điều là tinh thần chiến đấu cũng như hàng ngũ của đơn vị ông vô cùng vững chãi. Cho dù trên cái vòm chỉ huy của quân đội, các ngôi sao cứ tuần tự băng trong bóng tối của trận chiến sau cùng. Ông vững lòng với binh sĩ thuộc hạ, không hề có một ổ kháng cự nào bị bỏ ngỏ.

Ðêm 29 Tháng Tư năm 1975, có thể là một đêm dài vô tận với hầu hết mọi người quân như dân, ai nấy đều co mình lại chờ sáng, thậm chí mắt căng ra không ngủ được, nhưng với Thiếu Tá Phạm Châu Tài thì khác, ngoại trừ những lúc phải đi kiểm soát binh sĩ dưới quyền, ngoại trừ những lúc phải chỉ huy, ông đã ngủ rất ngon trong những giờ trống. Sở dĩ Thiếu Tá Phạm Châu Tài ngủ ngon, vì ông đã xác định hẳn cho cá nhân mình cũng như toàn đơn vị một ý chí duy nhất: Giữ cho được Bộ Tổng Tham Mưu không phải chỉ một đêm nay, mà là nhiều đêm sau nếu cần, cho tới khi nào có được giải pháp cuối cùng cho miền Nam.

Tờ mờ sáng ngày 30 Tháng Tư 1975, Cộng Quân tiến vào Sài Gòn qua nhiều ngả. Thiếu Tá Phạm Châu Tài thầm nhủ với mình là giờ phút cuối cùng đã điểm. Ông liên lạc với các thuộc cấp, dặn dò họ những khẩu lệnh cuối. Qua các máy truyền tin, ông biết bộ binh của Cộng Sản đã được các xe tăng dẫn đầu bứng các chốt kháng cự một cách nhanh chóng. Phía trước của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, những khóa sinh chưa kịp ra trường đã tiến ra mặt trận, mà mặt trận đâu có xa xôi gì. Bên ngoài vòng đai trung tâm huấn luyện chính là nơi trận chiến cuối cùng đang diễn ra. Thế những những người lính chưa kịp ra lò này đã có một bài thực tập tốt về chống chiến xa. Hai chiến xa của địch đã bị bắn hạ tại đây, thế nhưng những chiếc khác vẫn cứ thẳng đường tiến về Sài Gòn. Núp theo sau những chiến xa này, là những chiếc xe vận tải chuyển quân, trên đó chất đầy những cán binh Cộng Sản, với quần áo còn có lá cây ngụy trang trên nón.

Tới Ngã Tư Bảy Hiền, cánh quân này bắt đầu đụng độ với Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Số 3 của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, và bị bắn hạ một chiếc dẫn đầu tại Ngã Tư Bảy Hiền. Những chiếc sau vẫn tuần tự tiến tới, thậm chí Cộng quân cũng không hề ngừng lại phản công tại những địa điểm có ổ kháng cự của những người LÍNH cuối cùng. Cánh quân này lướt qua để tiến về trung tâm thủ đô. Các binh sĩ Biệt Cách Dù vừa đánh vừa rút theo với đà tiến của địch. Hai chiếc tăng khác của Cộng Quân bị bắn hạ ở cổng Phi Long, một chiếc bị bắn hạ ở Lăng Cha Cả. Và bây giờ thì Cộng Quân đã có mặt tại vòng đai của Bộ Tổng Tham Mưu. Hai chiếc tăng nữa bị hạ ngay gần cổng Bộ Tổng Tham Mưu. Các binh sĩ Biệt Cách cũng đã rút về, tập họp khá đầy đủ chung quanh cấp chỉ huy của họ, và tuyến phòng thủ cuối cùng cũng đã thiết lập xong. Mấy trăm người LÍNH hờm súng về phía trước, mắt căng ra chờ địch quân tiến vào.

Vào khoảng hơn 9 giờ sáng của ngày 30 Tháng Tư 1975, qua tần số của máy truyền tin, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nhận được lệnh của một sĩ quan Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu ngưng bắn. Ông đã khước từ tuân hành lệnh này, và trả lời cho vị sĩ quan này là ông chỉ nhận lệnh trực tiếp với ông Tổng Tham Mưu Trưởng mà thôi. Những người lính Biệt Cách Dù vẫn giữ nguyên vị trí phòng thủ trong vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu.

Vào khoảng mười giờ, Thiếu Tá Phạm Châu Tài nghe trên đài phát thanh truyền đi lệnh của Ðại Tướng Dương Văn Minh, yêu cầu tất cả quân nhân các cấp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng. Thiếu Tá Tài bỏ phòng tuyến trở vào một văn phòng của Bộ Tổng Tham Mưu, đích thân gọi điện thoại lên Dinh Ðộc Lập và được Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh tự nhận là Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thiếu Tá Phạm Châu Tài cho biết là bây giờ ông muốn được nói chuyện với Ðại Tướng Dương Văn Minh, vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Ðội.

Khoảng chừng 15 phút chờ đợi dài như một thế kỷ, bên kia đâu dây điện thoại mới nghe giọng nói của Ðại Tướng Dương Văn Minh cất lên:

- Ðại Tướng Dương Văn Minh tôi nghe.
- Thưa đại tướng, tôi là Thiếu Tá Phạm Châu Tài đang chỉ huy Biệt Kích Dù phòng thủ Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng tôi được ủy thác phòng thủ tại đây cho tới khi có giải pháp cuối cùng. Cách đây một giờ chúng tôi được lệnh ngưng bắn gọi qua máy siêu tần số, và vừa mới rồi được nghe lệnh của đại tướng trên đài phát thanh kêu gọi ngưng bắn. Chúng tôi xin hỏi lại cho rõ về ngưng bắn là thế nào.

Sau một khắc ngần ngừ, Ðại Tướng Minh nói:
- Mình không còn một cái gì để đánh cả. Em chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia.
- Thưa đại tướng, thế có nghĩa là đầu hàng vô điều kiện.

Ðầu dây bên kia lại một phút im lặng nặng nề trôi qua, Thiếu Tá Tài nói tiếp vào điện thoại:
- Thưa đại tướng, chúng tôi được lệnh là cố thủ tại đây, và từ sáng tới giờ chúng tôi đã ngăn chặn được các mũi tấn công của địch. Chúng tôi đã bắn cháy 6 chiếc tăng của Cộng Sản trong khu vực này, mà không hề hấn gì cả. Thưa đại tướng, chúng ta không thể đầu hàng được. Công lao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong bao nhiêu năm sẽ …
- Tùy các em.
- Thưa đại tướng, nếu đầu hàng đại tướng có bảo đảm cho sinh mạng của hai ngàn người đang tử thủ tại Bộ Tổng Tham Mưu không.

Lại một phút nặng nề nữa trôi qua. Sau cùng Tướng Minh nói:
- Xe tăng của địch quân sắp tiến vào đây. Tùy các em.

Và rồi điện thoại bị cúp.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài buông điện thoại xuống, quay trở lại với phòng tuyến của mình. Ông đã đi qua những hành lang rộng, những văn phòng khang trang của Bộ Tổng Tham Mưu, song ông không bắt gặp một tướng lãnh nào, một sĩ quan cao cấp nào. Khi nghe câu nói cuối cùng của Ðại Tướng Dương Văn Minh cho biết là xe tăng của Cộng quân đang sắp tới Dinh Ðộc Lập, Thiếu Tá Tài đã định trình bày cho Ðại Tướng Minh biết, là nếu cần ông sẽ mang quân về cứu đại tướng, vì không thể đầu hàng vô điều kiện được, mà phải có một giải pháp nào đó cho quân đội, cho những người LÍNH.

Quay trở ra phòng tuyến của mình, Thiếu Tá Phạm Châu Tài thấy toàn thể đơn vị của ông vẫn còn súng lăm lăm trong tay, mắt hướng ra ngoài chờ địch quân tiến tới.

Ðúng vào lúc đó thì tiếng Ðại Tướng Dương Văn Minh lại vang lên trên làn sóng phát thanh. Bây giờ không phải là lệnh ngưng chiến tại chỗ, chờ bên kia tới BÀN GIAO, mà lệnh ÐẦU HÀNG VÔ ÐIỀU KIỆN.

Các cánh quân Cộng Sản từ xa vẫn tiếp tục xít chặt vòng vây quanh Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng dường như súng thì đã ngưng nổ, và tất cả chìm trong một sự im lặng ngột ngạt.
Khoảng 15 phút sau dân chúng cư ngụ ở gần Bộ Tổng Tham Mưu kêu gọi rối rít:
- Các ông ơi, đừng đánh nhau nữa. Hòa bình rồi. Ði về nhà đi thôi.

Dân chúng ùa tới mang rất nhiều quần áo dân sự, đặc biệt là những áo thun, đưa cho các binh sĩ Biệt Cách Dù:
- Thôi đừng mặc quân phục nữa, thay đồ đi.
Thiếu Tá Phạm Châu Tài tập họp binh sĩ dưới quyền lần chót. Ông không còn ra lệnh cho thuộc hạ nữa, mà nói với những người anh em không may mắn của ông một lần cuối cùng:

- Chúng ta là Biệt Cách Dù, không có vụ đầu hàng. Thôi tan hàng, và lặn cho kỹ. Không có vụ đầu hàng …. Biệt Cách Dù không thể đầu hàng…

Hoàng Khởi Phong
***


"An Lộc Địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù Vị Quốc Vong Thân"

Cô giáo Pha để lại trên tấm bia trước nghĩa trang Biệt Cách 81 Dù tại An Lộc còn có một bài thơ khác của Cô viết tặng cho binh chủng kiêu hùng này của QLVNCH

"Anh Biệt Kích hề ngàn xưa bất hứa
Em thục nữ hề trong trắng ngoài xinh
Ta quen nhau hề Lý Bạch lưu linh
Khi chợt tỉnh hề khối tình trong mộng
Em chỉ muốn hề thương chàng qua bóng
Để rồi mơ hề rồi mộng rồi mơ
Biệt Kích ơi hề tâm ý thành thơ
Xin gửi đó hề chừ thương nhớ mãi"

Bài thơ dưới đây của một người lính Biệt Kích vô danh. Anh là một hạ sĩ trẻ của biệt-đội I. Tháng 1/75 nhảy vào Phước Long.Bị thương và bị bắt. Trong giờ phút cuối cùng của đời người, anh đã cố viết được một bài thơ rất cảm động với mong muốn gửi tặng cô giáo Pha.Anh ấy đã chết sau đó 8 ngày và bài thơ đã được giao lại cho một người bạn đồng cảnh ngộ.Và anh bạn ấy đã học thuộc lòng mang tới vùng đất Tự Do từ lao tù Cộng Sản . Tựa bài thơ đó là "Gửi Em Cô Gái Bình Long"
Thơ rằng :

"Nhớ theo Hổ Xám vào An Lộc
Đội pháo trên đầu như đội mưa
Múa kiếm đứng ngăn thù cửa Bắc
Mà tưởng mình là Nguyễn Huệ xưa.
Trong tiếng đạn reo mù khói trận
Bỗng gặp em, cô giáo như mơ
Em ngồi rũ tóc trong hầm tối
Đọc tiếng kinh cầu, như đọc thơ".

"Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên trời
Chúa ơi, Biệt Kích là thi sĩ
Thi sĩ cầm gươm như đi chơi".

"An Lộc địa sử lưu chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân"
Lời thơ hôm ấy sao hay quá
Nghĩa trang buồn như tiếng lá rơi.

Pha hỡi, bây chừ em đâu nhỉ ?
Cô giáo hôm xưa đã lấy chồng ?
Chúc em hạnh phúc răng long bạc
Còn anh hôm nay vào Phước Long.

Anh theo quân vào nơi hiểm địa
Hét tiếng xung phong đến vỡ trời
Bắn cháy xe tăng như uống rượu
Mà tưởng em đang rót chén mời.

Bóng địch chập chùng nơi cửa ngõ
Ba trăm quân đánh một sư đoàn
Mãnh hổ nan địch quần hồ bại
Anh thối binh về mà thấy oan.

Nửa chừng lại gặp cơn bão lửa
Toán Delta bị kích giữa đàng
Ôi lại Phước Long lưu chiến tích
Anh bị trúng đạn giữa rừng hoang.

Và chừ giờ đang ngồi bó gối
Tay xích chân xiềng trong trại giam
Máu bụng vẫn tuôn ra như suối
Anh biết mình thôi thế là tan.

Nhưng giây phút cuối anh vẫn nhớ
Màu áo hoa dù nón mũ xanh
Nhớ dáng em xưa cô giáo nhỏ
Họa bút thành thơ như tiếng oanh.

"Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lại chinh chiến kỷ nhân hồi"
Xá gì một cõi đi về đất
Biệt Cách lưu danh, Biệt Kích đời".


Sunday, May 3, 2009

Tiểu Đoàn 41 Biệt Động Quân Chiến Thắng Hàm Lương - Vũ Đình Hiếu

Vũ Đình Hiếu

1. Tiểu Đoàn 41 Biệt Động Quân Chiến Thắng Hàm Lương

Trong thời gian quân-đội Hoa-Kỳ tham chiến tại Việt-Nam, các tiểu-đoàn Biệt động quân có thêm một toán cố-vấn Hoa-Kỳ đi theo để phối-hợp trong vấn đề yểm trợ hỏa-lực và nhất là không trợ. Các quân-nhân Hoa-Kỳ này chia sẻ cực khổ, nguy-hiểm với người bạn đồng-minh Việt-Nam và họ rất hãnh-diện về binh chủng Biệt-động-quân. Bài viết dưới đây được lấy ra trong tài liệu "BĐQ trên đòng bằng Cửu-Long" của cựu trung-tá Roy S. Lombardo, cố-vấn trưởng tiểu-đoàn 41 BĐQ. Tài liệu này đã được dùng làm tài liệu huấn-luyện trong trường Lục-quân Hoa-Kỳ.

Bắt đầu từ tháng chín năm 1967, tất cả các cuộc hành quân có tiểu-đoàn 41 BĐQ tham-dự đều chạm địch. Lần đầu trong tỉnh Định-Tường, sau đó di chuyển về phía nam và đông sang tỉnh Kiến-Hòa, các cuộc chạm súng với địch quân gia tăng đều đặn. Quốc lộ 4 bị cắt (đắp mô) hàng ngày. Cây cầu ở phía đông Bến-Tre bị phá xập, cô-lập vài quận-lỵ và ba tiểu đoàn thuộc trung-đoàn 10, sư-đoàn 7 Bộ-binh. Ngày 18 tháng mười 1967, một cuộc hành quân "lùng và diệt" trong quận Trúc-Giang, vùng trách nhiệm của trung-đòan 10/BB do tiểu-đoàn 3/10 và TĐ 41 BĐQ đảm trách. Hai tiểu-đoàn được vận chuyển bằng xuồng đổ bộ dọc theo sông Hàm-Lương về phía nam để truy lùng các đơn vị Việt cộng thuộc tiểu-đoàn 504, 303 điạ-phương. Các đơn-vị Việt cộng đã chứng tỏ sự hiện diện trong vùng cùng với súng cối 82 lỵ

Trong vùng đồng bằng Cửu-Long, vấn đề chuyển quân bằng xuồng rất thường. Khi đoàn tầu xuôi dòng về hướng nam, các mục tiêu ở về phía bắc có thể coi như an-tâm, vả lại di chuyển bằng xuồng không đạt được yếu tố bất ngờ như trong cuộc hành quân trực thăng vận. Theo kế hoạch hành quân, TĐ 41/BĐQ sẽ đổ quân ở phiá nam TĐ 3/10/BB, tiến về phiá đông sau đó bọc ngược trở lại tiến quân song song với TĐ/BB.

Cuộc chuyển quân TĐ 41 bắt đầu lúc 1 giờ chiều tại bến tầu làng Mỹ-Hoà, tây nam Bến-Tre. Sau khi đổ bộ Biệt-động-quân dàn đội hình tiến quân, đến 6 giờ chiều, thiếu-tá Toàn ra lệnh dừng chân thiết lập vị trí phòng thủ đêm. Toán cố-vấn Hoa-Kỳ gồm sáu người chia đôi đào hố cá nhân gần đại-úy Mười tiểu-đoàn phó và thiếu-tá Toàn TĐ trưởng. Sau khi mọi chuyện xong xuôi, người hiệu thính viên Macey liên lạc với Trung tâm hành quân tỉnh Kiến-Hòa, nơi này làm việc 24/24 mỗi ngày, còn hệ thống Cố-vấn chỉ làm việc ban ngày. Chúng tôi có thể liên lạc với thiếu-tá Wayne Shipman, cố vấn trưởng trung-đoàn 10/BB, qua hệ thống truyền tin của trung-đoàn 10 mà tiểu đoàn 41 BĐQ tăng-phái. Chúng tôi để tần số làm việc với trung-tâm hành-quân Kiến-Hòa sau khi báo cáo vị trí đóng quân, tình hình và vài điều cần thiết. Toán cố-vấn của tiểu-đoàn 3/10 bỗng dưng biến mất trên tần số làm việc kể từ khi hai tiểu đoàn đổ quân. Vị trí đóng quân đêm của TĐ BB cách Biệt-động-quân khoảng một cây số về hướng tây.

Khi mọi người vừa chuẩn bị đi ngủ, địch quân bắt đầu pháo kích bằng súng cối 82 ly, viên cố vấn trưởng Lombardo và người hiệu thính viên Macey vội nhẩy xuống hố cá nhân lúc đó đã ngập nước, họ kéo ba-lô sát miệng hố che miểng đạn. Tất cả 29 viên vào đúng phòng tuyến TĐ 41/BĐQ, điều này chứng tỏ địch quân có một đơn vị chủ lực trong vùng, quân Việt cộng điạ phương không được trang bị súng cối 82 ly. Khi đợt pháo kích chấm dứt, súng nổ dòn tan tại phiá bắc phòng tuyến.

Macey, qua tần số trung-đoàn 10 BB báo cáo tình hình, đồng thời thiếu tá Toàn cũng báo cáo cho vị trung-đoàn trưởng. Lúc đó viên cố vấn trưởng của trung đoàn mới lên máy, điều đáng ngạc nhiên là toán cố vấn cho TĐ 3/10 vẫn im-hơi lặng tiếng.

- Pickle Factory, đây là Tiger Spanker, VC tấn công từ phía bắc lúc 1 giờ 15 với 29 quả 82 ly và bằng quân bộ (tối thiểu cấp tiểu đoàn). Cuộc tấn công bị chặn đứng cách phòng tuyến chúng tôi khoảng 100 thước. Yêu cầu không yểm Gunship và AC-47 lên bao vùng càng sớm càng tốt.

- Roger, Tger Spanker, Chờ cho hỏa lực yểm trợ. Nhắc lại cho tôi sau. Dứt !

Như vậy là chúng tôi phải tự lo-liệu lấy (họ làm việc theo giờ giấc đã định). Trong khi chờ đợi súng cối 60 ly của Biệt-động-quân soi sáng bãi chiến trường. Các binh sĩ BĐQ khai hỏa, ném lựu đạn vào tất cả các bóng đen di chuyển trên cánh đồng ruộng, lúc này các đại-đội trưởng đã ra l ệng ngưng tác xạ các khẩu đại liên để bảo trì đạn dược.

Thời gian dường như ngừng lại, đạn VC với những viên đạn lửa mầu xanh bay vào phòng tuyến quân ta, các quân nhân cứu thương bò ra sát phòng tuyến lôi kéo thương binh vào bên trong để băng bó, cứu cấp tạm thời. Tại hướng bắc tiếng súng tạm yên, địch quân mở một đợt tấn công mới vào hướng tây. Súng nổ mỗi lúc càng ác liệt, thiếu tá Toàn TĐT gửi thêm hai khẩu đại-liên M-60 ra phòng tuyến phía tây để tăng cường hỏa lực cho đại đội đang phòng thủ. Địch quân khi xung phong đến cách phòng tuyến chừng 150 m bị khựng lại trước sự chống trả quyết liệt của các binh sĩ BĐQ. Cuộc tấn công vào phòng tuyến Biệt-động bị đẩy lui, lúc đó về hướng tây, hỏa châu thắp sáng vị-trí tiểu-đoàn 3/10/BB. Toán cố vấn của TĐ này vẫn im-lặng.

Sau khi Lombardo báo cáo tình hình của TĐ/41/BĐQ cho viên cố-vấn trưởng trung-đoàn 10, ông ta cho biết AC-47 đang trên đường đến mục tiêu và yêu cầu vào tần số làm việc với trung tâm hành quân tỉnh Kiến-Hòa. Các viên cố-vấn tại đó đang lo lắng cho TĐ/BĐQ.

- Tiger Spanker, đây là Spooky 43. Tôi có thể giúp được gì không?

- Roger Spooky 43, Vị-trí địch ở hàng cây dừa phía bắc chúng tôi tại tọa độ 565208. Tôi đánh dấu vị trí chúng tôi. Lombardo tung một trái khói sáng đánh dấu quân bạn cho AC-47.

- Tiger Spanker, Tôi thấy trái khói sáng.

- Roger Spooky 43, Vòng đai phòng thủ của tụi tôi cách trái sáng 100 m về mọi huớng.

Chiếc AC-47 (Hỏa Long) nghiêng cánh tưới hàng loạt đạn đại bác tàn-phá những nơi tình nghi có địch tập trung. Khoảng năm phút sau, Spooky 43 cho biết là phải bay qua tỉnh Định Tường để hộ-tống một đoàn thuyền quân vận, tuy nhiên sẵn sàng trở lại nếu mục tiêu đã vạch sẵn. Mất một tiếng rưỡi đồng hồ đến mục tiêu, sự hứa hẹn trở lại của AC-47 rất mong manh.

- Roger Spooky 43, Cám ơn sự giúp đỡ của bạn, sẽ cho biết kết quả vào sáng sớm khi tụi tôi lục xoát mục tiêu.

- Đây là Spooky 43, Ráng lên! Tụi tôi bắt đầu rời vùng hành quân của bạn. Dứt.

- Roger, đây là Tiger Spanker, Dứt.

Lúc đó đồng hồ dạ-quang chỉ sáng, còn hai tiếng đồng hồ nữa trời mới sáng. Người hiệu thính viên Macey đã làm cho chiếc máy truyền tin PRC-25 im tiếng rè. Trong bầu không khí im-lặng, vài ý-tưởng vớ-vẩn thoáng qua trong đầu viên cố-vấn trưởng Roy S. Lombardo. Máy truyền tin còn xử-dụng được không? Có ai nghe không nếu mình gọi? Nơi nào có hỏa lực yểm trợ dự-trù (back up) mà lúc nào gọi cũng được khi là một đại-đội trưởng của lữ-đoàn 173 Dù HK trong chiến khu D? Hình ảnh gia đình cũng thoáng hiện ra. Trong sự im-lặng của màn đem, Roy cầu nguyện trong tâm "Xin Thượng-Đế giúp tôi và các Biệt-động-quân qua khỏi đêm naỵ Giúp tôi hoàn thành nhiệm-vụ. Giúp tôi biết điều hay nhất để làm khỏi phải do-dự". Với tay cầm lấy combinet từ Macey, Lombardo gọi.

- Pickle Factory, đây là Tiger Spanker. Chúng tôi cần ít nhất ba chiếc trực thăng tản thương khi tia sáng đầu tiên vừa lên để di-tản các thương binh và binh-sĩ tử trận. Tiểu-đoàn này sẽ không di-chuyển nếu điều đó không thực hiện xong.

- Roger, Tiger Spanker, Tôi đang lo chuyện đó ... Dứt.

Chẳng bao lâu, 'Thum...Thum...Thum... quân VC lại pháo kích, lần này trúng bộ-chỉ-huy tiểu đoàn. Lombardo lăn mình xuống hố cá nhân, vị TĐT thiếu-tá Toàn nhẩy không kịp bị trúng miểng nơi hông và chân trái. Mọi người đều căng thẳng, đạn dược cũng gần cạn, lúc đó trung úy Minh đại-đội trưởng ĐĐ 4 đứng dậy và bắt đầu hát bản "Biệt-động-quân hành khúc", các binh sĩ BĐQ đồng thanh hát theo, tiếng hô "Biệt-động-quân ... Sát!... Biệt-động quân... sát!" vang dội trong màn đêm. Đợt tấn công thứ ba bắt đầu, thiếu-tá Toàn vẫn còn ngồi được ra lệnh cho trung úy Minh dẫn đại-đội phản công đánh ra hướng tây qua khỏi cánh đồng ruộng rồi vòng qua hướng đông. Bị phản công bất ngờ, địch quân bỏ chạy để lại nhiều xác chết, ĐĐ 4 lấy được 13 AK-47 và 2 súng B-40.

Sớm hôm sau, trực thăng tản thương đến di-tản 17 BĐQ tử trận, 12 bị thương. Lúc tiến quân quân ta phát giác nhiều băng cá nhân, dụng cụ y-khoa của địch cùng nhiều dấu chân, hầm hố của địch để lại. Trận này làm cho Lombardo ghi nhớ mãi những kỹ niệm chiến đấu bên cạnh Biệt động quân Việt Nam.

Cựu trung-tá Roy S. Lombardo đã giải ngũ hiện sống tại tiểu bang Maryland. Sau năm 75 ông ta đã tìm kiếm các người bạn BĐQ xưa trong các cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Ông ta đã được toại nguyện Trung-tá Lê-bảo-Toàn cùng gia quyến đến định cư tại Garden Grove California, Thiếu-tá Đỗ-văn-Mười cùng gia quyến hiện cư-ngụ tại Seattle, Washington state. Ông Lombardo và các cựu cố vấn BĐQ khác đã xin và được chấp thuận xây một tấm bia tưởng niệm cho các tử-sỹ BĐQ/VN và các cố-vấn Hoa Kỳ trong nghĩa trang quốc gia Arlington.

Dallas, ngày 22 tháng 11 năm 1995
Vũ-đình-Hiếu

TIỂU ĐOÀN 42 BIỆT ĐỘNG QUÂN CỌP BA ĐẦU RẰN (KBC 4533)

TIỂU ĐOÀN 42 BIỆT ĐỘNG QUÂN CỌP BA ĐẦU RẰN (KBC 4533)

Viết cho ngày 30 tháng Tư đen,

Viết cho những Biệt Động Quân trên khắp bốn vùng chiến thuật,
Để tưởng nhớ hương hồn Cố Thiếu Tá Quách Hồng Quang
Tiểu Đoàn Trưởng cuối cùng của Cọp Ba Đầu Rằn.

Được tuyển chọn kỹ lưỡng, được huấn luyện đầy đủ, với kỹ thuật chợt ẩn chợt hiện, đánh nhanh đánh gọn, binh chủng Biệt Động Quân, từ khi mới được thành lập vào ngày 1 tháng Bẩy 1960, đã lập được rất nhiều chiến tích, làm kinh sợ kẻ thù và là niềm hãnh diện của những người trai thời chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong những tiểu đoàn nổi tiếng của các tiểu đoàn nổi tiếng nhất của Biệt Động Quân, chúng ta phải nói tới:

Tiểu Đoàn 42 “Cọp Ba Đầu Rằn” với vị Tiểu Đoàn Trưởng lừng danh: Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt.
Tiểu Đoàn 44 “Cọp Đen” với Thiếu Tá Lê Văn Dần và huyền thoại “Nữ Hổ Tướng Hồ Thị Quế”. Tiểu Đoàn 52 “Sấm Sét Miền Đông” do Thiếu Tá Nguyễn Hiệp làm Tiểu Đoàn Trưởng.

Với tinh thần dũng mãnh, cộng thêm với bộ quân phục mầu áo hoa rừng, chiếc nón sắt sơn rằn ri với đầu con beo đen thui, cặp mắt đỏ rực sáng quắc trên nền ngôi sao trắng toát, đã làm cho người chiến binh Biệt Động có một dáng vẻ oai hùng, đáng nể và đáng sợ (đối với Việt Cộng mà thôi).

Cũng từ những oai hùng đó, danh xưng “Cọp Ba Đầu Rằn” đã trở thành một cái gì đó huyền thoại! Bất cứ ai, dù lính hay dân sự, cũng ít ra có một lần nhắc tới hoặc được nghe kể về “Cọp Ba Đầu Rằn”.

Thậm chí, mỗi khi nói tới Biệt Động Quân, đã có nhiều người tưởng rằng, danh xưng “Cọp Ba Đầu Rằn” là dùng chung cho tất cả những chàng trai Biệt Động.

Được gọi là cọp, đã cảm thấy mình mạnh bạo, oai hùng rồi,

Lại được gọi là cọp . . . ba đầu, rằn ri nữa!

Nghe càng thấy hùng tráng, độc đáo, phải không các bạn?

Thế nhưng, khi được hỏi:

“Cọp Ba Đầu Rằn” là cái gì?
Ai đặt ra cái danh xưng này?
Đặt ra hồi nào? Ở đâu?

Nhiều Biệt Động Quân (trong đó có tôi) đã không có câu trả lời thỏa đáng.

Mãi cho tới gần đây, khi đọc bài viết của huynh trưởng Hồ Viết Lượng, tôi mới được mở mang trí tuệ. Xin được viết lại ra đây để quý độc giả cùng thưởng lãm:

“Cọp Ba Đầu Rằn” hay là “Cọp Ba Chân Đầu Rằn” cũng giống nhau, cũng là danh xưng của tiểu đoàn 42 Biệt Động Quân. Như chúng ta đã biết, binh chủng BĐQ được thành lập năm 1960 theo nhu cầu chiến trường lúc bấy giờ.

Việt Cộng trong khoảng thời gian này, đã dùng những tên nằm vùng tổ chức những đám du kích để khuấy phá các vùng nông thôn hẻo lánh trên khắp lãnh thổ VNCH. Theo chính sách “Dĩ độc trị độc”, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, dựa theo lời khuyến cáo của các Tướng Lãnh và những chuyên gia quân sự, đã quyết định thành lập những đơn vị “Phản Du Kích” được gọi là “Biệt Động Quân”.

Hầu hết các vị chỉ huy, các binh sĩ của Biệt Động Quân, đều là những chiến sĩ xuất sắc, được tuyển chọn từ những đơn vị thiện chiến. Sau một khóa huấn luyện đặc biệt về du kích chiến ở các Trung Tâm huấn luyện BĐQ, đã được đưa ra phục vụ tại 50 đại đội BĐQ biệt lập ở khắp bốn vùng chiến thuật.

Trong khoảng thời gian từ 1960đến 1964, các ĐĐ biệt lập này đã hoạt động thật là hữu hiệu. Họ đã áp dụng chiến thuật phản du kích, để tiêu diệt phần lớn lực lượng du kích của địch, làm cho chúng không còn hoạt động được nữa.

Để chống lại chiến thuật “Biệt Động” thần diệu này, vào khoảng đầu năm 1965, VC đành phải sát nhập các đơn
vị du kích còn lại vào lực lượng địa phương của chúng, tạo thành những đại đội, tiểu đoàn và trung đoàn, để mong dùng số đông dành lại phần nào những mất mát trước đây. Biết được âm mưu này của bọn VC, Bộ Tổng Tham Mưu của QLVNCH cũng đã nghiên cứu và quyết định gom những đại đội BĐQ biệt lập lại để tổ chức thành các Tiểu Đoàn, Liên Đoàn BĐQ, để đáp ứng lại với nhu cầu gia tăng của chiến trường.

Vào khoảng tháng 2 năm 1966, bốn đại đội BĐQ biệt lập sau đây đã được gom lại để thành lập Tiểu
Đoàn 42 Biệt Động Quân (KBC 4533):

ĐĐ362/BL,được đổi tên thành Đại Đội 1/42,do Thiếu úy Vương Văn Trổ (K.10 TĐ) làm Đại Đội Trưởng.

ĐĐ 315/BL, được đổi tên là Đại Đội 2/42, do Thiếu úy Nguyễn Tấn Giai (K.2 NT) làm Đại Đội Trưởng.

ĐĐ 368/BL, được đổi tên là Đại Đội 3/42, do Thiếu úy Hồ Viết Lượng (K.10 TĐ) làm Đại Đội Trưởng.

ĐĐ 370/BL được đổi tên là Đại Đội 4/42, do Thiếu úy Nguyễn Văn Út (K.18 VBĐL), sau là Thiếu úy Nguyễn Văn Huy (K.16 VBĐL) làm Đại Đội Trưởng.

Khi đã thành lập xong, bắt đầu đi hành quân chung, thì Đại úy Nguyễn Văn Biết (Biết "ống vố") được chỉ định làm Tiểu Đoàn Trưởng.

Trên giấy tờ, thì TĐ 42 có 4 đại đội, nhưng trên thực tế, tiểu đoàn chỉ gom lại được có 3 đại đội mà thôi, còn đại đội 370 BĐQ Biệt lập (tức đại đội 4/42) vẫn còn ... biệt lập.

Đ4/42 do Thiếu úy Nguyễn Văn Huy (Huy lé) vẫn còn đang hành quân bảo vệ an ninh và là chủ lực của quận Thới Bình, thuộc tỉnh Cà Mau. Đại đội đang đóng đồn và khai quang, công tác còn dở dang nên chưa có thể về hành quân cùng TĐ được.

Trang bị ban đầu của các TĐ/BĐQcũng như các TĐ/BB khác, chỉ có thêm một loại súng Shotgun, bắn đạn chài.

Còn Quân phục thì BĐQ cũng vẫn mặc quân phục Bộ Binh màu xanh olive, chỉ khác bên vai trái có mang phù hiệu cọp đen và đội Mũ Nâu mà thôi.

Tiểu đoàn 42/BĐQ trong thời gian đầu, được tăng phái cho Sư Đoàn 21 Bộ Binh, đã tham dự hầu hết các cuộc hành quân Dân Chí của Sư đoàn này tổ chức, tại các đia danh thuộc Khu 42/CT như sau:

Kinh Thác Lác, Phụng Hiệp, Búng Tàu v...v... (thuộc tỉnh Cần Thơ).

Đầm Dơi, Thới Bình, Khai Quang, Biện Nhị. Năm Căn, Bờ Đập v...v... (thuộc tỉnh Cà Mau).

Rạch Sỏi, Đầm Răng, Đầm Rầy, Cán Gáo v...v... (thuộc tỉnh Rạch Giá).

Hỏa Lựu, Hưng Long, Long Mỹ, Ngọc Hòa v...v... (thuộc tỉnh Chương Thiện).

Qua các cuộc hành quân này, TĐ42/BĐQ đã chạm địch liên miên, giáng cho chúng những đòn chí tử, gây tổn thất nặng nề cho các đơn vị địa phương cũng như chủ lực của VC. Bọn nón cối bị đòn đau, sợ quá, bèn tìm hiểu điều tra cặn kẽ, xem ai đã đánh chúng những đòn tơi bời hoa lá như vậy? Sau khi biết rõ kẻ địch là Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, với quân số chỉ có 3 đại đội, mang huy hiệu “Cọp Đen” trên vai áo, bọn VC đã kính nể, đã kinh sợ mà đặt tên cho tiểu đoàn 42 là: "Cọp Ba Đầu Rằn).

Sau một thời gian hành quân lùng và diệt địch, tiểu đoàn 42 BĐQ được nghỉ dưỡng quân. Vì mới thành lập, chưa có hậu cứ, nên TĐ phải dưỡng quân bằng cách ... đóng quân dọc theo quốc lộ, tỉnh lộ, hoặc trong nhà của dân.

Trong thời gian đơn vị dưỡng quân tại xã Hoà Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu. Một buổi sáng, Đại úy Nguyễn Văn Biết, Tiểu đoàn trưởng, đi ngang qua vị trí đóng quân của ĐĐ2/42, do Thiếu úy Nguyễn Tấn Giai làm ĐĐT, ông thấy một số binh sĩ của đại đội này đang tụ họp để trang trí những cái nón sắt của họ bằng cách vẽ hình đầu cọp đen của binh chủng ở đằng trước và sơn rằn ri trên phần còn lại nón sắt bằng các màu đỏ, trắng, vàng, xanh v...v... trông rất "ngầu".

Đại Úy Biết thấy cũng ... hay hay, nên đã ra lệnh cho tất cả Tiểu đoàn đều sơn và vẽ trên nón sắt giống như ĐĐ2 vậy.

Kể từ đó, mỗi khi tiểu đoàn đi hành quân, nhất là về ban đêm, cái nón sắt mầu trắng, đen, nâu, đỏ của tiểu đoàn 42 BĐQ hiện ra chập chờn như những bóng ma về đòi mạng bọn Việt Cộng, làm cho bọn chúng nổi da gà ớn lạnh sương sống, mất hết cả tinh thần chiến đấu. Vì thế, các đơn vị địa phương và chủ lực như Trung Đoàn 18B của bọn VC đã bị những thiệt hại nặng nề khi giao tranh với những “Thần Chết” ở tiểu đoàn 42 Biệt Động Quân, trong những vùng chiến trận chung quanh Cần Thơ, Sóc Trăng ...v...v.

Rồi tới các cuộc hành quân Dân Chí, tiểu đoàn 42 BĐQ ít khi đụng độ với các đơn vị của VC, mặc dù tin tình báo đã xác nhận sự có mặt của bọn chúng. Sau này chúng tôi mới vỡ lẽ, khi dân chúng trong vùng hành quân cho biết, bọn cán bộ VC cao cấp đã chỉ thị cho các cấp chỉ huy địa phương:

“Khi gặp Tiểu đoàn "Cọp ba chân đầu rằn" hoặc “Cọp Ba Đầu Rằn”, là phải né, vì kỹ thuật tác chiến của Tiểu đoàn này rất giỏi, tinh thần binh sĩ rất cao, gan dạ, không sợ chết. Chỉ khi nào không tránh né được mới phải đương đầu mà thôi! Nhưng dù có đương đầu, cũng tìm cách rút dù để bảo toàn đơn vị”.

Kể từ đó Tiểu đoàn 42/BĐQ mới có danh hiệu là "Cọp Ba Đầu Rằn” hay “Cọp ba chân đầu rằn".

Tóm lại, tiểu đoàn 42 Biệt Động Quân, khi đi hành quân, chỉ có 3 đại đội và lính đội nón sắt có vẽ đầu cọp và rằn ri chung quanh. Tuy chỉ có 3 đại đội, nhưng tiểu đoàn đã giáng cho chúng những đòn chí tử, nên đám VC sợ quá, mới đặt tên cho tiểu đoàn này là:

“CỌP BA ĐẦU RẰN”

Tiểu đoàn 42 Biệt Động Quân ... thành danh là từ sự sợ hãi của bọn VC như vậy đó!

Cũng vì sự sợ hãi của bọn Việt cộng, trong suốt khoảng thời gian từ 1966 đến 1967, tiểu đoàn đi hành quân rất ít khi đụng địch. Đi hành quân cùng nhau, trong khi các đơn bạn đụng địch đánh nhau bể đầu sứt trán, thì tiểu đoàn 42 từ sáng đến chiều phè cánh nhạn, tìm mãi cũng chẳng có con nhạn Việt Cộng lạc đàn nào mà đánh đấm. Binh lính 42 chỉ mong các lực lượng bạn gọi mình tiếp ứng, để nhẩy vào đánh "ăn ké".

Mỗi khi trực thăng chở quân tới chiến trường, đổ xuống toàn là "Cọp ba đầu rằn", bọn VC hoảng sợ, đâu còn tâm trí đâu mà đánh, chúng tốc hầm cá nhân bỏ chạy tứ tán, trở thành mục tiêu ngon lành cho các phi công trực thăng võ trang, tha hồ mà nhả đạn mà không cần nhắm.

Đầu năm 1967, Tiểu đoàn 42/BĐQ được lệnh của vị Tư lệnh QĐ IV, QK4, lúc đó là Chuẩn Tướng Đặng Văn Quang:

“Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân phải sơn lại nón sắt bình thường như các đơn vị Bộ Binh khác”.

Thời gian này TĐ đã có đủ 4 Đại đội, ĐĐT Đại đội 4 bây giờ là Đại úy Nguyễn Văn Út (Đại úy Út đã hy sinh khi lên làm Tiểu đoàn trưởng TĐ/41/BĐQ).

Khi TĐ42/BĐQ được lệnh tham dự Chiến dịch Dân Chí 42/SĐ21/BB, trong nhiệm vụ hành quân càn quét, tiêu diệt địch như các đơn vị bộ binh khác, tiểu đoàn đã đụng độ với Tiểu đoàn chủ lực cơ động Tây Đô của VC trên bờ kinh Thác Lác, thuộc tỉnh Cần Thơ. Trong trận đụng độ này, TĐ 42 BĐQ đã tiêu diệt gần 2/3 quân số địch và bắt sống một số tù binh của đơn vị này.

Khi thẩm vấn, các tù binh cho biết: Cấp chỉ huy của họ, sau khi nhìn qua ống nhòm, thấy đơn vị trước mặt là bộ binh, nên đã ra lệnh cho bộ đội chuẩn bị giao chiến, không ngờ khi chạm trán mới biết là đã đụng với TĐ 42/BĐQ, vì thấy bên vai trái có dấu hiệu "Cọp Đen".

Tiểu đoàn 42/BĐQ là đơn vị đầu tiên của QLVNCH được huy chương của Tổng Thống Hoa Kỳ “President Unit Citation” và được nhận tới hai lần lận.

Tiểu đoàn có giây biểu chương màu tam hợp (Bảo Quốc).

Trên cờ Tiểu Đoàn, có 6 lần được tuyên dương công trạng trước Quân Đội.

Những Sĩ Quan sau đây đã giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng của Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân “Cọp Ba Đầu Rằn”:

Đại úy Nguyễn Văn Biết.

Đại úy Nguyễn Tấn Giai.

Đại úy Lưu Trọng Kiệt (hy sinh trước Mậu Thân).

Đại úy Chung Thanh Tòng (thời gian Mậu Thân)

Đại úy Lê Thành Long.

Vị Tiểu Đoàn Trưởng cuối cùng của Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân, là:

Cố Thiếu Tá Quách Hồng Quang.

Theo lời kể của Huynh Trưởng Quách Thanh Thủy, anh của TT Quang, tôi xin ghi lại cái chết đau thương của Thiếu Tá Quang như sau:

“Những ngày cuối tháng tư đen năm 75, cũng như nhiều gia-đình khác ở miền Nam Việt-Nam có người thân làm việc trong chánh-quyền Việt-Nam Cộng-Hòa, nhứt là các quân-nhân ở những đơn-vị tác-chiến, gia-đình tôi luôn ngồi đứng không yên. Những tin tức đau thương cứ dồn-dập đưa về từ các vùng chiến càng lúc càng bi-thãm hơn mà người thân của mình ở trong đó thì vẫn biền-biệt, không có cách nào để liên-lạc thăm hỏi.

Bốn đứa em tôi, mỗi đứa ở một nơi, một ở ngành Trung-Ương Tình-Báo không thấy về, một ở Sư-đoàn 5 Bộ-Binh, một ở Tiểu-đoàn 32 Biệt-Động-Quận và một ở Tiểu-Đoàn 42 Biệt-Động-Quân.

Tiểu-Đoàn 42/BĐQ trong cuộc triệt-thoái Tây-Nguyên của Tướng Phú, một tuần lễ sau trực thăng mới tìm được Bộ Chỉ-Huy còn đang lội bộ trong vùng rừng núi Phú-Yên, tất cả đều mang thương-tích đầy mình. Tiểu-Đoàn được đưa về căn-cứ Long-Bình ở Biên-Hòa để tái trang-bị và tiếp tục chiến đấu (hậu cứ của tiểu đoàn vẫn còn đóng ở cầu Rạch Ngỗng, Cần-Thơ).

Chiều ngày 30/4/75, hai đứa em tôi, một ở TƯTB và một ở TĐ.32/BĐQ về tới nhà, trưa ngày 01/5/75 thì đứa ở SĐ.5/BB cũng về tới nhà, gia-đình chỉ còn lo cho Quách-Hồng-Quang và trông đứng, trông ngồi. Má tôi không ngớt cầu-nguyện Trời Phật thì xế chiều hôm đó Quang về tới nhà, trong mình vẫn cò mặc chiếc áo thun xanh, quần treillis rằn và đôi giày trận. Gia-đình tôi hết sức vui mừng, mấy anh em chúng tôi được an-toàn sau một cuộc chiến vô-cùng bi-thương và tàn-khốc.

Gia-đình chúng tôi xúm-xích, hỏi tin nhau trong nổi vừa vui-mừng vừa lo-âu cho những ngày sắp tới. Mặc dầu có lịnh đầu hàng của Tổng-Thống, nhưng Tiểu-đoàn 42 BĐQ vẫn tiếp-tục chiến đấu như nhiều đơn-vị bạn khác. Cho đến trưa ngày 01 tháng 5/75, khi không còn đạn dược và áp-lực địch càng lúc càng nặng-nề, thấy không còn cách nào duy-trì được nữa, để bảo tồn sinh mạng anh em, Cọp Rằn đành phải tản hàng thoát hiễm.

Sau khi binh-sĩ tản hàng, Quang và một số sĩ-quan còn lại rời khỏi vị-trí trên một chiếc xe Jeep chạy thẳng về Saigon trên xa-lộ Biên-Hòa. Trên lộ-trình nầy, nhiều đơn-vị Nhảy-Dù vẫn còn đang chiến-đãu với Cộng-Quân. Xe Jeep vượt qua nhiều bức tường lửa, đến ngã ba Hàng Xanh thì đột nhiên có hai chiếc xe thiết-giáp của Cộng-Quân xuất-hiện đuổi theo. Chạy tới cầu Phan-Thanh-Giản thì xe Jeep bị trúng đạn và bốc cháy, mọi người rời xe, cởi áo, thoát vào xóm.

Tiểu-Đoàn 42/BĐQ Cọp Ba Đầu Rằn kể từ đây hoàn toàn bị xóa tên theo những đau-thương của vận nước !
************************************************
Luồn-lỏi đi bộ ra tới Saigon, ngang qua công-viên có tượng đài Thủy-Quân Lục-Chiến, Quang kín-đáo nghiêng mình chào kính Trung-Tá Long, mặc sắc-phục cảnh-sát đả tự-sát nằm chết trên thảm cỏ xanh, dưới chân tượng-đài, trước Quốc-Hội VNCH.

Trong lòng tràn-ngập những nỗi-niềm phẫn-uất, không vội về nhà, Quang đón xe Honda ôm trước chợ Saigon chạy về trường đua Phú-Thọ, nơi đặt Bản-Doanh Hành-Quân của Binh-Chũng BĐQ, đến đây hy-vọng sẽ gặp lại anh em và tiếp-tục chiến-đãu. Nhưng niềm hy-vọng cuối cùng nầy bị gãy đỗ: Phú-Thọ lặng-lẽ tiêu điều, nhìn vào bên trong thấy vắng hoe, không một bóng người, bên ngoài thì nhiều xác chết lính BĐQ nằm vương-vãi trong bầu không-khí đầy uất-hận và tanh-tưởi mùi máu của một cuộc chiến vừa tàn.

Quang trở ra bến xe đò chợ Bình-Tây (Chợ Lớn Mới), với ý định tìm phương-tiện về Miền Tây với Quân-Khu IV, nhưng vô-phương, vì mọi trục-lộ lưu-thông đều bị cô-lập, Quang đành về nhà để chờ tin !

Chiều hôm đó thì bọn Cộng-sản nằm vùng ở lối xóm tìm đến ‘’thăm hỏi’’. Thiếu Tá Quách-Hồng-Quang, Con Chim Đầu Đàn của Tiểu-Đoàn Cọp Rằn Miền Tây đành chịu bó tay thất-thủ, đành mang "Một Nỗi Căm Hờn Trong Cũi Sắt" dưới sự giám-sát sắt máu của bọn người ô-hợp, chân mang dép râu, đầu đội nón tai bèo và họng súng lúc nào cũng lăm-le nhã đạn, cho đến ngày bị tập-trung vào trường Quốc-Gia Sư-Phạm để vĩnh-viễn ra đi vào chôn lao-tù khổ-sai được mệnh danh với mỹ từ ‘’Trại Học Tập Cải-Tạo’’ !!!

Sau mấy tháng bặt tin thì có lịnh cho gia-đình có thân-nhân bị đi học tập cải-tạo, được phép gởi thức ăn, quần áo và thuốc men vào bồi-dưỡng. Quà được gởi đi vài lần, nhưng hồi-âm thì không bao giờ nhận được !

Một đêm nọ, vào khoảng 3 giờ sáng thì có tiếng đập cửa của công-an đòi xét nhà. Mở cửa ra thì thấy một bọn trên mười người, ăn mặc ô-hợp, mang dép râu, đội nón cối,lăm-le tay súng. Họ xông vào nhà, kêu mọi người trong nhà thức dậy, và lục-soát kỹ-lưỡng khắp mọi nơi. Sau một hồi lục-soát, không tìm được gì khả-nghi, một tên trong bọn lung mang súng K.54, lớn giọng trịch-thượng hỏi:

“Tên nguỵ Quách-Hồng-Quang đâu ?”

Cả nhà tôi chưng-hủng và nói:

“Quách-Hồng-Quang đã tuân lịnh
Nhà Nước đi trình-diện học tập cải-tạo rồi, mấy ông hỏi như vậy là sao?”

Hắn nói:

“Tên ngụy Quách-Hồng-Quang đã trốn trại, bộ-đội và nhân-dân đang truy-nã, nếu gia-đình mà cố tình giấu-giếm thì sẽ chịu trách-nhiệm trước nhân dân. Nay tôi nói cho mà biết, phải thật tình khai-báo với công-an là hiện giờ nó trốn ở đâu thì sẽ được khoan-hồng, bằng không thì chớ trách”.

Sau một hồi giảng-thuyết chánh-trị và đọc những qui-định sắt máu nặng-nề, những hâm-dọa cố-hữu, cả bọn rút lui. Hai hôm sau, bọn chúng còn trở lại hỏi gạn hạch phường khóm cùng một số người xung quanh là:

“Có thấy Quách-Hồng-Quang trốn trại trở về hay không?”

Gia-đình chúng tôi lúc đó rất lo âu lẫn vui mừng, vì quả thật có nghe tin hiện có nhiều tổ-chức Phục-Quốc ở nhiều nơi và cũng có nghe tin nhiều sĩ-quan trốn trại theo các tổ-chức nầy.

Nếu Quang thoát được thì là điều đại phúc vì sẽ thoát được những trả thù tàn-bạo trong ngục-tù Cộng-sản và anh em Phục-Quốc có thêm được một chiến-hữu giàu kinh-nghiệm chiến-trường, ngược lại, không biết rồi đây, bọn chúng sẽ có thái-độ gì đối với gia-đình chúng tôi trong những ngày sắp tới.

Sự chờ đợi của gia-đình chúng tôi đã không lâu, vài tuần lễ sau đó, chúng tôi nhận được giấy báo qua đường bưu-điện, yêu cầu chúng tôi đừng gởi quà cho Quách-Hồng-Quang nữa, vì:

“Quách Hồng Quang đã chết trong trại cải tại rồi!”

Cầm tờ giấy báo nầy, gia đình chúng tôi đau buồn khôn xiết, xin được hướng dẫn đến viếng mộ. Sau nhiều lần tới lui, khiếu nại khó-khăn, cuối cùng, chúng bằng lòng cho gia-đình chúng tôi đi viếng mộ.

Thì ra, trại học tập cải tạo nầy là căn-cứ trước đây của Liên-Đoàn 5 Công-Binh Kiến-Tạo VNCH, gọi là Thành Ông Năm, ở Hốc-Môn. Mộ-phần ở ngoài đồng, do anh em tù đấp bằng đất và có gắn một tấm bia bằng nhôm, loại dùng lót phi-trường trực-thăng trước kia.

Anh em dùng đinh đục thành chữ:

“Mộ Phần Thiếu-Tá Quách-Hồng-Quang, chết ngày 28 12 1975 - 26/10 Âm Lịch”.

Bên cạnh đó cò có hai ngô mộ nữa của một ông Trung-Tá Pháo-Binh và một ông Trung-Úy, chết cùng ngày.

Anh em cho biết, ba người cùng vượt ngục vào giữa đêm, nhưng rũi bị phát-giác.

Ông Trung-Tá bị bắn chết khi chui ra được bên ngoài.

Ông Trung-Úy bị bắn chết ở phía sau.

Quách Hồng Quang bị bắn tại vòng rào kẽm gai cuối cùng, nhưng chưa chết, còn nằm tại chổ. Sáng sớm hôm sau, Quang bị bọn VC kéo ra sân cờ xữ bắn trước mặt anh em tù đồng-đội.

Sau nầy, một vài anh em ra khỏi tù, có chứng-kiến buổi xữ bắn ngày hôm đó thuật lại rằng:

“Cuộc vượt ngục của ba người có sự nghiên cứu kỹ-lưỡng, nhưng vào giờ chót đã không thành công. Khi bị kéo vào sân cờ trước sự chứng-kiến của anh em thì Quách-Hồng-Quang tuy bị mất máu quá nhiều nhưng vẫn còn sống.

Tên bộ-đội thét bảo quỳ gối để nghe đọc lệnh xữ, Quang dõng-dạc trả lời:

“Tôi là sĩ-quan Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa, dù sa-cơ nhưng không bao giờ quỳ trước kẽ thù. Bắn đi !”

Một loạt đạn AK chát chúa, kết liễu ngay tức khắc cuộc đời oanh-liệt của một mãnh hổ Miền Tây!”

Quách-Hồng-Quang xuất-thân khóa 14 trường Bộ-Binh Thủ-Đức. Đơn-vị đầu tiên là Tiểu-Đoàn 23 Biệt-Động-Quân ở Vùng II, với cấp bậc Chuẩn-Úy, tham-dự chiến-dịch Đỗ-Xá năm 1963 ngay khi trình-diện đơn-vị.

Sau Tết Mậu-Thân, Quang được thuyên-chuyễn về Liên-Đoàn 3/BĐQ ở Biên-Hòa với cấp-bậc Đại-Úy. Khoảng một năm sau, thuyên-chuyễn về Liên-Đoàn 4/BĐQ ở Miền Tây, khi ở TĐ41, có lúc ở TĐ43 và sau cùng lên Thiếu-Tá, làm TĐT/TĐ42 cho đến ngày mất nước.

Cái chết oanh-liệt trong hỏa-ngục Cộng-sản của Quách-Hồng-Quang là một bi -hùng ca, tuy ngắn gọn nhưng đủ biểu-lộ một khí-phách hiên-ngang của người chiến-sĩ VNCH, lưu lại bao nhiêu tiếc-thương cho gia-đình, cho bằng-hữu. Thể-phách tuy không còn, nhưng tinh-anh chắc-chắn vẫn còn bàng-bạc với hồn-thiêng, sông núi.

Cho đến nay, gia đình chúng tôi vẫn chưa tìm hiểu được hết các tài liệu về cuộc đời của Quách-Hồng-Quang trong quãng đời từ khi bước chân vào ngục tù Cộng-sản năm 75. Nhưng chắc-chắn rằng, cái chết của Quách-Hồng-Quang đã nói lên được tinh-thần bất-khuất của người chiến-sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa, không hổ danh Cọp Rằn Miền Tây, dù bị sa-cơ trong hỏa-ngục của tập-đoàn Cộng-sản Việt-Nam, một tập-đoàn hung-hản và tàn-bạo, vô nhân vào bậc nhất trên thế-giới.

Bài viết nầy, chúng tôi kính tặng Gia-Đình Mũ Nâu ở khắp nơi trên thế-giới để ghi lại một kỷ-niệm bi-hùng, một hào-khí ngất trời của những người chiến-sĩ mang lý-tưởng tự-do:

Người Lính Việt-Nam Cộng-Hòa Australia,
ngày 16 tháng 10 năm 2002.

Lính Công-Binh Quách Thanh-Thủy


TỐNG LÊ CHÂN - Trần Ðỗ Cẩm

TỐNG LÊ CHÂN, TIỀN ÐỒN QUÁ XA

Trần Ðỗ Cẩm
Email: camtran11@yahoo.com

Trong lịch sử chiến tranh cận đại, có nhiều trận đánh lớn quân số đôi bên lên tới nhiều sư đoàn, hoặc với tầm mức quan trọng "dứt điểm" như trận Normandie, Stalingrad, Okinawa, Iwo Jima v.v... Trong cuộc chiến tranh vừa qua tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe nói tới những trận đụng độ ác liệt như trận Hạ Lào, An Lộc, Quảng Trị, Pleiku v.v... So với những cuộc hành quân nổi tiếng kể trên, trận đánh tại Tống Lê Chân giữa một Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân QLVNCH và quân Cộng Sản không những chỉ nhỏ bé về tầm vóc mà còn cả về mức độ quan trọng.

Trại Tống Lê Chân chẳng qua chỉ là một tiền đồn hẻo lánh gần biên giới Việt - Miên thuộc Vùng III Chiến Thuật có nhiệm vụ phát hiện sự xâm nhập của địch quân vào lãnh thổ VNCH. Tuy chỉ là một trận đánh nhỏ lại không mấy quan trọng, nhưng nếu kể về tinh thần chiến đấu can trường và sức chịu đựng phi thường của người lính chiến trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng, các chiến sĩ TÐ 92 BÐQ đã vượt trội và tạo nhiều thành tích có một không hai khiến trận đánh Tống Lê Chân trở thành có tầm vóc lịch sử, khác biệt và đáng chú ý hơn nhiều trận đánh lớn khác. Nhân dịp kỷ niệm ngày QLVNCH 19 tháng 6, chúng tôi tường thuật lại trận đánh oai hùng của TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân qua những tài liệu thâu thập được để tôn vinh các chiến sĩ Cọp Rừng Mũ Nâu. Ðây cũng là dịp tri ân toàn thể QLVNCH đã đổ nhiều xương máu bảo vệ quê hương. Tác giả cũng hy vọng sẽ được tiếp xúc với các chiến sĩ đã có mặt hoặc liên quan đến trận Tống Lê Chân để có dịp sửa đổi và bổ túc thêm chi tiết giúp bài viết thêm chính xác.
    Bối cảnh lịch sử
Trận đánh tại tiền đồn Tống Lê Chân trở nên sôi động vào một thời điểm hết sức đặc biệt, đó là lúc hiệp định ngưng bắn Paris vừa được ký kết vào đầu năm 1973, trên nguyên tắc chấm dứt cuộc chiến tranh giữa hai phe Quốc - Công tại Việt Nam. Nhưng đó chỉ là lý thuyết. Trên thực tế, đây lại là trái hỏa mù để quân đội Hoa Kỳ nương theo đó mà giải kết "rút quân trong danh dự" nếu nói theo kiểu cặp bài trùng Kissinger & Nixon và để Bắc Việt mặc sức tung hoành xua quân đánh chiếm Miền Nam. Hoa Kỳ thỏa thuận rút quân trong vòng 60 ngày, trong khi bộ đội Bắc Việt được tự do ở lại và thao túng tại miền Nam vô thời hạn. Như vậy, người bạn đồng minh đã mở ngỏ cửa và bật đèn xanh, giúp Cộng quân thành công trong việc thôn tính miền Nam. Trong khi đó QLVNCH coi như bị bỏ rơi, bị bó tay nên lâm vào tình trạng kiệt quệ, một mình lại phải đương đầu không những với bộ đội Bắc Việt mà hầu như toàn khối Cộng Sản đang viện trợ những vũ khí tối tân cho quân xâm lăng.

Cộng Sản Bắc Việt đã vi phạm hiệp định ngưng bắn ngay khi vừa ký kết xong còn chưa ráo mực, có thể nói với sự gián tiếp đồng ý cũa người bạn Hoa Kỳ. Trong cuộc họp báo ngày 24 tháng 1 năm 1973, chính Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger, người đã cùng tên đồ tể Lê Ðức Thọ của CS Bắc Việt ký "hòa ước" bức tử Miền Nam, đã không một chút ngượng ngùng khi tuyên bố:"Thỏa ước ngưng bắn không có điều khoản nào cho phép quân đội Bắc Việt có mặt tại Miền Nam. Bắc Việt cũng không đòi hỏi, nhưng chúng tôi ước lượng hiện có chừng 145,000 quân Bắc Việt đang tham chiến tại Miền Nam Việt Nam". Rõ ràng, Hoa Kỳ đã nhập nhằng ký kết hiệp ước bán đứng VNCH với mục đích duy nhất đóng của rút cầu, bỏ rơi Miền Nam khi không buộc CS Bắc Việt cũng phải rút quân về Bắc. Thực sự, lúc đó Bắc quân đã có đến 13 sư đoàn quân chính qui tại miền Nam với quân số tổng cộng gần 200,000 người. Ngoài ra, chúng còn có các đại đơn vị pháo binh diện địa và chiến xa yểm trợ cùng các kho quân lương, vũ khí tại Lào và Cam Bốt được coi là an toàn khu. Tại khu vực đường mòn Hồ Chí Minh bên Lào, các xe vận tải của Cộng Quân công khai ồ ạt chở súng ống, đạn được và binh sĩ vào xâm lăng Miền Nam vì không còn bị oanh tạc như trước.

Vì vậy, tình hình sau khi ngưng bắn hoàn toàn bất lợi cho QLVNCH. Các đại đơn vị không thể nào dành được thế chủ động để lùng và diệt địch trên chiến trường vì phải trải quân quá mỏng để trám vào những chỗ trống do quân đội Hoa Kỳ bỏ lại. Trong lúc đó, Cộng quân được tự do bổ xung quân số, tích lũy tiếp vận để tạo áp lực quân sự trên khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
    Tương Quan Lực Lượng
Riêng tại Vùng III Chiến Thuật, ba Sư Ðoàn Cộng Quân là các Công Trường 5, 7 và 9 lợi dụng an toàn khu tại vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt bên Cam Bốt thường vượt biên đánh phá dọc Quốc Lộ 13 từ Lộc Ninh đến Bến Cát nằm về phía Bắc thủ đô Sài Gòn. Khi mạnh, địch tung lực lượng quấy phá; lúc yếu, chúng lại rút qua biên giới dưỡng quân để chờ cơ hội thuận tiện. Phía VNCH chỉ cố gắng phòng thủ trong tư thế thụ động vì không đủ lực lượng mở các cuộc hành quân vượt biên truy kích như trước kia vào năm 1970 khi quân đội Hoa Kỳ còn tham chiến. Ðể đối đần với 3 Sư Ðoàn Cộng quân, QLVNCH trong vùng này chỉ có Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đặt bản doanh tại Lai Khê do Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ làm Tư Lệnh.

Sau nhiều cuộc tấn công thăm dò, vào đầu tháng 4 năm 1973, Công Trường 7 Cộng quân tấn công và tràn ngập căn cứ Chí Linh trên Liên Tỉnh Lộ 13 gần quận lỵ Ðôn Luân vào ngày 10 tháng 4. Ðể mở rộng đường xâm nhập từ ngả Cam Bốt, Cộng Quân cũng uy hiếp các trại Biệt Ðộng Quân Biên Phòng dọc theo biên giới như Bến Sỏi, Thiện Ngôn, Katum, Bù Gia Măp, Tống Lê Chân v.v... Trước áp lực quá mạnh của địch quân, Bộ Chỉ Huy BÐQ Quân Khu III phải lần lượt di tản hầu hết các vị trí chiến lược rất quan trọng dọc theo biên giới ngoại trừ trại Tống Lê Chân. Lý do vì toàn thể Tiểu Ðoàn 92 BÐQ đồn trú tại trại này đều tình nguyện ở lại chiến đấu. Trận đánh dài nhất trong quân sử khởi đầu và trang sử oai hùng nhất của Binh Chủng cũng được Tiểu Ðoàn 92 BÐQ viết từ giờ phút đó.

Tống Lê Chân? Ðịa Danh Xa Lạ Cuộc chiến tranh dai dẳng tại Việt Nam ngoài mức độ khốc liệt, còn tạo ra những địa danh xa lạ. Nếu không có trận Tân Cảnh, Kon Tum, làm gì có những tên Charlie, Delta? Nếu không có trận Hạ Lào chắc cũng chẳng có LoLo, Sophia, BÐQ Bắc, BÐQ Nam v.v... Tống Lê Chân cũng là một tên rất lạ. Dân địa phương người Miên gọi vùng này là Tonlé Tchombe. Tonlé tiếng Miên có nghĩa là sông, hồ, suối hoặc nơi nào có nước. Thí dụ như Biển Hồ có tên Miên là Tonlé Sap. Khi mới thành lập, trại này chưa có tên nên Thiếu tá Ðặng Hưng Long, vị chỉ huy trưỏng đầu tiên phiên âm tiếng Miên Tonlé Tchombe thành tiếng Việt Tống Lê Chân. Sau này, phần đông các quân nhân trong binh chủng BÐQ biên phòng gọi tắt là Tống Lệ để ám chỉ một căn cứ đầy máu và nước mắt, không có một ngày yên vui kể từ khi ra đời.

Tiền đồn Tống Lê Chân nguyên thủy là một trại Dân Sự Chiến Ðấu (DSCÐ) (Civilian Irregular Defense Group gọi tắt là CIDG) do Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ thành lập từ năm 1967 để phát hiện và ngăn chận sự xâm nhập của Cộng quân từ bên kia biên giới. Ðến năm 1970 trong chương trình cải biến Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu thành Biệt Ðộng Quân Biên Phòng, phần đông những binh sĩ của trại Tống Lê Chân thuộc sắc dân ngưởi thượng Stieng đều tình nguyện ở lại để trở thành Tiểu Ðoàn 92 BÐQ Biên Phòng, tổng cộng gồm 292 binh sĩ lúc khởi đầu, chưa kể một số sĩ quan QLVNCH giữ các chức vụ chỉ huy.
    Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu
Vì Tiểu Ðoàn 92 BÐQ thoát thai từ Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu, tưởng cũng nên biết qua về tổ chức đặc biệt ít người biết tới này.

Chương trình DSCÐ được đặt dưới sự quản trị trực tiếp của Toán 5 Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ (5th Special Forces Group) đặt bản doanh tại Nha Trang. Mục tiêu của chương trình là dùng các sắc tộc thiểu số (người Thượng) để thành lập các "trung tâm" (làng, buôn) chiến lược có võ trang tại các vùng rừng núi khiến Việt Cộng không thể xâm nhập và lợi dụng. Việc tổ chức, quản trị và huấn luyện những trung tâm hay "trại" này đều do LLÐB Hoa Kỳ đảm nhận. Thí điểm đầu tiên đuợc thành lập tại Buôn Enao thuộc tỉnh Ðắc Lắc vào năm 1961. Tới năm 1965 đã có khoảng 80 trung tâm được thành lập tại những vùng rừng núi hẻo lánh khó kiểm soát. Mỗi trung tâm là một "pháo đài" có thể tự phòng thủ và có khả năng ngăn chận mọi xâm nhập từ bên ngoài.

Ðến năm 1965, cùng với việc Hoa Kỳ đưa quân ồ ạt vào Việt Nam, chương trình DSCÐ cũng được bành trướng mạnh. Các trung tâm phòng thủ được cải tiến thành những trại lực lượng đặc biệt, trang bị vũ khí tối tân với nhiệm vụ không những chỉ để tự vệ mà còn có khả năng tấn công. Từ đó, các toán viễn thám dò tìm địch quân mang biệt danh Delta, Omega và Sigma ra đời. Nhiệm vụ chính cũa những toán này là xâm nhập sâu vào đất địch để phát hiện địch và thu thập tin tức tình báo.

Tới khoảng cuối năm 1967, toàn lãnh thổ VNCH tổng cộng có khoảng gần 100 trại LLÐB, đa số nằm dọc theo biên giới Lào - Việt và Miên - Việt. Vì địa thế chiến lược rất quan trọng của những trại biên phòng này, Cộng Quân luôn luôn dùng đủ mọi cách để tiêu diệt. Nhiều trận đánh dữ dội đã xảy ra tại các trại như: Lang Vei, Thường Ðức, Khâm Ðức ... tại Vùng I Chiến Thuật; Ðức Cơ, Plei Me, Plei Djereng, Plateau Gi, Ðồng Xoài ... tại Vùng II; Bến Sỏi, Tống Lê Chân, Trảng Sụp, Chí Linh ... tại Vùng III và Cái Cái, Thường Thới, Tịnh Biên ... tại Vùng IV.

Cho tới năm 1970, Hoa Kỳ chuẩn bị rút quân, khởi đầu giai đoạn Việt Nam hóa chiến tranh nên các trại LLÐB cũng lần lượt được chuyển giao cho QLVNCH. Lực Lượng DSCÐ theo kế hoạch được sát nhập vào binh chủng Biệt Ðộng Quân để trở thành những đơn vị BÐQ Biên Phòng. Vì mỗi trại LLÐB thường có vào khoảng từ 300 đến 400 người nên được biến cải thành một Tiểu Ðoàn BÐQ Biên Phòng. Trong khoảng thời gian từ ngày 27 tháng 8 năm 1970 cho đến 15 tháng 1 năm 1971, tổng cộng có tất cả 49 trại LLÐB được biến cải thành các TÐ BÐQ Biên Phòng. Nếu tính theo từng Vùng Chiến Thuật, con số này được phân chia như sau:
    - Vùng I: có 11 trại.
    - Vùng I I: có 15 trại.
    - Vùng III: có 12 trại.
    - Vùng IV: có 11 trại.
Tuy trước đây có chừng 100 trại LLÐB, nhưng chỉ chuyển giao có 49 trại vì có một số trại bị đóng cửa, quân số được bổ xung cho những đơn vị còn lại. Sau khi được chuyển giao, những dân sự chiến đấu trong các trại LLÐB không còn là dân sự do Hoa Kỳ tuyển mộ, mà chính thức trở thành quân nhân trong QLVNCH.

Trại Tống Lê Chân thuộc Vùng III Chiến Thuật được thành lập vào đầu năm 1967 cùng với trại Prek Klok tại vùng Chiến Khu C của Việt Cộng. Vì chận ngay yết hầu nên ngay từ khi thành lập, các trại này đã bị địch quân đe dọa thường xuyên. Trong hệ thống LLÐB, trại Tống Lê Chân mang ám danh A-334 và được biến cải thành trại BÐQ Biên Phòng vào ngày 30 tháng 11 năm 1970. Toàn thể quân số trong trại lúc đó có 318 người (gồm 292 người nguyên thuộc DSCÐ và các sĩ quan cùng Hạ Sĩ Quan QLVNCH mới được bổ nhiệm tới để chỉ huy) trở thành TÐ 92 BÐQ Biên Phòng thuộc hệ thống chỉ huy của BÐQ/QLVNCH.
    Tiền Ðồn Cô Ðơn
Trại Tống Lê Chân trấn giữ một địa điểm quan yếu, chận ngay đường vào khu Tam Giác Sắt và án ngữ vùng Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu thuộc Cam Bốt. Ðây là những an toàn khu và cũng là đại bản doanh Cục R của Việt Cộng như hai mũi dao nhọn chĩa vào cạnh sườn Quân Khu III. Trong các trận hành quân vượt biên của Quân Ðoàn III do Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí chỉ huy vào năm 1970, trại Tống Lê Chân đã đóng một vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phát hiện và diệt địch. Căn cứ được thiết lập trên một ngọn đồi cao chừng 50 thước, trông xuống hai con suối nhỏ dân địa phương gọi là Takon và Neron. Ðây là những lạch nước khởi nguồn của sông Sài Gòn chảy qua Dầu Tiếng, Bến Súc, Phú Cường v.v.... Tống Lê Chân, như trên đã nói là một trong chuỗi trại Dân Sự Chiến Ðấu do LLÐB thiết lập dọc theo biên giới Miên - Việt thuộc lãnh thổ Quân Khu III.

Về vị trí, trại Tống Lê Chân nằm trong vùng ranh giới của hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long, cách An Lộc chừng 15 cây số về hướng Tây Nam và mũi nhọn của chiếc Mỏ Vẹt chứng 13 cây số về hướng Ðông Nam. Dưới chân căn cứ là con đường 246 nối liền Chiến Khu C và Chiến Khu D của Việt Cộng. Ðây cũng là trục giao liên Nam - Bắc huyết mạch nối liền bản doanh của Cục R bên Cam Bốt và vùng Dầu Tiếng với Khu Tam Giác Sắt của Cộng Quân.

Với vị trí chiến lược vô cùng quan trọng có thể kiểm soát được các trục giao liên Nam - Bắc và Ðông - Tây của Cộng Quân tại vùng biên giới, lại trấn giữ sườn Tây cho thị trấn An Lộc, Tống Lê Chân như chiếc gai nhọn cần phải nhổ bằng mọi giá trên sa bàn trận liệt của địch. Vào mùa hè năm 1972, cùng với các trận cường tập có pháo binh và chiến xa nặng của Công quân vào vùng Lộc Ninh, Chơn Thành và An Lộc, các căn cứ biên phòng lân cận Tống Lê Chân như Thiện Ngôn, Katum, Bù Gia Mập đã phải di tản. Tống Lê Chân chơ vơ còn lại như một hải đảo cô đơn giữa biển người Cộng Quân trùng điệp.
    Tứ Bề Thọ Ðịch
Nhằm mục đích mở rộng đường giao liên cũng như giữ bí mật các cuộc chuyển quân xâm nhập từ biên giới Miên - Việt vào lãnh thổ Quân Khu III, ngày 10 tháng 5 năm 1972, Cộng quân dồn lực lượng đánh biển người vào căn cứ Tống Lê Chân quyết nhổ cái gai trước mắt. Quyết san bằng căn cứ, địch quân dùng đại pháo 130 ly cùng với đủ loại súng cối, sơn pháo bắn phủ đầu như mưa vào căn cứ theo đúng chiến thuật lấy thịt đè người "tiền pháo hậu xung". Trận pháo kích khốc liệt này chính thức mở đầu cho gần hai năm trời vây hãm. Sau loại pháo vòng cầu, nhiều đợt pháo cấp tập bắn thẳng vào Tống Lê Chân như muốn san bẳng căn cứ nhỏ bé nằm lẻ loi trên ngọn đồi. Trong khi đó, một rừng phòng không từ thượng liên đến cao xạ 37 ly, 57 ly và cả hỏa tiễn tầm nhiệt thuộc sư đoàn Pháo Phòng Không tân lập 377 khoá kín không phận khiến các phi cơ không thể nào tới gần để yểm trợ. Sau những đợt pháo kích dữ dội, Tiểu Ðoàn độc lập 200 của Việt Cộng lãnh nhiệm vụ tấn công vào Tống Lê Chân với sự yểm trợc của các đơn vị bộ binh thuộc hai Công Trường 7 và 9.

Tuy bị bao vây và cô lập, các chiến sĩ Mũ Nâu thiện chiến của TÐ 92 BÐQ đã bình tĩnh bố trí trong các giao thông hào đào sâu trong lòng đất chờ địch ngay khi các quả đạn pháo kích đầu tiên rơi vào căn cứ. Một đơn vị đặc công địch theo sát những trái pháo mở đường đã xâm nhập được vòng đai phòng thủ bên ngoài. Những chiến xa hạng nặng T-54 của Cộng quân yểm trợ cũng nã đạn như mưa rất chính xác khiền tình hình có vẻ nguy kịch. Nhưng quân trú phòngvẫn không nao núng vì rất tin tưởng vào hệ thống bố phòng vững chãi và nhất là bãi mìn dầy đặc bao quanh căn cứ. Dưới sự chỉ huy đầy kinh nghiện của Thiếu Tá TÐT Lê Văn Ngôn, các chiến sĩ BÐQ vẫn chưa khai hỏa. Họ chờ bộ binh chủ lực địch xung phong mới bắt đầu nổ súng. Quả nhiên, khi thấy không bị bắn trả, Cộng quân bắt đầu tràn vào căn cứ vì tưởng quân trú phòng đã bị chết hết hay mất tinh thần vì các đợt pháo kích ác kiệt cũng như vì chiến xa với đại bác 100 ly trực xạ. Ðúng lúc đó, các chiến sĩ Mũ Nâu mới đồng loạt khai hỏa. Từng đợt "biển người" của Cộng quân bị bất ngờ nhưng vì đã tiến tới quá gần không kịp tìm nơi ẩn trú nên bị đốn ngã như rạ. Sau đợt tấn công đầu tiên bị thiệt hại nặng, địch lui ra để pháo binh tiếp tục nã vào căn cứ, sau đó bộ binh lại tấn công. Sau nhiều đợt xung phong vô hiệu quả, cuối cùng Cộng quân phải rút lui, bỏ lại hàng trăm xác chết phơi thây trên hàng rào phòng thủ.

Cũng trong thời gian này, các mặt trận lớn khác tại vùng Hỏa Tuyến, Tây Nguyên, An Lộc ... bùng lên dữ dội với những cuộc đụng độ đẫm máu của một Mùa Hè Ðỏ Lửa, trận đánh tại Tống Lê Chân tuy là một chiến thắng lớn của các chiến sĩ BÐQ nhưng không được nhiều người biết tới. Nhưng từ khi cuộc "thử lửa" ban đầu bị thất bại nặng nề, Cộng quân biết rằng không thể dễ dàng nuốt chửng Tống Lê Chân nên chúng chủ trương dùng chiến thuật tiêu hao, bao vây chặt chẽ và pháo kích thường xuyên với đặc công xâm nhập quấy phá. Chúng tin rằng chiến trường An Lộc lân cận có tầm mức quan trọng hơn và nếu đạt được chiến thắng, Tống Lê Chân không cần phải đánh cũng sẽ tự tan rã. Cuộc bao vây dài nhất trong quân sử bắt đầu ...

Cứ như vậy, tiền đồn Tống Lê Chân bị Cộng quân vây chặt. Ðịch pháo kích thường xuyên vào căn cứ, trong khi màng lưới phòng không dầy đặc cắt đứt nguồn tải thương và tiếp vận duy nhất bằng phi cơ. Thoạt tiên, các phi cơ vận tải C-130 của Không Quân Việt Nam đã phải bay rất cao để thả dù tiếp tế khiến nhiều kiện hàng bay lạc ra ngoài, rơi vào tay Cộng quân. Theo lời kể lại của một hồi chánh viên, vào khoảng tháng 6-1973, Cộng quân đã tổ chức một đại đội có nhiệm vụ chuyên đi "lượm dù" để lấy đồ tiếp tế. Vì vậy, đã có dư luận từ các nguồi tin ngoại quốc cho rằng đôi bên đã ngầm thỏa thuận để các vận tải cơ được tự do thả dù mà không bị phòng không bắn lên, miễn là quân trú phòng không bắn vào toán Cộng quân lượm dù bên ngoài. Sau này, khi rút tỉa kinh ngiệm, KQVN đã hoàn chỉnh được kỹ thuật thả dù tiếp tế nên số lượng đồ tiếp vận thất thoát không còn dáng kể.

Riêng các phi cơ trực thăng, phương tiện duy nhất để tản thương hay chở quân tăng viện không thể nào bay lọt lưới phòng không dầy đặc của địch. Nhiều toán trực thăng đã liều lĩnh bay vào Tống Lê Chân chẳng những không đạt được nhiều thành công, lại bị thiệt hại khá nặng. Trong khoảng thời gian từ tháng 10-73 đến cuối tháng 1-74, có khoảng 20 phi vụ trực thăng nhằm tản thương và tiếp tế cho Tống Lê Chân, nhưng chỉ có 6 trực thăng hạ cánh được, trong số này có 3 chiếc bị bắn hư hại trên bãi đáp. Cuối tháng 12-73, một trực thăng Chinook CH-47 cũng bị bắn rơi khi hạ cánh. Ðây là chiếc trực thăng thứ 13 bị trúng đạn phòng không địch chỉ nội trong tháng 12/73. Thiệt hại về phía KQVN gồm 9 chết, 36 bị thương. Tới tháng 1-1974 tức là một năm sau khi ký kết hiệp định ngưng bắn, vẫn còn có 12 chiến sĩ BÐQ bị thương nặng vẫn chưa được tản thương khỏi căn cứ.
    Ngưng Chiến Kiểu Việt Cộng
Tuy căn cứ Tống Lê Chân bị Cộng quân khởi sự tấn công vào tháng 5 năm 1972, nhưng bị vây hãm và tấn công dữ dội nhất vào lúc thỏa ước nhưng bắn được thi hành tại Việt Nam theo khuôn khổ hiệp định Paris. Ðây cũng là một điểm đặc biệt có một không hai trong cuộc chiến tại Việt Nam cũng như trong lịch sử chiến tranh thế giới: môt hiệp ước ngưng bắn bị vi phạm ngay sau khi vừa ký kết! Cộng quân, có lẽ đang cay cú vì thất bại chua cay không chiếm được An Lôc, nay cố chiếm một mảnh đất khỉ ho cò gáy gần biên giới Việt - Miên để có một chỗ cho Cục R ra mắt. Trong lúc toàn thể thế giới thở phài nhẹ nhỏm vì ngòi lửa chiến tranh tại Việt Nam có thể đưa đến hiểm họa chiến tranh giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản không còn nữa, thì tại Tống Lê Chân, TÐ 92 BÐQ vẫn đơn độc ngày ngày hứng pháo và dành dựt với Cộng Quân từng thước đất để sống còn.

Tuy Cộng Quân trắng trợn và công khai vi phạm thỏa ước ngưng bắn, nhưng ngưới bạn đồng minh Hoa Kỳ của VNCH vẫn dửng dưng không hề có một lời phản đối dù lấy lệ, dường như còn say men rượu mừng vì đã tìm thấy "ánh sáng ở cuối đường hầm". Dĩ nhiên họ cũng chẳng có một phản ứng hay hành động tích cực nào thuận lợi cho VNCH. Ngay cả Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến cũng không can thiệp. Vì vậy, trước những vi phạm trắng trợn và lộ liễu của Cộng quân tại Tống Lê Chân, trong phiên họp ngày 17-3-73, trưởng phái đoàn VNCH là tướng Dư Quốc Ðống đã phải đặt vấn đề Tống Lê Chân lên bàn hội nghị với ba giải pháp như sau:

1. Cử một tổ Liên Hợp Quân Sự bốn bên đến Tống Lê Chân để điều tra tại chỗ các sự vi phạm.
2. Nếu phe CS phản đối, sẽ yêu cầu UB Kiểm Soát Ðình Chiến can thiệp.
3. Yêu cầu các đơn vị Cộng quân quanh Tống Lê Chân không được bắn lên phi cơ của UBQT.

Dĩ nhiên đề nghị hợp lý của phái đoàn VNCH bị phe Cộng Sản phản đối vì chính chúng là kẻ vi phạm. Trần Văn Trà, trung tướng trưởng phái đoàn MTGPMN cố ý vắng mặt để tên đạt tá Ðặng Văn Thu thay thế. Tên Thu một mặt vu khống chính VNCH mới là phe vi phạm ngưng bắn, một mặt tự coi là không đủ thẩm quyền quyết định nên yêu cầu mở một cuộc họp khác để bàn về Tống Lê Chân với sự hiện diện của Trần Văn Trà. Về các đề nghị thứ hai và thứ ba của phái đoàn VNCH, phe Cộng sản cũng "nhất trí" phản đối, ngoài ra còn dọa dẫm các thành viên trong UHQT rằng tình hình tại Tống Lê Chân "chưa rõ rệt" nên họ không bảo đảm an ninh cho phái đaòn cũng như phi cơ của Ủy Hội.

Tóm lại, cả phe Cộng sản trong UBLH và UHQT đều đồng thanh tránh né việc điều tra vi phạm ngưng bắn tại Tống Lê Chân, lúc thì chờ chỉ thượng cấp quyết định, khi lại không bảo đảm an ninh.

Ðến ngày 23-3-73 tức là chỉ còn 4 hôm nữa là hết hạn 60 ngày làm việc của UBLH bốn bên, phái đoàn Hoa Kỳ mới yêu cầu chiếu lệ Gia Nã Ðại là chủ tịch UBQT điều tra về vụ Tống Lê Chân. Phía Việt Cộng đưa tên đại tá một mắt Võ Ðông Giang ra thảo luận với đại tá Lomis của Gia Nã Ðại và thỏa thuận cử sĩ quan liên lạc của MTGPMN theo UHQT tới Tống Lê Chân vào ngày 24-3-73. Nhưng đó cũng chỉ là mánh lới tiểu xảo cố hữu của Cộng Sản: tới ngày hẹn, viên sĩ quan liên lạc này đã "trễ trực thăng" nên máy bay của UHQT không đi Tống Lê Chân được!

Như vậy, với sự tráo trở và lọc lừa cố ý của Cộng sản, việc điều tra tại Tống Lê Chân đã không bao giờ được thực hiện. Số phận của Tống Lê Chân đành phó thác cho định mệnh và TÐ 92 BÐQ phải tự chiến đấu một mình để sống còn.
    Vòng Vây Xiết Chặt
Suốt năm 1973 kể từ ngày ngưng bắn, trong lúc Việt Cộng giở thủ đoạn hèn hạ tại bàn hội nghị, Tống Lê Chân bị bao vây chặt chẽ và bị tấn công hàng chục lần nhưng vị trí vẫn đứng vững như một khúc xương khó nuốt. Nhả ra không được vì bị Tống Lê Chân chận nghẹn ngay yết hầu, nuốt vào thì không xong vì các chiến sĩ Mũ Nâu rất kiên cường không chịu nhượng bộ một tấc đất, Cộng Quân chỉ còn cách bao vây "nội bất xuất, ngoại bất nhập". Tuy phòng không địch dầy đặc bao quanh căn cứ nhưng phi cơ VNCH đôi khi vẫn liều lĩnh bay lọt qua màng lưới của tử thần để tản thương và tiếp tế. Việc tiếp tế cho Tống Lê Chân bằng dù khá hiệu quả, nhưng vì chu vi phòng thủ quá hẹp nên có một số đồ tiếp liệu bị lọt vào tay địch.

Qua năm 1974, trong khi các phái đoàn "Kiểm Soát" tranh luận dằng co, tình hình tại Tống Lê Chân ngày càng nguy ngập sau cả năm trời bị bao vây. Thời gian càng trôi qua, phần bất lợi càng nghiêng về phía quân trú phòng. Bị cả sư doàn địch quân phong tỏa chặt chẽ và bị tấn công thường xuyên, quân số BÐQ ngày càng hao hụt không được bổ xung. Lúc này, TÐ 92 BÐQ chỉ còn lại 255 người, trong số đó có nhiều thương binh. Việc tiếp tế lại không được đầy đủ vì phi cơ thả dù bị phòng không chận bắn. Về mặt tinh thần cũng sa sút phần nào vì bị vây hãm quá lâu ngày và áp lực liên miên. Tuy vậy, Tống Lê Chân vẫn còn đứng vững như một biểu tượng hùng hồn cho lòng quả cảm và sức chiến đấu kiên cường của các chiến sĩ BÐQ.

Nhưng để giữ vững Tống Lê Chân, QLVNCH tính ra đã phải trả một giá quá đắt: sự thiệt hại về nhân mạng mỗi ngày một cao, việc dùng phi cơ để yểm trợ và thả dù tiếp tế đã trở thành một gánh quá nặng cho KQVN lúc đó phương tiện không còn được dồi dào như lúc Hoa Kỳ còn tham chiến. Hơn nữa, tuy Tống Lê Chân chiếm giữ một vị trí khá qun trọng nhưng vẫn chỉ là một tiền đồn nên giá trị quân sự không thể so sánh với các căn cứ chính cần phải bảo vệ khác, do đó không nhất thiết phải giữ bằng mọi giá. Vì không thể chia bớt lực lượng để yểm trợ Tống Lê Chân, đã đến lúc BTL/QÐ III phải có một quyết định dứt khoát để giải quyết vấn đề Tống Lê Chân để chấm dứt tình trạng bất lợi.

Do đó, vào ngày 23-3-73, tướng Phạm Quốc Thuần, Tư Lệnh QÐ III đề nghị với Bộ TTM/QLVNCH chọn một trongba giải pháp sau đây:

1. Mở một cuộc hành quân cấp sư đoàn từ An Lộc để giải tỏa áp lực, tăng cường, thay thế hay di tản TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân.
2. Cho phép thương lượng với Cộng quân, giao Tống Lê Chân cho chúng để đổi lấy sự di tản an toàn của các chiến sĩ Mũ Nâu trú phòng.
3. Cho lệnh TÐ 92 BÐQ được di tản khỏi căn cứ bằng những toán nhỏ để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn.

Về giải pháp một, theo tình hình lúc đó, toàn bộ vùng Lai Khê, An Lộc chỉ có đơn độc một sư đoàn 5 chống giữ, hiện đang phải đương đầu với các Công Trường 5, 7 và 9 của Cộng quân. Vì vậy, ngay cả việc giữ an ninh trục lộ huyết mạch 13 cũng còn khó khăn, chưa đủ quân số, nói chi đến việc mở đường tới tận Tống Lê Chân để tăng viện? Hơn nữa, dù một sư đoàn có thể đảm đương trọng trách tiếp viện, nhưng kiếm đâu ra sư đoàn này trong lúc các đại đơn vị QLVNCH tuy đã phải phân tán rất mỏng nhưng cũng vẫn chưa đủ để trám vào những vùng quan trọng Hoa Kỳ vừa rút quân để lại?

Như vậy, giải pháp 1 coi như không thể thực hiện được. Nhưng nếu giải pháp 1 bất thành vì lý do quân sự thì giải pháp 2 cũng thiếu thực tế vì lý do chính trị. Nếu "bàn giao" Tống Lê Chân cho Cộng quân, hậu quả tai hại về chính trị sẽ không thể lường được. Quân và dân Miền Nam sẽ vô cùng hoang mang. Tổng Thống Thiệu sẽ rất khó ăn khó nói vì mới hô hào "dành dân chiếm đất" trước đây không lâu. Vả lại, nếu giao Tống Lê Chân cho Cộng Quân, việc này có thể sẽ trở thành tiền lệ đưa tới nhiều cuộc bàn giao kiểu Tống Lê Chân khác.

Do đó, tuy đề nghị ba giải pháp, nhưng tướng Thuần biết rỏ chỉ còn một con đường khả trợ duy nhất: đó là cho phép TÐ 92 BÐQ rút khỏi Tống Chân. Nhưng quyết định rút bỏ này không phải là không có hậu quả nghiêm trọng về quân sự cũng như chính trị. Hơn nữa, việc rút quân qua vòng vây trùng điệp của Cộng Quân cũng không phải là điều dễ dàng. Chính vì những lý do này mà BTL/QÐ III phải hội ý trước với Bộ TTM. Rất có thể, ngay Bộ TTM cũng không quyết định được, mà việc rút quân phải do chính Tổng Thống cho phép. T

rong khi chờ đợi quyết định dứt khoát từ trung ương, tình hình tại Tống Lê Chân trở nên hết sức căng thẳng và sôi động từng giờ, từ trầm trọng đến nguy kịch. Bị bao vây cả năm trời, thiếu lương thực, thiếu đạn dược, quân số hao hụt, thương binh ngày càng nhiều không được di tản, bị pháo liên miên, đặc công đánh phá ngày đêm ... khiến TÐ 92 BÐQ ngày càng suy yếu. Tuy nhiên, các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn kiên cường giữ vững căn cứ bằng mọi giá. Và cuộc bao vây dài nhất trong quân sử vẫn tiếp tục.
    Tử Thủ Ðến Cùng
Ðể giảm bớt phần nào áp lực vô cùng nặng nề của khoảng 3 Sư Ðoàn địch quanh Tống Lê Chân, vào ngày 23/7/74, phi cơ của Không Quân VNCH bay trên 30 phi vụ dội bom vào các vị trí Cộng Quân trên trận địa. Nhưng phòng không địch rất dầy đặc nên phi cơ qanh tạc không mấy hiệu quả. Ngoài ra, lực lượng địch quá đông nên chúng vẫn không chịu rút lui để tránh thiệt hại mà ngược lại còn gia tăng cường độ tấn công để sớm thanh toán mục tiêu.

Trong khoảng thời gian liên tiếp 3 ngày từ 22 đến 24/3/74, Cộng Quân dùng đủ loại đại pháo 130 ly, hỏa tiễn 122 ly, súng cối 82 ly v.v... nã hơn 1,000 quả đạn vào tiền đồn Tống Lê Chân nhỏ bé, nơi có khoảng 300 chiến sĩ TÐ 92 BÐQ đang bị vây hãm. Tuy phi cơ được gọi đến oanh kích và thả trái sáng yểm trợ, nhưng hỏa lực phòng không vô cùng dữ dội của Sư Ðoàn Phòng Không 377 địch với các loại hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7, đại bác 57 ly, 37 ly và thượng liên đã đan một màn lưới lửa đầy đặc quanh Tống Lê Chân khiến mọi hoạt động của phi cơ đều vô hìệu. Bên trong trại, các chiến sĩ Mũ Nâu chỉ còn cách co mình chịu pháo. Nhiều công sự phòng thủ cũng như vị trí chiến đấu bị hư hại vì cơn mưa pháo. Tuy nhiên, Trung Tá Lê Văn Ngôn, vị Tiểu Ðoàn Trưỏng, tuy mới có 25 tuổi nhưng dầy dạn kinh nhiệm chiến trường vẫn bình tĩnh đôn đốc và ra lệnh cho binh sĩ trực thuộc chuẩn bị phản công sau mỗi đợt pháo kích. Quả nhiên, liên tiếp trong 2 đêm 21 và 22/3/74, sau khi "tiền pháo", khoảng một trung đoàn bộ binh địch "hậu xung" dữ dội cả bốn phía định san bằng tiền đốn nhỏ bé bị vây hãm đã lâu ngày. Nhưng TÐ 92 BÐQ bắn trả dữ dội, tuy đạn dược khan hiếm nhưng họ tác xạ rất chính xác, đẩy lui nhiều đợt tấn công biển người. Có lúc vì Cộng Quân quá đông, các chiến sĩ Mũ Nâu bắn không xuể nên một số đã lọt vào lớp hàng rào phòng thủ. Nhiều trận cận chiến bằng lựu đạn diễn ra ác liệt. Quân trú phòng được lợi thế vì trú ẩn trong các hầm hố kiên cố nên đã gây thiệt hại nặng cho địch quân. Cuối cùng, trước tinh thần chiến đấu dũng mãnh và can trường của TÐ 92 BÐQ, địch đành ôm hận rút rui để lại nhiều xác đồng bọn và đủ loại vũ khí.

Tuy vẫn giữ vững được vị trí nhưng tình trạng bên trong căn cứ vô cùng bi đát. Thương binh mỗi lúc một nhiều thêm vì không được tản thương. Ðạn dược gần cạn vì các trận đánh liên tục, lương thực thiếu thốn vì không được tiếp tế đã nhiều ngày, ngay cả đên nước uống cũng khan hiếm. Hơn nữa, sau mỗi đợt tấn công bị thất bại, Cộng Quân lại điên cuồng pháo kích dữ dội hơn.

Trước tình thế nguy ngập như chỉ mành treo chuông, Trung Tá Ngôn biết rõ nếu không được tản thương, tăng viện, yểm trợ và tiếp tế hữu hiệu ngay tức khắc, việc giữ Tống Lê Chân hầu như không thể làm nổi. Trong lúc đó, biết được tình trạng cực kỳ bi đát của quân trú phòng, Cộng Quân chung quanh đồn dùng loa phóng thanh uy hiếp tinh thần và kêu gọi TÐ 92 BÐQ đầu hàng. Nhưng Trung Tá Ngôn vẫn không rối trí. Một mặt ông ra lệnh cho các binh sĩ bố phòng chặt chẽ để nhất định đánh tới người cuối cùng. Mặt khác, ông gửi công điện khẩn cấp cho Ðại Tá Nguyễn Thành Chuẩn, CHT Liên Ðoàn 3 BÐQ tại An Lộc yêu cầu thả dù tiếp tế gấp khí giới, đạn dược và lương thực cho quân trú phòng. Trung Tá Ngôn cũng yêu cầu gửi quân tiếp viện và gia tăng sự yểm trợ của phi cơ. Nhưng các phi cơ dù liều lĩnh cũng không thể nào bay qua được hàng rào phòng không và quân tiếp viện cũng chẳng bao giờ tới. Tuy nhiên, dù trong tình trạng tuyệt vọng, các chiến sĩ anh dũng của TÐ 92 BÐQ vẫn nhất quyết không hàng địch. Trung Tá Ngôn còn cho biết nếu bị địch tràn ngập, ông sẽ yêu cầu dội bom phá hủy Tống Lê Chân để cùng chết với địch quân.

Nhận được công điện cầu cứu của TÐ 92 BÐQ, Ðại Tá Chuẩn lập tức chuyển lời yêu cầu tiếp viện lên BTL/QÐ II. Nhưng Tướng Thuần cho biết vẫn chưa nhận được chỉ thị nào của Bộ TTM về đề nghị tăng viện hay di tản căn cứ! Trong lúc Tống Lê Chân như ngọn đèn leo lét trước trận cuồng phong, có thể bị tràn ngập bất cứ lúc nào, nhưng lệnh trên vẫn là "chờ"!

Cho tới giờ phút này, quân số tại Tống Lê Chân gồm có 254 BÐQ, 4 binh sĩ Pháo Binh, 12 lao công chiến trường và 7 nhân viên phi hành đoàn trực thăng bị bắn rơi. Tuy tổng cộng gần 300 nhân mạng nhưng thật sự hầu hết trong số này đã bị thương ít nhất một lần. Hơn nữa, bị vây hãm lâu ngày trong tình trạng thiếu thốn nên khả năng chiến đấu đã bị yếu đi rất nhiều.

Về phía Cộng Quân, tuy đã bị thiệt hại rất nặng nhưng lại được tăng viện và bổ xung nhanh chóng từ các an toàn khu bên Cam Bốt nên sức mạnh coi như không suy giảm. Trong lúc chỉnh đốn hàng ngũ, địch ngơi tấn công nhưng vẫn pháo kích dữ dội. Rút kinh nghiệm những trận tấn công trước đã bị thất bại chua cay, Cộng quân biết tuy TÐ 92 BÐQ sẽ chiến đấu cho đến phút chót nhưng như cá nằm trong rọ nên chúng thong thả nghỉ ngơi dưỡng quân, cố ý để quân trú phòng kiệt quệ tới mức tối đa mới tấn công dứt điểm để đỡ bị thiệt hại. Và chuyện phải đến đã đến!
    Những Ðợt Cường Tập Liên Tiếp
Ròng rã trong các đêm 24, 25 và 26/3/74, Cộng quân sau khi bổ xung đầy đủ đã lìên tiếp mở những đợt xung phong biển người ồ ạt quyết san bằng Tống Lê Chân. Tuy đã gần kiệt sức, các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn cắn răng chờ địch trong những giao thông hào đổ nát vì đạn pháo kích. Trung tá Ngôn và các cấp chỉ huy cũng sát cánh trong các công sự phòng thủ với thuộc cấp, ra lệnh phải tiết kiệm từng viên đạn, chỉ được bắn khi thật "chắc ăn". Giá của mỗi viên đạn phải là một quân thù. Rồi hàng hàng lớp lớp Cộng Quân tràn tới giữa tiếng hò la man đại "hàng sống, chống chết"! Ðúng lúc này, các chiến sĩ BÐQ mới cắn răng xiết chặt cò súng. Ðịch đã xâm nhập hàng rào kẽm gai phòng thủ ngoài cùng, nhưng lập tức bị khựng lại vì gắp phải bức tường lửa từ trong bắn ra rất chính xác. Xác địch chồng chất trên trận địa hay vất vưởng trên hàng rào kẽm gai. Nhưng địch quá đông, nhất định "dứt điểm" nên chúng vẫn liều lĩnh xung phong. Chẳng bao lâu, chúng tràn tới hàng rào thứ hai. Lúc này một loạt mìn "Claymore" nổ tung khiến nhiều xác giặc tan thành mảnh vụn. Tiếng súng nổ, tiếng la hét cùng với mùi thịt, mùi máu, mùi thuốc súng tạo nên một khung cảnh khủng khiếp. Nhiều chiến sĩ BÐQ quá mệt mỏi và căng thẳng gần như ngất xỉu vì những trận tấn công liên tiếp đêm này qua đêm khác nhưng vẫn không rời tay súng.

Ðịch quân quá đông, lớp này chết, lớp khác đạp lên xác đồng bạn tiến tới. Trong đêm tối, phi cơ không thể yểm trợ hỏa lực; dù có ban ngày đi nữa cũng khó bay qua màng lưới phòng không. Trên bầu trời đen kịt, chỉ có vài đóm hỏa châu do phi cơ bay thật cao thả xuống, không đủ soi sánh trận địa, trông leo lét và mong manh như số phận của gần 300 chiến sĩ đang tử chiến với quân thù. Ðịch đã tràn gần tới hàng rào phòng thủ sau cùng, đôi bên giáp mặt. Các chiến sĩ Mũ Nâu buông những cây súng đỏ nòng, với tay tìm lựu đạn. Nhiều tiếng nổ chát chúa giúp hàng loạt những con thiêu thân thực hiện lời thề "sinh Bắc tử Nam". Lại một loạt lựu đạn thứ hai tung ra giết hết những tên địch còn sống sót trong đợt xung phong này. Bên ngoài hàng rào, không còn những bóng người đầu đội nón cối, chân đi dép râu di động như trước. Sau đó, mặt trận bỗng nhiên im bặt không còn những tiếng la hét hô xung phong man dại. Những tên địch ngoài xa may mắn còn sống sót biết không thể xâm nhập căn cứ nên vội vã lẩn vào bóng đêm. Ðợt xung phong cuối cùng của địch đã bị chận đứng tuy chúng đã lọt được gần tới hàng rào phòng thủ sau cùng.

Một lần nữa, Cộng Quân tuy đông hơn nhưng lại bị thất bại chua cay trước sự quả cảm và tinh thần chiến đấu gan dạ vô song của các chiến sĩ TÐ 92 BÐQ. Cùng với lời nguyền "Thà chết không hàng giặc", căn cứ Tống Lê Chân tuy tan nát như TÐ 92 đang tan nát, nhưng vẫn đứng vững như một phép lạ. Vỏn vẹn một Tiểu Ðoàn QLVNCH vẫn giữ vững được vị trí sau khi bị bao vây hàng năm trời với nhiều đột tấn công của hàng Sư Ðoàn địch? Các "cố vấn" Hoa Kỳ còn sót lại tại BTL/QÐ III đã vô cùng kinh ngạc. Trước đây họ đã cho rằng số phận của Tống Lê Chân coi như đã "xong", vì theo ước tính của những người lạc quan nhất, ngay cả quân đội Hoa Kỳ với hỏa lực khủng khiếp của thảm bom "Arc Light" B-52 và đại pháo 175 cũng khó lòng giữ nổi Tống Lê Chân trong vòng vài ba tuần. Phía Công quân lại càng sững sờ vì chúng tưởng sẽ ăn tươi miếng mồi béo bở nhưng lại gặp phải cục xương khó nuốt. Sau nhiều cuộc tấn công thất bại và bị thiệt hại nặng nề, chúng đành ôm hận, lập lại sa bàn trận địa, bổ sung quân số, rút ưu khuyết điểm chờ ngày rửa hận.

Trong những ngày kế tiếp và suốt tuần lễ đầu tiên của tháng 4/74,Cộng Quân không giám tấn công mạnh vào Tống Lê Chân. Chúng chỉ dùng đặc công quấy rối nhưng mức độ pháo kích vẫn không giảm. Nhưng "mãnh hổ nan địch quần hồ", các chiến sĩ Mũ Nâu đã không còn sức chiến đấu. Ðến lúc này, thượng cấp vẫn chưa có quyết định dứt khoát về việc tăng viện hay rút bỏ Tống Lê Chân. Cả Phủ Tổng Thống, Bộ TTM lẫn BTL/QÐ III đều lâm vào thế "tiến thối lưỡng nan" không có cách nào giải quyết vấn đề. Sau 17 tháng trời ròng rã bị vây hãm, pháo kích và tấn công liên miên TÐ 92 BÐQ hầu như không còn phương cách nào để thoát khỏi viễn ảnh bị tiêu diệt.
    Trận Ðánh Sau Cùng Của TÐ 92 BÐQ
Nhưng tình trạng tạm thời sống lây lất không còn kéo dài được bao lâu. Tống Lê Chân như một con cá phơi mình trên thớt không còn phương cách tự vệ, nằm chờ lưỡi dao chém xuống. Và lưỡi dao đã rơi ...

Ngày 11/4/74, sau khi tái điều nghiên, bổ xung lực lượng, Cộng quân mở những cuộc tấn công ác liệt quyết đạt được chiến thắng bằng mọi giá. Trong ngày chúng pháo kích mù mịt không dưới 1,000 quả đạn vào căn cứ đã tan nát trong các cuộc tấn công trước. TÐ 92 BÐQ lúc này đã kiệt lực, hết đạn, một số lớn binh sĩ lại bị thương nên không còn sức chống trả những đột tấn công mãnh liệt của đối phương. Nhưng dù tình thế đã đến lúc tuyệt vọng nhưng Trung Tá Ngôn vẫn không ra lệnh rời bỏ căn cứ khi chưa có lệnh của thượng cấp. Trước những loạt đạn pháo kích chính xác và các đợt tấn công biển người, vị TÐT anh hùng biết chắc không thể nào phòng thủ được nữa nên khẩn cấp yêu cầu thượng cấp cho lệnh di tản trước khi căn cứ bị địch quân tràn ngập. Trung Tướng Thuần, Tư Lệnh QD III - không rõ có tham khảo ý kiến của Bộ TTM hay Phủ Tổng Thống hay không - ra lệnh cho Trung Tá Ngôn phải "tử thủ bằng mọi giá"!

Nhưng TÐ 92 BÐQ sau hơn một năm trời bị vây hãm, bị pháo kích và tấn công liên miên bởi một lực lương địch quân đầy đủ vũ khí và đông hơn nhiều lần, lại thiếu đạn dược, lương thực, quân số hao hụt không được bổ xung nên đã chẳng còn giá nào để trả! Các chiến sĩ Mũ Nâu không còn nhiều chọn lựa: ở lại căn cứ chắc chắn sẽ bị chết hay bị bắt hết vì không còn cách nào ngăn chận địch quân hoặc đầu hàng để tìm con đường sống. Nhưng theo truyền thống hào hùng của binh chủng Mũ Nâu, dù trong lúc thập tử nhất sinh cũng vẫn không hàng địch. Trung Tá Ngôn đã đưa ra một quyết định vô cùng táo bạo: dùng toàn lực phá vòng vây, rời bỏ căn cứ, tuy có thể bị chết hết nhưng may ra sẽ đưa đơn vị tới một nơi an toàn.

Sau khi quyết định xong, vào khoảng nửa đêm 11/4, căn cứ Tống Lê Chân báo cáo nguy cơ sắp bị địch quân tràn ngập. Sau đó, mọi giấy tờ, tài liệu quan trọng đã được thiêu hủy đúng theo kế hoạch di tản để không bị lọt vào tay địch. Lúc dó, chỉ có phi cơ bay thật cao thả hỏa châu yểm trợ. TÐ 92 BÐQ yêu cầu phi cơ ngưng thả trái sáng để đơn vị nương theo bóng tối rời bỏ căn cứ. Dưới sự chỉ huy gan dạ của vị TÐTtrẻ tuổi vả tinh thần kỷ luật của toàn thể binh sĩ, TÐ 92 BÐQ đã di tản trong vòng trật tự, mang theo tất cả những thương binh. Liên lạc vô tuyến với BTL/QÐ III bị gián đoạn ngay sau đó.

Mãi tới 9 giờ sáng ngày hôm sau 12/4, BTL/QÐ III mới bắt được liên lạc với TÐ 92 BÐQ trên tần số hành quân lúc đó đã rời khỏi Tống Lê Chân đang trên đường di chuyển về hướng An Lộc, khoảng trên 15 cây số về hướng Ðông Bắc. Cuộc hành trình xuyên qua rừng rậm dưới sự rình rập của Cộng Quân, lại phải mang theo nhiều thương binh nên vô cùng gian nan vất vả. Suốt đêm, Tiểu Ðoàn 92 BÐQ phải kịch chiến với địch, vừa đánh vừa tìm đường rút lui khiến thêm 14 binh sĩ tử thương, 34 người nữa bị thương. Cuối cùng, may mắn như một phép lạ, TÐ 92 BÐQ tới được An Lộc tương đối an toàn, chỉ có thêm 4 chiến sĩ can đảm ở lại chận đường truy kích của địch quân để thành phần chủ lực rút lui anh dũng hy sinh. Tất cả các thương binh, kể cả xác chết của những người bị thiệt mạng đề được mang về.
    Biệt Ðộng Quân: Sát!

Nhìn chung, Tống Lê Chân chỉ là một tiền đồn nơi đèo heo hút gió gần biên giới Việt - Miên không được nhiều người biết đến. TÐ 92 BÐQ lại là một đơn vị tương đối trẻ trung mới được thành lập từ năm 1970. Vị TÐT, Trung Tá Lê Văn Ngôn, con Cọp đầu đàn của TÐ 92 BÐQ cũng là một sĩ quan rất trẻ mới 25 tuổi, xuất thân khóa 21 Võ Bị Ðà Lạt. Trận đánh tại Tống Lê Chân cũng không phải là một cuộc đụng độ lớn. Cuối cùng, Tống Lê Chân lại rơi vào tay địch.

Như vậy, về mặt quân sự, rõ ràng trận đánh tại Tống Lê Chân cũng chỉ "tầm thường" như những trận đánh cùng tầm cỡ khác, kết thúc bằng việc quân trú phòng phải di tản. Tuy nhiên, về phương diện tinh thần chiến đấu và sức chịu đựng phi thường của các chiến sĩ Mũ Nâu, Tống Lê Chân đã vượt xa những trận đánh lớn nhỏ khác trong quân sử với nhiều điểm rất đặc biệt. Ðây là cuộc bao vây lâu dài nhất trong quân sử, một trận dánh trong chiến cuộc Việt Nam mà lực lượng đôi bên chênh lệch nhất và sau cùng, một cuộc lui binh thần tình nhất do một vị TÐT trẻ tuổi nhất, can trường nhất chỉ huy.
    Cuộc Bao Vây Dài Nhất Trong Quân Sử
Kể từ khi trại Tống Lê Chân bị Cộng Quân khởi sự uy hiếp vào năm 1972 cho tới khi TÐ 92 BÐQ phải di tản vào tháng 4 năm 1974, căn cứ đã bị bao vậy ròng rã 17 tháng trời! Vòng vây của địch vô cùng chặt chẽ khiến "Nôi bất xuất, ngoại bất nhập", kể cả đường hàng không. Chẳng những việc gửi quân tăng viện, tản thương và tiếp đạn dược, lương thực v.v... đều bị giới hạn nhỏ giọt mà ngay cả đến cặp lon Trung Tá thăng cấp đặc cách ngoài mặt trận của TÐT Lê Văn Ngôn cũng phải thả dù vào trong trại, không có người gắn lon và việc "rửa lon" truyền thống của nhà binh có lẽ đã được thực hiện bằng máu của Cộng quân. Ðiều này làm chúng ta liên tưởng đến chiếc lon thăng cấp của Ðại Tá De Castries, người hùng cùa đoàn quân viễn chinh Pháp tại Ðiện Biên Phủ vào năm 1954 cũng đã được thả dù vào khu lòng chảo. Nhưng De Castries trước kia đã không quá cô đơn và bị bao vây ngột ngạt như Lê Văn Ngôn tại Tống Lê Chân vì ít ra cũng có một số quân nhẩy dù tăng viện. Ngoài ra, De Castries cò có những "nàng hầu" thân yêu như Béatrice, Éliane, Huguette, Dominique để ... tâm sự. Còn Lê Văn Ngôn và TÐ 92 BÐQ chỉ có độc nhất một quả đồi trơ trụi với vòng cao độ không quá 50 thước trên bản đồ UTM, một vị trí vuông vức mỗi bề không quá 300 thước để sống chết ôm ấp ròng rã gần một năm rưỡi trời! Cuộc bao vây ngặt nghèo tới nỗi vào những ngày tháng chót, cả đến việc thả dù tiếp tế cũng bị gián đoạn, còn nói gì đến việc tản thương hay tiếp viện bằng trực thăng.

Về các cuộc bao vây nổi tiếng khác trong chiến sử, Ðiện Biên trước kia cũng chỉ kéo dài 57 ngày. Ðịa ngục Khe Sanh, niềm tự hào của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ cũng chỉ bị bao vây dăm ba tháng, nhưng với thảm bom dầy đặc đêm ngày của B-52, và lúc nào cũng có ba tầng phi cơ chiến thuật chờ sẵn trên không để dội bom, binh sĩ trú phòng coi như được đi nghỉ mát dưỡng quân theo tiêu chuẩn lính Việt Nam, vì họ không thiếu một thứ gì, kể cả nuớc đá để uống giải khát! Trong kỳ đệ nhị thế chiến, Stalingrad lừng danh cũng chỉ bị quân Ðức bao vây gần ba tháng. Tobruk của người Anh cũng chỉ cần tử thủ hơn 8 tháng. Còn Tống Lê Chân? Suốt 17 tháng truờng ròng rã trong những điều kiện tăng viện và tiếp vận khó khăn nhất. Như vậy, sức chịu đựng của người lính VNCH phải được coi là bền bỉ siêu đẳng vô địch.
    Lực Lượng Chênh Lệch Một Trời Một Vực
Về tương quan lực lượng đôi bên, khi xảy ra trận đánh tại Tống Lê Chân, phía Cộng quân có các Sư Ðoàn 5, 7 và 9 cùng Sư Ðoàn Pháo Phòng Không 377 tân lập, cộng thêm dăm ba Tiểu Ðoàn địa phương và đặc công "lẻ tẻ". Tuy Công Trường 5 đã bị thiệt hại khá nặng trong những cuộc hành quân vượt biên đánh sang vùng Lưỡi câu - Mỏ Vẹt trước đây của QLVNCH, nhưng đã được tăng viện nhanh chóng và thường lẩn quất tại vùng biên giới để uy hiếp các trại BÐQ Biên Phòng. Ngoài ra, Công Trường 7 cùng với Tiểu Ðoàn Pháo 22 và Tiểu Ðoàn Ðặc Công 28, sau khi tràn ngập các căn cứ Chí Linh nẳn trên Liên Tỉnh Lộ 13 giữa Chơn Thành và Ðôn Luân, cũng đè nặng áp lực trên quãng đường bộ từ Lai Khê đến An Lộc Riêng Công Trường 9 của Cộng Quân với 3 Trung Ðoàn còn đầy đủ quân số vừa từ Cam Bốt xâm nhập được dùng làm mũi dùi tiến công chính đánh Tống Lê Chân, sau khi đã buộc các trại BÐQ Biên Phòng khác như Thiện Ngôn, Katum, Bù Gia Mập phải di tản.

Tống Lê Chân là căn cứ biên phòng duy nhất còn lại trong vùng vì tất cả binh sĩ đều tình nguyện ở lại giữ trại. TÐ 92 BÐQ với quân số vỏn vẹn khoảng 300 người, đã bị hàng sư đoàn địch quân thay nhau tấn công và vây hãm hàng năm trời không được tăng viện. Thế mà các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn anh dũng bền gan chiến đấu, nhất định không hàng địch! Ðây quả là một thành tích phi thường ngoài sức tưởng tượng!
    Cuộc Lui Binh Thần Tình
Sau gần một năn rưỡi trời giữa vòng vây trùng điệp, lại bị tấn công liên miên, đương nhiên TÐ 92 BÐQ phải kiệt sức. Cho tới khi tình trạng tuyệt vọng, đơn vị chỉ còn đường rút lui để bảo toàn lực lượng nhưng cũng không quên dùng chất nổ phá hủy doanh trại, không để lọt vào tay Công Quân. Sau đó, tuy bị truy kích, nhưng các con Cọp Rừng Mũ Nâu đã về được tới An Lộc với tổn thất nhẹ không ngờ: trong số 277 binh sĩ gồm nhiều thương binh, một số lớn đã về được An Lộc. Ðây là một thành quả quá sức mong đợi cho một cuộc hành quân lui binh sâu trong lòng địch. Với tài chỉ huy khôn khéo, tinh thần kỷ luật và sức chiến đấu bền bỉ gan dạ, các chiến TÐ 92 BÐQ đã làm nhiều người ngạc nhiên và thán phục khi rút quân thành công trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, bi đát.

uộc lui quân thành công ngoài sức tưởng tượng này đã khiến dư luận phía Hoa Kỳ nghi ngờ rằng TÐ 92 BÐQ đã "thương lượng" với Cộng Quân, bằng lòng bàn giao căn cứ Tống Lê Chân để đổi lấy việc rút lui an toàn. Quả thật, việc TÐ 92 BÐQ phá được vòng vây về được đến An Lộc phải coi như một phép lạ nên "dư luận" thương thuyết không phải là không có lý. Vả lại, đây cũng là một trong ba giải pháp mà BTL/QÐ III đã đề nghị lên thượng cấp cách đó không lâu. Ngoài ra, rất có thể những lời đồn đại nói trên là do Cộng Quân tung ra để đỡ bị mất mặt vì TÐ 92 BÐQ đã vượt khỏi vòng vây như chỗ không người.

hật sự, TÐ 92 BÐQ đã chỉ giết giặc chứ không bao giờ thương lượng với chúng và cuộc rút lui thành công vì tinh thần kỷ luật cũng như khả năng chiến đấu tuyệt vời của các chiến sĩ Mũ Nâu. Bằng cớ xác thực nhất là chính những tài liệu bắt được sau đó tại mặt trận cùng những lời khai của tù hàng binh Cộng Quân đã cho thấy không hề có chuyện "thương lượng". Một hồi chánh viên tham dự trận đánh sau cùng vào đêm 12/4 tại Tống Lê Chân đã thuật lại khá chi tiết về biến cố này. Sau trận pháo kích dữ dội, bộ binh địch có chiến xa yểm trợ đã mở các cuộc tấn công mạnh. TÐ 92 BÐQ không còn đạn dược và nhất là không có vũ khí chống chiến xa nên bắt buộc phải rời bỏ vị trí. Tống Lê Chân bị bỏ ngỏ từ đêm 12/4 nhưng vì hàng rào phòng thủ quá kiên cố, lại có nhiều bãi mìn, hơn nữa Cộng quân sợ TÐ 92 BÐQ còn tử thủ sẽ gây cho chúng nhiều thiệt hại như những lần trước nên mãi tới ngày 13/4 chúng mới vào được trại. Lúc đó, các chiến sĩ Mũ Nâu đã rời xa căn cứ trên đường về An Lộc. Tống Lê Chân đã bị đặt chất nổ phá hủy. Ðịch chỉ tìm thấy xác của 2 BÐQ và bắt sống một người khác.

Một bằng chứng rõ ràng khác là bản báo cáo của Cộng quân bị QLVNCVH tịch thu. Tài liệu này tiết lộ một đơn vị Cộng Quân có nhiệm vụ chặn đường rút lui của TÐ 92 BÐQ đã bất tuân thượng lệnh, không bố trí quân tại những vị trí đã ấn định vì sợ bị phi pháo VNCH tiêu diệt. Cuối cùng, bản báo cáo còn đưa ra nhận xét rằng trong trận đánh tại Tống Lê Chân, tinh thần binh sĩ TÐ 92 BÐQ rất cao, còn cao hơn cả nhiều đơn vị chính qui của Cộng Quân có nhiệm vụ tấn công.
    Ðường Vào Lịch Sử
Trận đánh tại Tống Lê Chân chính thức chấm dứt vào ngày 15 tháng 4 năm 1974 khi binh sĩ cuối cùng của TÐ 92 BÐQ về tới An Lộc. Trước đó, vào ngày 13/4, phi cơ của Không Quân VNCH đã bay 19 phi vụ thả bom đánh vào lực lượng Cộng Quân tại Tống Lê Chân. Tuy trận đánh đã chấm dứt từ lâu, nhưng qua cuộc bao vây dài nhất trong quân sử và cuộc lui binh thành công mỹ mãn, huyền thoại của TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân vẫn sống mãi. Các chiến sĩ Mũ Nâu dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Văn Ngôn đã tô đậm một nét son cho truyền thống hào hùng của binh chủng Biệt Ðộng Quân và viết một trang sử huy hoàng trong pho quân sử QLVNCH.

Trần Ðỗ Cẩm