Saturday, April 26, 2008

Một Danh Tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Tưởng Niệm Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng,
Một Danh Tướng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa


Phan Đức Minh, Jan 24, 2007

A. Đôi dòng suy nghĩ:

Viết xong những loạt bài cho Báo Xuân phát hành ở nhiều nơi, báo in cũng như báo “online” nhiều nơi xa gần, trong và ngoài Hoa Kỳ, tôi đã định nghỉ xả hơi 1 thời gian vì tuổi đã cao (76, cộng thêm trên 12 năm đi tù cải tạo tại nhiều vùng rừng núi âm u, kinh hoàng, bây giờ mới thấy hậu quả của nó ghê gớm, mà mấy tay Bác Sĩ Mỹ cũng như Việt quen thuộc thường nói đùa là Ông hay Bác coi như ... 76 + 12 là 88 tuổi, sức khỏe như thế này là tốt quá rồi ). Vậy mà vừa đọc tin trên “ Net “, check e-mail thấy bạn bè, báo “online“ loan báo cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng vừa mới qua đời.

Tôi thật bất ngờ và xúc động vì tôi từng sống rất gần, hiểu khá nhiều về vị Tướng này, đã 2 lần được tiếp chuyện với ông trong tình “huynh đệ chi binh “, và tôi rất kính trọng, khâm phục ông về nhiều điểm.

Lần gặp và nói chuyện đầu tiên với vị Tướng này là chuyện: Trung Tá Nguyễn Minh Đ., 1 Sĩ Quan rất giỏi, can trường, xuất thân trường Võ Bị Đà Lạt, từng làm Trung Đoàn Trưởng (Regiment commander) đánh giặc gan lì, lên lon từ Thiếu Úy tới Trung Tá hầu hết tại mặt trận, được ân thưởng 2 Bảo Quốc Huân Chương (Đệ Ngũ và Đệ Tứ đẳng) với nhành Dương Liễu, rồi làm Quận Trưởng Quận Thăng Bình , tỉnh Quảng Ngãi là nơi Việt Cộng đánh phá ghê gớm thì ông ra sức bình định lãnh thổ chịu trách nhiệm . Có khi ông đi hành quân không giống ai: xin pháo binh sẵn sàng yểm trợ, rồi ông và lính mang súng đạn, dùng xe gắn máy tiến vào những làng hẻo lánh, xa xôi mà tin tình báo cho hay có những đơn vị không lớn của địch về đây lấy lương thực, tuyển quân vv... quân xa của ta không vào được, ông Trung Tá Đ. vẫn đem lính vào để đánh địch và bắt sống hay tiêu diệt địch nhiều phen, nhờ ông đã có công xây dựng cơ sở, dân chúng tin tưởng và hợp tác với ông, với quân đội Cộng Hòa. Ấy vậy mà ông Trung Tá này lại giống ngài Tổng Thống họ Nguyễn hồi đó, y như Trung Tướng Hoàng Xuân L. và vài Tướng Lãnh, Sĩ Quan cao cấp khác rất cả tin vào cái vụ... tướng số, tử vi để đến nỗi bị truy tố ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I – Vùng I Chiến Thuật, về tội “Đào ngũ – Desertion“ mới chết chớ.

Vì tin vào ông Thầy tướng số mà ông Trung Tá lại né 1 cuộc hành quân cỡ lớn, trong đó có Trung Đoàn của ông tham dự,ï để vào Tổng Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng nằm nghỉ chữa bệnh ít ngày, nhưng không làm đúng thủ tục hành chánh khi nhập viện . Ông Thầy Tướng số nói: “ông đi hành quân chuyến này không chết cũng ... bị thương nặng ... “. Đánh giặc hoài hoài, anh dũng, can trường hàng chục năm liên tục, không biết sợ cái chết mà bữa nay lại tin lời ông Thầy Tướng Số để né trận này, thật đáng ... đánh đòn.

Trung Tướng Trưởng cần Trung Tá Đ. để đưa vào phái đoàn 4 bên Quốc Tế kiểm soát đình chiến tại khu vực trách nhiệm của ông. Tướng Trưởng gọi điện thoại về Sư Đoàn thì được báo cáo là ông Trung Tá đi nằm bệnh viện Duy Tân. Còn đang phân vân chọn người khác thì chiếc xe Beaulieu, gắn bảng đỏ có 3 sao trắng, của Tướng Trưởng chạy dọc 1 đường phố Đà Nẵng. Ông Tướng và Sĩ Quan tùy viên trông thấy rõ ràng Trung Tá Đ. nhà ta đang đi thong dong trên đường phố, chẳng có chi là “bệnh nhân“ cả. Thế là ông Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I và Vùng I Chiến Thuật ra lệnh cho Đại Tá Tham Mưu Trưởng liên lạc hỏi Trung Tá Bác Sĩ Chỉ Huy Trưởng Tổng Y Viện Duy Tân về vụ “bệnh nhân cao cấp“ dạo chơi ngoài phố, rồi gọi điện thoại sang Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I và Vùng I Chiến Thuật (Field Court Martial of the Ist military zone & Ist Tactical Area) yêu cầu Trung Tá Ủy Viên Chính Phủ tới văn phòng Tư Lệnh Vùng có việc cần. Bữa đó Trung Tá Ủy Viên Chính Phủ đi công tác, tôi là Phó “Xử lý thường vụ – Interim“ nên vội lái xe Jeep sang Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, tới Văn Phòng Trung Tá Đức, chánh văn phòng. Trung Tá Đức mời tôi ngồi và nói: Trung Tướng vừa lái trực thăng đi kiểm soát bất thần 1 đơn vị ở xa, Thiếu Tá chờ cho ít phút.

Vài phút sau Trung Tá Đức sang gặp Tướng Trưởng rồi trở lại: Trung Tướng mời Thiếu Tá sang. Tôi bước vào và chào Tướng Trưởng theo quân cách. Ông bắt tay rồi mời tôi ngồi ngay chiếc ghế bên cạnh bàn làm việc của ông. Ông nói nhỏ nhẹ và vắn tắt: Chắc Thiếu Tá đã rõ việc tôi cho gọi điện thoại mời Thiếu Tá sang đây? – Tôi đáp : Thưa Trung Tướng tôi đã rõ. Tướng Trưởng nói tiếp: Tôi không bao giờ can thiệp vào công việc chuyên môn của Tòa Án, của Thiếu Tá, nhưng với tư cách là Tư Lệnh 1 đại đơn vị, tôi chỉ mong muốn Thiếu Tá cũng như các anh em khác bên Tòa Án luôn luôn tích cực giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ đối với Quân Đội, giữ vững kỷ luật Quân Đội vì đó là sức mạnh của chúng ta nếu chúng ta muốn thắng cộng sản.


Một Ông Tướng đánh giặc giỏi, lừng danh mà ăn nói thật nhẹ nhàng, nhỏ nhẹ, từ tốn đến mức dễ thương. Tôi đáp: Trung Tướng an tâm, chúng tôi sẽ hết sức làm việc để góp sức xây dựng quân đội như Trung Tướng mong muốn. Sau vài câu chuyện hỏi thăm về công việc, ông đứng dậy bắt tay tôi, tiễn vài bước ra phía cửa rồi mới quay trở lại. Hôm xử vụ án Trung Tá Đ., bị can đào ngũ cao cấp nhất từ ngày tôi làm việc ở đây, tôi ngồi ghế Công Tố Viên ( prosecutor ), Chánh Thẩm (Chánh Án – Presiding judge ) là Ông Võ Nhất Minh, Chánh Án Tòa Sơ Thẩm Quảng Nam – Đà Nẵng (được mời và bổ nhiệm bởi Liên Bộ Quốc Phòng & Tư Pháp từng kỳ hạn 1 năm, còn Chánh Thẩm dự khuyết là 1 Đại Tá thuộc ngành Quân pháp chúng tôi), Phụ Thẩm Đoàn là 4 Thẩm Phán quân sự (military judges) hầu hết là Luật Sư dân sự trước khi động viên vào quân đội, hoặc là Sĩ Quan tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa rồi thêm trung bình 3 năm tập sự để trở thành Thẩm Phán. Thành phần xét xử của các Tòa Án Quân Sự Mặt Trận thuộc 4 Vùng chiến thuật là hùng hậu nhất, 5 Thẩm Phán thực thụ, sau vụ xét xử Dân Biểu Quốc Hội Trần Ngọc Châu có liên lạc với anh em ruột thịt là cán bộ cộng sản Trần Ngọc Hiền. Luật Sư của bị can nêu vấn đề tổ chức Tòa Án xét xử bị can phạm tội chính trị Trần Ngọc Châu là vi hiến vì Hiến Pháp hồi đó quy định là trường hợp như trên, bị can phải được xét xử bởi các Thẩm Phán chuyên nghiệp (chớ không có mời phụ thẩm nhân dân hay các Sĩ Quan đang tại ngũ như Tòa Án Quân Sự Thường trực (Permanent military court). Bốn Tòa Án loại này của Nam Việt Nam phải tạm thời ngưng họat động 6 tháng để sắp xếp lại cơ cấu tổ chức.

Theo bản cáo trạng, tôi lên tiếng buộc tội nghiêm khắc bị can Trung Tá Đ., một Sĩ Quan thuộc hàng cao cấp, từng giữ những chức vụ chỉ huy quan trọng, hiểu biết rõ ràng về quân kỷ, thủ tục hành chánh khi nhập bệnh viện, đã cố tình trốn tránh trách nhiệm trong vụ này nên bị coi là can tội đào ngũ trong thời chiến. Tôi yêu cầu Tòa phạt thật nặng để làm gương cho các Sĩ Quan khác. Tuy nhiên, tôi nói tiếp : Công tố viên là người bảo vệ Luật Pháp, truy tố tội phạm, nhưng không có nghĩa là chỉ biết buộc tội bằng cách nhìn về một phía, mà không biết nhìn sang phía khác với những công trạng, thành tích của 1 quân nhân đã hàng chục năm chiến đấu anh dũng, chỉ huy tài giỏi, thành công to lớn trong binh nghiệp, xin lưu ý Thẩm Phán Đoàn về những điều đó để quý vị tùy nghi quyết định. Với 1 quân nhân, nhất là Sĩ Quan, có tội cần phải trừng phạt nặng để làm gương cho cấp dưới, cho bạn đồng ngũ, nhưng Luật Pháp, Quân Đội không bao giờ bỏ quên những quân nhân anh hùng, dám hi sinh thân mình cho đại cuộc. Không khí phiên Tòa, xét xử duy nhất 1 bị can đào ngũ mang cấp bậc Trung Tá, thật là căng thẳng. Luật Sư Vương Thị Thúy tiếp lời bào chữa cho bị can một cách rất khôn khéo, hợp lý, hợp tình ... Tòa tuyên bố tạm nghỉ để vào phòng nghị án. Phòng xử án hôm đó rất đông, có nhiều Sĩ Quan, thân nhân, bạn bè của bị can, tất nhiên có cả quan sát viên của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đến theo dõi để về báo cáo lên Trung Tướng Trưởng. Anh em Quân Cảnh đi lại bên ngoài phòng xử. Không khí đợi chờ bản án thật là yên lặng, tưởng như con ruồi bay qua, người ta cũng nghe thấy tiếng ... Một hồi chuông rung. Ông Chánh Thẩm và Thẩm Phán Đoàn trở lại vị trí. Mọi người hồi hộp. Ông Chánh Thẩm long trọng đọc những điều có tính cách thủ tục rồi tuyên án ...

Tòa quyết định: phạt bị can Nguyễn Minh Đ. 5 năm tù ở về tội đào ngũ trong thời chiến ... Có tiếng thở dài đâu đó và có người trong phòng xử xỉu ngã, chắc chắn là thân nhân của bị can, nhưng tiếp theo liền đó, Ông Chánh Thẩm tuyên bố: căn cứ theo hồ sơ, bị can là 1 Sĩ Quan có nhiều công trạng, thành tích, tinh thần chiến đấu cũng như chỉ huy trong quá khứ, cùng với những bằng chứng khen thưởng quý giá như thăng cấp liên tục tại mặt trận, được ban thưởng nhiều huy chương cao quý, nhất là Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương với nhành dương liễu gắn tại chiến trường ... lần đầu tiên phạm Quân Luật, cho nên Tòa khoan hồng cho bị can được hưởng ... án treo! Không khí trong phòng xử như sống lại trong khi phiên Tòa bế mạc ... Trung Tá Nguyễn Minh Đ., viên Sĩ Quan rất tài giỏi, nhưng chỉ phải cái tội quá tin vào vụ Tử Vi, tướng số tào lao mà suýt nữa khổ cả một đời. Trung Tá Đ. tạm thoát được án tù 5 năm, nhưng sau đó bị mất quyền chỉ huy đơn vị tác chiến như xưa, chỉ được làm những công việc có tính cách chuyên môn buồn tẻ. Thỉnh thoảng gặp lại tôi tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, khi các Sĩ Quan đi ăn cơm trưa tại Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Quân Đoàn, ông tuy là Trung Tá, nhưng thường giơ tay chào tôi trước, và có lần không quên nhắc lại: May mà gặp được Thiếu Tá ngồi ghế Công Tố Ủy Viên bữa đó, biết rõ hoàn cảnh anh em, tội thì phạt, công thì thưởng nên tôi mới thoát, chớ nếu gặp tay khác ... cực đoan, chỉ nhìn 1 phía con người thì cuộc đời tôi chắc đã ... tàn rồi. Anh em bắt tay nhau vui vẻ, tôi hỏi: Ông Tướng Tư Lệnh có gọi lên trình diện quở trách chi không ? Trung Tá Đ. nói: thì phải có chớ! Nhưng Ổng chỉ khuyên bảo đôi điều nhẹ nhàng rồi ra lệnh từ nay trở đi không được tái phạm. Tòa khoan hồng chỉ 1 lần, không thể lần thứ 2. Thì ra Ông Tướng Ngô Quang Trưởng đã biết hết sự việc của phiên Tòa, kết quả ra sao, và luôn tỏ ra rộng lượng, tha thứ cho thuộc cấp có nhiều công trạng, thành tích mà lần đầu tiên vi phạm Quân Luật.

Với chức vụ Phó Ủy Viên Chính Phủ Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I, Cố Vấn Pháp Luật cho Nghiệp Đoàn ký giả miền Trung Việt Nam cho nên tôi đã có nhiều dịp gặp gỡ chuyện trò trong khung cảnh thân mật với 1 số Tướng Lãnh như Trung Tướng Hoàng Xuân L., Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh vv... cùng nhiều Sĩ Quan cao cấp khác trong Quân Khu tôi làm việc, nhưng hình ảnh Trung Tướng Ngô Quang Trưởng kể trên làm tôi khó bao giờ quên được.

Lần thứ 2 tôi gặp và tiếp chuyện với Trung Tướng Trưởng là lần Ông sang thăm Tòa Án của chúng tôi, mà Đại Tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn chỉ điện thoại báo trước có 10 phút. Lần này, Trung Tá Ủy Viên của tôi cũng đi vắng, tôi lại “xử lý thường vụ“ nghĩa là tạm thời thay mặt ông giải quyết mọi việc, trừ việc thật đặc biệt quan trọng. Khi xe Quân Cảnh dẫn trước chiếc xe gắn bảng đỏ với 3 ngôi sao trắng của Tướng Trưởng đậu trước cửa, tôi ra đón chào và mời Ông vào. Tướng Trưởng mặc quân phục bộ binh, đội mũ sắt 2 lớp (Ông luôn làm gương cho các Sĩ Quan là lúc nào cũng trong tình trạng sẵn sàng tác chiến), đeo súng ngắn bên thắt lưng dã chiến) đứng nói chuyện với tôi vài ba phút ngay trước cửa, rồi ông bảo tôi dẫn đi thăm anh em nhân viên làm việc của Tòa Án. Sau khi đi thăm lòng vòng 1 lúc, ông trở lại văn phòng của tôi và nói : Thiếu Tá nhớ luôn luôn nhắc nhở anh em về tinh thần làm việc và tôn trọng kỷ luật quân đội. Chợt ông hỏi tôi : trước khi làm việc ở đây, Thiếu Tá có phục vụ ở 1 đơn vị nào khác không ? Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng chợt hiểu ra và trả lời: thưa Trung Tướng, trước kia tôi phục vụ tại Tiểu Đoàn Truyền Tin Quân Đoàn 1, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Viên, và trưa nào chúng tôi cũng sang Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Quân Đoàn ăn cơm, thường có sự hiện diện của Trung Tướng. Ông à! một tiếng, không nói gì thêm rồi bắt tay tôi từ giã ra xe, rời Toà Án. Khi Ông đi rồi, tôi có hỏi một vài nhân viên đứng phía sau gần đó: anh em có hiểu tại sao ông Trung Tướng hỏi tôi câu đó không? Có anh em đoán đúng ý tôi: Tại Trung Tướng thấy coi bộ cả Tòa chỉ có một mình Thiếu Tá mặc quân phục, đầu tóc giống Trung Tướng nhiều hơn, còn lại không mấy ai giống Trung Tướng cả. Ông Tướng Trưởng thông cảm cho 1 cơ quan chuyên môn là Tòa Án cho nên nhiều anh em đầu tóc không cắt cao kiểu “lính“, quân phục là đồ tác chiến nhưng thường không bỏ ống vào trong giầy cao cổ, Sĩ Quan thì hầu hết là Luật Sư dân sự động viên đi học Trường Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức hay Sĩ Quan tốt nghiệp Đại Học Luật Khoa, tập sự mấy năm thành phán rồi về thẳng đây phục vụ cho nên đầu tóc, quân phục làm sao mà giống ông Trung Tướng gốc nhẩy dù này được !

B. Trích Báo Calitoday online: (Ngày 22-01-2007)

Calitoday đã loan tin: Cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã mệnh chung vào lúc 3 giờ 30 sáng hôm nay tại Virginia, vùng Hoa Thịnh Đốn, hưởng thọ 76 tuổi. Vị Trung Tướng lừng danh trong Quân Lực Việt nam Cộng Hòa từng phục vụ trong những năm 1954 đến năm 1975. Ông được xem là người hùng Quảng Trị khi đánh bật quân cộng sản Hà Nội và tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị năm 1972. Ông tốt nghiệp khóa 4 Liên Trường Võ Khoa Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức năm 1954. Ra trường, được bổ nhiệm làm Đại Đội Trưởng đại đội 1, Tiểu Đoàn 5 nhẩy dù. Năm 1955, ông tham gia cuộc tiễu trừ lực lượng Bình Xuyên và được đặc cách thăng cấp Trung Úy tại mặt trận. Năm 1963, ông được thăng cấp Đại Úy. Năm 1964 ông được thăng cấp Thiếu Tá và được bổ nhiệm giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 nhẩy dù. Cùng năm 1964, Tiểu Đoàn 5 nhẩy dù do ông chỉ huy được trực thăng vận nhẩy vào mật khu Đỗ Xá, thuộc Quận minh Long, tỉnh Quảng Ngãi, phá vỡ căn cứ địa của Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tịch thu 160 súng đủ loại. Năm 1965, Tiểu Đoàn của ông được trực thăng vận nhẩy vào mật khu Hắc Dịch, thuộc vùng núi Ông Trinh, tỉnh Phước Tuy, Bà Rịa, căn cứ của Công Trường 7 cộng sản Bắc Việt. Sau 2 ngày chạm súng và gây thiệt hại nặng cho 2 Trung Đoàn địch thuộc Công Trường 7, ông được đặc cách thăng cấp Trung Tá tại mặt trận và được tưởng thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Năm 1965, sau trận Hắc Dịch, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn nhẩy dù.

Đến cuối năm 1965, Trung Tá Ngô Quang Trưởng được bổ nhiệm giữ chức vụ Tham mưu Trưởng Sư Đoàn nhẩy dù. Năm 1966, sau biến cố bạo động miền Trung, ông được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh, dưới quyền chỉ huy của của Tư Lệnh Quân Đoàn là Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm. Năm 1967, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh do ông chỉ huy, gồm Đại Đội Hắc báo Trinh Sát, cùng Chi Đoàn 2/7 thiệt vận xa M-113, tăng phái Tiểu Đoàn 9 nhẩy dù do thiếu Tá Nguyễn Thế Nhã chỉ huy, tấn công phá vỡ hạ tầng cơ sở và toàn bộ lực lượng du kích địa phương thuộc Mặt Trận Lương Cổ, Đồng Xuyên, Mỹ Xá thuộc Quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Sau trận này ông được thăng cấp Chuẩn Tướng. Năm 1968, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh do ông chỉ huy, tăng phái Chiến Đoàn 1 nhẩy dù gồm các Tiểu Đoàn 2, 7 và 9, do Trung Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy, đã phòng thủ, bảo vệ thành công trước trận tấn công đại quy mô quyết tâm dứt điểm Huế của cộng sản vào Bản Doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, thành Mang Cá và những điểm quan trọng của thành phố Huế , trong suốt thời gian 26 ngày, từ 30 tháng 1 đến 24 tháng 2 – 1968. Quân cộng sản bị đẩy lui, gồm các đơn vị xung kích của Mặt Trận Giải Phóng miến Nam, gồm Đoàn 5 : các Tiểu Đoàn K4A, K4B, Tiểu Đoàn 12 đặc công nội thành Huế, Đoàn 6: gồm các Tiểu Đoàn K41, K6, Tiểu Đoàn 13 đacë công nội thành Huế, các Đại Đội đặc công 15, 16, 17, 18, tăng cường 1 đại đội súng phòng không 37 ly, 2 đại đội du kích Quận Hương Trà, Phong Điền, 2 đại đội đặc biệt nội thành Huế và 2 Tiểu Đoàn 416, 418 thuộc Đoàn Cù Chính Lan, tức Đoàn 9. Tướng Trưởng và các đơn vị của ông đã giữ vững Huế và gây thiệt hại nặng nề cho các đơn vị tấn công của địch. Sau trận Mậu Thân ( 1968 ), ông được đặc cách thăng cấp Thiếu Tướng và bổ nhiệm lên giữ chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn IV Quân Khu IV ở trong Nam. Năm 1970, ông được thăng cấp Trung Tướng .... Sau năm 1975, ông di tản sang Hoa Kỳ và sống cùng với gia đình tại tiểu Bang Virginia, ngay bên cạnh Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Ông từ chối tiếp xúc với bất cứ ai, từ chối không trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí về những ngày cuối cùng, và không xuất hiện ở những chỗ đông người, nhưng luôn luôn được các cựu chiến sĩ kính trọng vì ngoài những thành tích lớn lao kể trên, ông còn được mệnh danh là 1 trong 4 vị Tướng thanh liêm trong sạch của Quân Lực Việt Nam cộng Hòa, qua câu nói của quân dân miền Nam “nhất Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng” (ngưng trích).

Đến đây, người ta thấy Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bi Thủ Đức năm 1954, phục vụ trong lực lượng nhẩy dù, chỉ huy tác chiến từ cấp đầu tiên là Thiếu Úy rồi thăng cấp tại mặt trận liên tục sau những chiến thắng do ông chỉ huy từ nhỏ tới lớn, được bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy đơn vị nhỏ đến đại dơn vị , cấp cao nhất là Tư Lệnh Quân Đoàn (Army Corps Commander), mang cấp bậc Trung Tướng (3 sao) một cách thật nhanh chóng và xuất sắc mà các bạn đồng khóa với ông không một ai sánh kịp.

C. Tướng Ngô Quang Trưởng và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa:

Nhiều người đã đánh giá toàn thể Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa qua hành động xấu xa của một vài Sĩ Quan cao cấp đích thân, hay cho vợ con, đệ tử lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, nhất là giai đoạn Mỹ đổ quân tác chiến vào Việt Nam (sai lầm chiến lược) để buôn lậu, làm áp-phe tiền bạc bằng nhiều cách. Họ đánh giá Quân Đội VNCH qua hình ảnh tan rã cuả nhiều đơn vị quân đội vào những ngày cuối cùng cuả cuộc chiến, mà kẻ gây ra tình trạng thê thảm này đích danh thủ phạm là Ông Nguyễn Văn Thiệu, một Tướng Lãnh làm Tổng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội VNCH, ra lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Khu 2, và Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I - một Tướng Lãnh từng được kể vào hàng Danh Tướng - phải bỏ Quân Khu I lúc chưa đánh nhau chi cả và các đơn vị quân đội cuả 2 Tướng này đang sẵn sàng chờ địch tiến đánh, với tinh thần rất cao, như họ đã từng đánh bại quân cộng sản trên lãnh thổ 2 Quân Khu này. Ông Thiệu ra lệnh bỏ 2 Quân Khu này khi chưa chạm địch để làm áp lực, lôi kéo người bạn Đồng Minh khổng lồ (đang bỏ đi bằng mọi giá ) quay trở lại cứu Nam Việt Nam. Nếu không, "Tiền đồn chống cộng sản cuả Mỹ tại Đông Nam Á Châu sẽ xụp đổ". Tổng Thống Mỹ Richard Nixon phải hứa với nhân Mỹ là chấm dứt chiến tranh Việt Nam, đem quân đội Mỹ trở về trong danh dự, trả người thân về với gia đình cuả họ. Qua trung gian cuả Tổng Thống Hồi Quốc, Ông Nixon cho Cố Vấn Henry Kissinger (một nhân vật chính trị, ngoại giao quỷ quyệt, độc ác và tàn nhẫn ) dọn đường cho Ông Nixon gặp Mao Trạch Đông, lãnh tụ Cộng sản Trung Quốc. Họ Mao với sức mạnh cuả Sư Phụ, với uy thế cuả Ông Thầy bao nhiêu năm trợ giúp cố vấn, vũ khí chiến tranh, lương thực … đã ra lệnh cho cộng sản Hà Nội không được chợi trội, bắt bí phái Đoàn Mỹ tại Hội Nghị Paris , doạ đánh cho Mỹ phải chạy mà không có "Hiệp Định ngưng bắn - Agreement of cease- fire" chi cả. Họ Mao đã cứu Ông Nixon, nhưng Ông Nixon phải đền ơn xứng đáng:

1.- Vận động để cho Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa Quốc ngồi vào cái ghế Hội Viên Thường Trực cuả Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc với quyền Phủ quyết cuối năm 1971, trước khi Ông Nixon gặp Họ Mao vào đầu năm 1972, mặc dầu Họ Mao đã chiếm hết lục địa Trung Quốc, thiết lập chính quyền, cai trị cả tỉ dân từ năm 1949. Còn Ông Quốc Dân Đảng Trung Hoa thì vẫn là bạn cuả Mỹ nhưng phải rời khỏi cái ghế đó, chạy ra đảo Đài Loan.

2.- Ông Nixon phải bằng mọi cách, nhưng kín đáo, bán cho Họ Mao những vũ khí, kỹ thuật chiến tranh tối tân hiện đại nhất lúc đó để Trung Quốc đủ sức “đánh nhau tay đôi " với Liên Sô khi cần, vì Liên Sô đã kết án,và đe doạ trừng trị Họ Mao về nhiều tội :

* Bất phục tùng Trung Tâm Lãnh Đạo phong trào cộng sản thế giới là Điện Kremlin ở Moscow.

* Dám thiết lập Tư Tưởng Mao Trạch Đông, trái nghịch với Học Thuyết Marx - Lenin là : Thiết lập nền vô sản chuyên chính kiểu Trung Quốc : lấy Nông Dân (đại đa số dân Trung Quốc) làm giai cấp lãnh đạo, thay vì giai cấp Công Nhân lãnh đạo, như Học Thuyết Marx-Lenin, đã được dùng làm Phương Châm Đấu Tranh cho Phong Trào Cộng Sản Toàn Cầu.

* Muốn thống trị Á Châu bằng sức mạnh cuả Trung Quốc và Tư Tưởng Mao Trạch Đông, tách ra khỏi sự lãnh đạo cuả điện Kremlin ở Moscow. Mao không chấp nhận " Kết hợp chủ nghiã yêu nước với chủ nghiã Quốc Tế Vô Sản ", theo luận điểm cuả Lenin về khả năng tiến lên Chủ Nghiã Xã Hội không qua giai đoạn phát triển Tư Bản Chủ Nghiã (Lenin's thesis on the possibility of advancing to Socialism by passing the stage of capitalist development ) vì Liên Sô đã có cơ sở công nghiệp trong khi Trung Quốc chỉ có " Con trâu đi trước cái cầy ". Như thế mới gọi là tư tưởng Mao Trạch Đông, chớ Hồ Chí Minh, lãnh tụ cộng sản Hà Nội chỉ có biết trò " Đu dây " theo voi ăn bã miá cả 2 phiá Liên Sô và Trung Quốc thì làm gì có cái gọi là Tư Tưởng Hồ Chí Minh như cộng sản Hà Nội vẫn ồn ào, ba hoa về Tư Tưởng Hồ Chí Minh.

Nhiều Sĩ Quan cao cấp cuả VNCH trông cảnh quân sĩ dưới quyền bị tan rã một cách thê thảm, đau đớn, trông cảnh dân chúng cả triệu người trên đường tháo chạy, phải làm bia lãnh đạn trọng pháo, hoả tiễn cuả Liên Sô và Trung Quốc tiêu diệt một cách tàn bạo, kinh hoàng, dã man mà thấy sót sa trong tim, trong lòng, phát điên phát khùng lên vì sự khờ dại, cuả Nguyễn Văn Thiệu. Là Tướng Lãnh, là Tổng Thống, là Tổng Tư Lệnh Quân Đội mà Nguyễn Văn Thiệu không hiểu rằng: Những phòng tuyến đầu tiên bị tan rã, quân đội chưa đánh mà bỏ chạy tán loạn cùng hàng triệu dân chúng thì hậu quả quân sự, chính trị, tâm lý cuả Nam Việt Nam sẽ ra làm sao!

Họ đã cố tình quên đi tinh thần chiến đấu cuả Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà trong dịp Tết Mậu Thân (1968). Lúc đó quân cộng sản được trang bị cá nhân, tất cả bằng súng tiểu liên xung kích AK-47 cuả Liên Sô, Tiệp Khắc, cùng với lực lượng võ trang cuả "Mặt Trận Giải phóng miền Nam", lợi dụng yếu tố bất ngờ khi phản bội thoả hiệp ngưng bắn trong dịp Tết thiêng liêng cổ truyền cuả dân tộc Việt Nam, thình lình mở cuộc "Tổng tấn công" vào hầu hết các thành phố, thị trấn cuả Nam Việt Nam. Trong khi đó Quân Đội VNCH hầu hết chỉ được trang bị bằng súng trường bán tự động Garant M-1, Carbin M-1 và tiểu liên loại nhẹ Carbin M-2 cuả quân đội Mỹ sử dụng trong thời Đệ Nhị Thế Chiến. Vì bất ngờ cho nên chúng đã kiểm soát được một số lãnh thổ có tính cách chiến lược tại Quân Khu 2 và Quân Khu I, đồng thời tấn công mưu toan đánh chiếm luôn Thủ Đô Sài Gòn. Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng tại Hà Nội ra lệnh phải giữ đất đã chiếm bằng mọi giá để đưa dân chúng Nam Việt Nam vào 1 cuộc "Tổng nổi dậy", cướp chính quyền. Do đó, khi chiến trường đã được quân đội VNCH giải toả, quân cộng sản bị đánh bại, phải bỏ chạy, phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đi theo quân đội mới thấy những xác chết cuả lính cộng sản bị xiềng chân vào công sự chiến đấu, các ổ bích kích pháo, súng đại liên. Cộng sản Hà Nội không bao giờ ngờ được rằng Quân Đội VNCH có thể đánh bật chúng ra khỏi thành phố Huế sau 1 thời gian cộng sản chiếm đóng, toan tính thành lập chính quyền tại một thành phố giáp lưng với hậu phương to lớn cuả chúng ở bên kia sông Thạch Hãn, Quảng Trị, hay vĩ tuyến 17. Vậy mà cộng sản đã phải bỏ chạy khỏi thành phố Huế trong chiến dịch lịch sử Tết Mậu Thân (1968), chỉ kịp luà theo chúng hàng ngàn sĩ quan, binh sĩ, nhân viên chính quyền, đảng phái chính trị do chúng bắt được tại Huế, đễ dẫn đi tàn sát, chôn sống tập thể theo kiểu Hitler giêt người Do Thái, Staline giết người Ba Lan, nhưng ghê tởm hơn, vì chúng giết bằng đạn AK, bằng dao găm, mã tấu, còn sống cũng đạp xuống hố chôn luôn hàng chục, hàng trăm người 1 lúc.

Bốn năm sau, 1972, nắm được tinh thần "Bỏ cuộc, chạy làng" của tay "Sen đầm quốc tế" khổng lồ, nhưng đã quá mệt mỏi, chán chường với cuộc chiến tranh không thể thắng ở tiền tuyến bằng súng đạn tối tân vì nó chẳng có mặt trận, chiến tuyến nào rõ ràng để mình chủ động sử dụng "ưu thế hoả lực- Superiority of firepower" được cả, mà hậu phương thì rối loạn, nát bấy vì biểu tình, phản đối chiến tranh, đốt cờ, đốt thẻ trưng binh, Quốc Hội cãi nhau như mổ bò về chuyện có hay không viện trợ chiến tranh cho người bạn đồng minh để giữ vững cái "Tiền đồn chống cộng ở Á Châu" . Thế là cộng sản Hà Nội lại áp dụng bài học cũ, 18 năm về trước, đã dùng chiến thắng Điện Biên Phủ để đánh gục người Pháp tại Hoà Hội Geneva.

Năm 1972 cũng thế, Hà Nội tung vào miền Nam những Sư Đoàn tinh nhuệ, thiện chiến nhất đã từng đánh tan 2 Binh Đoàn Lưu Động (Groupements mobililes) cuả Pháp tại chiến trường Bắc Kạn-Lạng Sơn hồi 1950, bắt sống 2 Binh Đoàn Trưởng (Commandants de Groupements mobiles): Đại Tá Le Page và Trung Tá Charton , đưa những Sư Đoàn lừng danh từng đánh thắng, dứt điểm người Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1954 bằng những trận đánh vũ bão theo lối "Chiến tranh quy ước – Conventional War" hẳn hoi. Hà Nội nhắm đánh vào Quân Khu I, lãnh thổ địa đầu cuả Nam Việt Nam, cho 15 ngàn quân cuả Sư Đoàn 304 tràn qua vĩ tuyến 17, dưới sự yểm trợ cuả pháo binh và hoả lực phòng không trang bị hoả tiễn điạ -không SAM-2 cuả Liên Sô, sau 3 ngày đêm đội những trận bão lưả Pháo Binh và Hoả Tiễn . Sư Đoàn 3 Bộ Binh VNCH là Sư Đoàn mới thành lập, trong đó chỉ có Trung Đoàn 2 Bộ Binh nòng cốt là tương đối thiện chiến, còn hầu hết là tân binh, lính mới, và vị Tư Lệnh Sư Đoàn là Trung Đoàn Trưởng mới được vinh thăng Chuẩn Tướng thì làm sao mà chịu cho nổi sức tiến quân cuả cộng sản? Không hiểu sao Ông Thiệu, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội dưới quyền của Ông lại giao nhiệm vụ trấn giữ cái tuyến đầu chống cộng sản Hà Nội theo kiểu kỳ lạ như thế này ! Cộng sản đánh chiếm Tỉnh Lỵ Quảng Trị quá dễ dàng, mở đường xuống Huế rồi sẽ phối hợp với các đơn vị chính quy Bắc Việt, xâm nhập từ đường mòn Hồ Chí Minh, cũng như các lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội chủ lực cuả Tỉnh và Huyện, dứt luôn Quân Khu 1. Ngoài mục tiêu quân sự, cộng sản còn nhắm vào những mục tiêu chính chính trị và ngoại giao to lớn, quan trọng hơn: Cuộc Hoà Đàm tại Paris để quân đội Mỹ ra đi trong danh dự, không đến nỗi bị cộng sản quốc tế và Hà Nội đánh cho phải chạy mà không có Hiệp Định ngưng bắn chi cả.

Tỉnh Lỵ Quảng Trị bị chiếm, cộng sản cho xe tăng T-54 cuả Liên Sô dẫn đầu, Bộ Binh và cơ giới kéo xuống Huế theo quốc lộ I, được pháo binh và hoả tiễn 122 ly cuả Trung Quốc dọn đường. Quân cộng sản tiến về Huế như đi vào chỗ không có người. Dân chúng Quảng Trị thoát chết khi qua khỏi "Đại Lộ Kinh Hoàng " tràn xuống Huế, trong khi dân chúng Huế cũng xô nhau bỏ chạy vì dân ở đây làm sao quên được vụ tàn sát ghê gớm với những mồ chôn tập thể trong dịp Tết Mậu Thân - 1968 ! Tướng 3 sao Hoàng Xuân Lãm,Tư Lệnh Quân Đoàn I- Quân Khu I (người được nhiều nhân vật chính trị cũng như quân sự trong và ngoài nước đánh giá: chỉ là 1 Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn loại trung bình, chớ không đủ khả năng giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn trong giai đoạn địch quân tiến như vũ bão như thế này) hoảng hốt, không biết phải đối phó ra sao, chỉ biết cầu cứu liên tục về Dinh Độc Lập ở Sài Gòn. Tuyến đầu bị phá vỡ thì địch quân sẽ thưà thắng xông lên dễ dàng với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Còn phiá ta đã rút lui, tan vỡ bỏ chạy thì tinh thần quân đội và dân chúng rối loạn ra sao, ai cũng biết! Giới truyền thông ngoại quốc, nhất là ở Mỹ đã đánh giá Quân Đội và các cấp chỉ huy cuả Quân Lực VNCH qua những Tướng Lãnh như vậy đó! Cho tới khi đài phát thanh loan báo: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng được điều động từ Quân Khu 4 ở trong Nam ra, nắm chức Tư Lệnh Quân Đoàn I và Vùng I chiến thuật thay thế Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, dân chúng đang hỗn loạn bỏ chạy khỏi thành phố Huế cũng đồng thanh la lên "Tướng Ngô Quang Trưởng về làm Tư Lệnh Quân Đoàn I, bảo vệ Huế và chiếm lại Quảng Trị thì bà con không có chạy đi đâu nưã cả!" Lòng dân tin tưởng mãnh liệt là thế !

Tướng Ngô Quang Trưởng xuất thân Khoá 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, gốc binh chủng "Thiên Thần Mũ Đỏ Nhẩy Dù", nhưng lúc này đã mang lon 3 sao vì những chiến công ngoài mặt trận, và luôn luôn hoà đồng với các Sư Đoàn Bộ Binh dưới quyền nên Tướng Trưởng luôn mặc quân phục tác chiến cuả Bộ Binh, thay vì quân phục Nhẩy Dù. Có lẽ Tướng Trưởng nghĩ rằng: Bộ áo không làm thành Thầy Tu , Tướng giỏi không cần phô trương bên ngoài mà cần phải đánh thắng trên trận địa và được lòng kính phục cuả quân sĩ. Tướng Ngô Quang Trưởng về Huế, chỉnh đốn lại quân ngũ, tái phối trí lực lượng, kêu gọi dân chúng an tâm, xin tăng phái lực lượng Tổng trừ Bị: Nhẩy Dù, Thuỷ Quân Lục Chiến từ Sài Gòn bay ra. Thế rồi trước sân cờ Phú Văn Lâu, Cổ Thành Huế, Ông đã thề trước ba quân "Sẽ chiếm lại thành phố Quảng Trị trước ngày Lễ Quân Lực 19 tháng 6 (1972) “như thời Nhà Trần, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, khi ra quân đã cầm gươm chỉ xuống sông Bạch Đằng mà thề trước Tướng Sĩ : "Nếu phen này không phá tan được quân Mông Cổ thì ta sẽ không còn trông thấy con sông này nữa !" Ôi, Lịch Sử dân tộc Việt Nam, làm sao quên được những giờ phút bi hùng và oanh liệt như thế này! Dưới quyền Tư Lệnh cuả Danh Tướng Ngô Quang Trưởng, Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đã anh dũng chiến đấu, chặn đứng những Sư Đoàn thiện chiến, lẫy lừng nhất cuả cộng sản Hà Nội, trước sự ngỡ ngàng cuả dư luận trong và ngoài nước. Cổ Thành Quảng trị đã được chiếm lại. Quân cộng sản đành tháo chạy trở ngược về bên kia vĩ tuyến 17, giống như năm 1953, Danh Tướng MacActhur cuả Hoa Kỳ đã phản công, đánh bật quân cộng sản Bắc Hàn ra khỏi những vùng chiếm dóng trên lãnh thổ Nam Hàn, bỏ chạy bán sống bán chết trở ngược về phiá Bắc vĩ tuyến 38.

Tướng Ngô Quang Trưởng và quân sĩ cuả Ông đã bảo vệ được Huế, chiếm lại thành phố Quảng Trị đúng như lời thề trước sân cờ Phú Văn Lâu bưã nào.

Đó ! Tinh thần chiến đấu cuả Quân Đội VNCH là như thế đấy! Tướng Lãnh cuả Quân Đội VNCH có những người như thế đó ! Tờ báo Time Tạp Chí cỡ lớn cuả Hoa Kỳ (tôi vẫn có trong tay hàng tuần ) có lần đã đăng những dòng cảm nghĩ cuả Đại Tướng 4 sao Hoa Kỳ, Norman Schwarzkopf, Tư Lệnh Chiến Dịch "Bão Sa mạc – Desert storms" chinh phạt hung thần Saddam Hussein cuả xứ Iraq hồi đầu thập niên 1990, khi Saddam Hussein xâm lăng xứ dầu hỏa Kuweit, đại để như sau "Hồi còn chiến đấu ở Khe Sanh thuộc lãnh thổ Quân Khu I Việt Nam Cộng Hoà, với tư cách là 1 Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nhẩy Dù cuả Hoa Kỳ, tôi đã học được ở Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Khu I VNCH rất nhiều kinh nghiệm quý báu trong nghệ thuật chỉ huy cũng như tác chiến. Những kinh nghiệm đó đã giúp tôi rất nhiều, ngay cả mấy chục năm sau, trong "Chiến thắng Bão Sa Mạc - Desert Storms' Victory". Nhiều nhân vật chính trị, truyền thông tại sao không biết những điều này khi nói về Quân Đội VNCH ? Họ ngu dốt hay mang đầy ác ý trong đầu!

Rồi đến chiến trường An Lộc, Tỉnh Bình Long. Ở Hoà Hội Paris, Lê Đức Thọ và Xuân Thủy, UyÛ Viên Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng cộng sản, ra mặt lấn áp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger trong các buổi mật đàm qua thế mạnh cuả quân cộng sản tại Miền Nam, trong khi Hoa Kỳ muốn rút chân cho mau Khỏi "Vũng lầy kinh khủng" này. Đại Tướng cộng sản Võ Nguyên Giáp, người hùng Điện Biên Phủ, Bộ Trưởng Quốc Phòng cuả cộng sản đã tuyên bố trên đài phát thanh Hà Nội "Nhân dân Việt Nam đã đánh gục 3 đời Tổng Thống Hoa Kỳ, và sẽ đập tan chính quyền Nixon bằng 1 cuộc chiến thắng hoàn toàn - Defense Minister Vo Nguyen Giap says that the people of Vietnam have defeated 3 U.S. Administrations and are about to complete victory over President Nixon…"

Với cái khí thế như vậy, xe tăng T-54 cuả cộng sản đã tràn ngập, làm chủ tình hình thị xã An Lộc, dẫn theo sau những đơn vị bộ binh thiện chiến, danh tiếng nhất, sau khi những trận bão lửa pháo binh đã quét dọn sạch sẽ, không để lại những gì có thể sống sót. Các chiến sĩ Sư Đoàn 5 Bộ Binh VNCH cùng 1 số đơn vị bạn còn lại cuả địa phương Bình Long đã chiến đấu vô cùng anh dũng, ác liệt, giữ từng tấc đất, từng góc phố, ngõ hẻm để có chỗ đứng hay nằm mà chiến đấu vì ngưng chiến đấu tức là chết. Mặt trận An Lộc làm rung động thế giới, làm rối loạn không khí hoà đàm tại Paris vốn đã nghiêng hẳn thế thuận lợi về phiá cộng sản. Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh cũng như Hà Nội muốn An Lộc phải thầt thủ kinh hoàng như Điện Biên Phủ ngày nào. Những tay cá độ quốc tế đã dám đánh 100 ăn 1 là An Lộc sẽ thất thủ để cho cộng sản tiến quân về Sài Gòn, đập tan chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ngay trong năm 1972. Tướng 3 sao (Général de Division) Vanuxem cuả Pháp, Tư Lệnh quân đội Pháp tại Bắc Phi , người đã từng giữ chức vụ "Commandant de la Zône Sud du Nord Vietnam - Tư lệnh Quân Khu tả Ngạn Sông Hồng Hà" thời kỳ Điện Biên Phủ thất thủ tại Việt Nam- 1954 - khi trả lời phỏng vấn cuả báo chí, truyền thanh, truyền hình, đã nói: Quân Đội VNCH không thể nào giữ nổi An-Lộc. Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cảnh pháo binh cộng sản bất ngờ hiện diện tại các đỉnh đồi chung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ (do trâu, voi, người kéo lên, dân công khiêng vác từng bộ phận) dội như mưa bão suốt ngày đêm, làm tê liệt hoàn toàn các giàn trọng pháo hùng hậu cuả Pháp cho đến nỗi Đại Tá Pirotti, chỉ huy trưởng pháo binh của Pháp tại chiến trường này quá thất vọng và khủng khiếp, phải mở chốt lựu đạn mà tự sát. Có lẽ Tướng Vanuxem chưa quên được cái cảnh những Sư Đoàn cộng sản cuồng tín, đông như kiến cỏ, theo chiến thuật "Biển Người" cuả Thống Chế Lâm Bưu Nguyên Soái Hồng Quân Trung Quốc, tràn qua các bãi mìn, đạp nát các công sự phòng thủ, các hàng rào kẽm gai chằng chịt, tràn xuống các giao thông hào, đạp lên xác chết cuả lính Pháp, Bắc Phi và cả cộng sản, phối hợp với quân cộng sản từ dưới đất chui lên từ các đường hầm đã được máy móc, cơ giới cuả Trung Quốc đào bới ngày đêm trong lúc pháo binh hoả tiễn Trung Cộng liên tục nổ rầm trời . Chắc Tướng Vanuxem liên tưởng đến cái cảnh Tư Lệnh chiến trường Điện Biên Phủ, Tướng De Castries, mặt mũi hốc hác, bị quân cộng sản bắt sống ngay tại căn hầm Chỉ huy, cùng với toàn thể Sĩ Quan Bộ Tham Mưu cuả Ông để rồi chiến tranh Việt-Pháp kể như chấm dứt từ chỗ này, mà phần thất bại tất nhiên thuộc về phiá người Pháp. Tướng Vanuxem tin chắc là Quân Đội Việt nam Cộng Hoà không thể nào giữ nổi An Lộc một khi Hà Nội đã quyết dịnh biến An Lộc thành một thứ Điện Biên Phủ để giành thế chủ động trên bàn Hội Nghị tại Paris, một khi cộng sản Hà Nội có Liên Sô và Trung Quốc đứng sau lưng, nhất định bắt người Mỹ phải "nhắm mắt lại mà ký vào Hiệp Định Paris" như cộng sản đã bắt người Pháp phải làm như thế ở Hội nghị Geneva 1954.

Thế mà, khi Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù, hợp lực với Biệt Động Quân và 1 số đơn vị Bộ Binh VNCH kéo tới đánh những trận phản công sấm chớp, lở đất long trời thì xe tăng T-54 Sô Viết, cũng như Bộ Binh cộng sản từng làm mưa làm gió trước đó trên vùng đất An Lộc tan hoang, trơ trụi, đành phải mở đường máu mà tháo chạy mặc dù lệnh cuả Hà Nội: phải giữ An Lộc đã chiếm bằng mọi giá. An Lộc vẫn còn đó, không thất thủ như Điện Biên Phủ năm 1954. Cả thế giới kinh ngạc. Tướng 3 sao của Pháp Vanuxem cùng dân cá độ quốc tế đã thua đậm trong keo này. Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Thống Đệ Nhị Việt Nam Cộng bỗng dưng có được giờ phút vinh quang và oai hùng nhất trong cuộc đời binh nghiệp cũng như chính trị của ông: đáp trực thăng xuống ngay chiến trường An Lộc giữa tiếng hoan hô vang dậy không ngớt của các chiến sĩ VN Cộng Hoà vừa tái chiếm An Lộc, trong khi tiếng đại bác cuả 2 bên, tiếng hoả tiễn 122 ly của Trung Cộng vẫn còn nổ vang quanh vùng, và An Lộc vẫn còn mù mịt, khét lẹt mùi lửa đạn. Đó ! Tinh thần chiến đấu cuả Quân Đội VN Cộng Hoà là như thế đấy ! Và còn biết bao nhiêu trận đánh lẫy lừng khác trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật. Một bài báo có hạn làm sao kể hết!

Năm 1975,Cộng sản đánh chiếm Ban MêThuột, cũng chẳng khác gì cộng sản đánh chiếm Huế năm 1968, đánh chiếm Quảng Trị, kiểm soát An Lộc năm 1972 bao nhiêu. Vậy thì khi Ban Mê Thuột mới rơi vào tay giặc trong sự bất ngờ, tại sao Ông Thiệu lại hạ lệnh cho Tướng Phạm Văn Phú phải bỏ Quân Khu 2, cho Tướng Ngô Quang Trưởng phải bỏ Quân Khu I, trong khi hai Tướng Tư Lệnh này đang có trong tay 6 Sư Đoàn Bộ Binh, hầu hết đều thiện chiến, chưa kể đến các Liên Đoàn Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, mấy chục Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, bao nhiêu là đơn vị yểm trợ chiến đấu, đó là chưa kể đến hoả lực yểm trợ cuả Hải Quân, Không Quân, lực lượng Tổng trừ Bị cuả Nhẩy Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến, tất cả đều đang sẵn sàng chiến đấu vì chỉ có chiến đấu hay là chết mà thôi.

Ông Thiệu hạ lệnh rút bỏ 2 Quân Khu cưả ngõ, địa đầu cuả nam Việt Nam như vậy để làm gì ?- Có nhận lệnh từ đâu không ? - Để tạo nên một sự tan rã, hỗn loạn cuả cả một lực lượng Quân Đội to lớn, hùng mạnh như nói ở trên, trong khi tất cả đang sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu để sống còn. Sự tan rã hỗn loạn này kéo theo sự hỗn loạn tràn ngập cuả hàng triệu dân chúng đổ vào Quân Khu 3, bao quanh Thủ Đô Sài Gòn. Trong tình thế đó thì Quân Khu 3 còn đánh đấm gì được nưã ? Quân Cộng sản chẳng cần đánh, mà cứ như đi vào chỗ không có người. Nên nhớ rằng, khi gặp sự quyết chiến cuả Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH, với sự tăng cường cuả một số đơn vị bạn, mà Bộ Tư Lệnh Hành Quân cuả Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng đã phải tung ra 2 Sư Đoàn thiện chiến để hòng nhân đà thắng lợi, đánh tan Sư Đoàn 18 Bộ Binh, dưới sự chỉ huy cuả vị Tướng Trẻ Lê Minh Đảo, nhưng không thắng nổi. Sau cùng Văn Tiến Dũng phải tung thêm 2 Sư Đoàn nưã vào mặt trận này, là 4 Sư Đoàn tất cả, lấy 4 đánh 1, trong thế thuận lợi hoàn toàn về phương diện tinh thần quân sĩ đang lên.Vậy mà Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH chỉ chịu thua khi không còn nguồn tiếp tế nào nưa,õ chỉ còn lại súng mà không có đạn. Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quốc Phòng Mỹ tại sài Gòn, ngày 13 đã gửi cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ ca ngợi ý chí và tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa dù những bất lợi đang đè nặng trên vai họ. Sau 5 ngày theo dõi cuộc chiến An Lộc, Tướng Smith đã nói: “Sự chiến đấu anh hùng và dũng cảm của quân đội Nam Việt Nam. kể cả Địa Phương Quân Tỉnh Long Khánh, đã cho người ta thấy rõ tinh thần và khả năng chiến đấu của những người lính Việt Nam cộng Hòa này giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều..”

Trong lúc đó tại Quân Khu 4, ở miền Tây, Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, một Tướng giỏi, với Tướng Tư Lệnh Phó Lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, có trong tay 3 Sư Đoàn Bộ Binh thiện chiến và các lực lượng Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Địa Phương Quân, các đơn vị yểm trợ chiến đấu rất hùng hậu, tinh thần rất cao, sẵn sàng chờ địch tiến đánh Quân Khu 4 cuả 2 Tướng này. Khi Tổng Thống … cà chớn Dương Văn Minh, với tư cách Tổng Tư Lệnh lúc đó, bị chỉ huy bởi Sư Phụ Thích Trí Quang, cán bộ cộng sản từ hồi kháng chiến chống Pháp , và ngay cả từ Hà Nội qua trung gian cuả người em ruột Dương Văn Minh, Sĩ quan cao cấp cộng sản là Dương Văn Nhựt (đã liên lạc với Dương Văn Minh từ hồi 1956) hạ lệnh cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà buông súng đầu hàng cộng sản vô điều kiện (để bàn giao cho cộng sản, hi vọng kiếm cho bản thân và bè lũ, chỗ đứng chỗ ngồi mà cộng sản sẽ dành cho trong chính quyền “Cách Mạng giải phóng” , thì Tướng Nguyễn Khoa Nam đã họp các Sĩ Quan có trách nhiệm chỉ huy dưới quyền, và ra lệnh: anh em tuỳ nghi lo liệu về phần mình, trước tình thế chúng ta bị bắt buộc phải đầu hàng. Kế hoạch chiến đấu để tự cứu mình và bảo vệ vùng lãnh thổ trách nhiệm của chúng ta đã không thi hành được như anh em đã có thể biết ... Sau đó, Tướng Nguyễn Khoa Nam, trong bộ quần áo tác chiến, mũ sắt 2 lớp (sẵn sàng chiến đấu) đã vào Văn Phòng Tư Lệnh, ngồi xuống ghế cuả mình, nhìn lại lần cuối tấm bản đồ Tổ Quốc trên tường, nhìn lá cờ nhỏ nền đỏ với 2 ngôi sao trắng , tượng trưng cho uy quyền cuả một Tướng Lãnh chỉ huy, để trên bàn rồi rút súng bắn vào đầu tự sát. Chắc chắn là trước khi bóp cò cho viên đạn xuyên qua đầu, vị Tướng đáng kính phục này đã nói những gì với Tổ Quốc , với đồng bào, với chiến hữu cuả ông. Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, anh hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, trở về căn cứ chỉ huy phụ, nói với người vợ thân yêu “Em ở lại nuôi con, anh phải ra đi vì thân làm Tướng không thể sống nhục như thế này… “Người vợ thân yêu nói với ông “Anh Hưng ! Cho em chết theo với! Tất cả chúng ta và các con cùng chết với nhau!“ thì Tướng Hưng đã thuyết phục người vợ: Không được ! Cha Mẹ không có quyền giết con. Em phải sống để nuôi dậy con nên người để trả thù nhà và cùng với thế hệ mai sau lấy lại Đất Nước này ! Em phải sống dù phải chấp nhận hi sinh, khó khăn, gian khổ. Người vợ thương yêu và can trường của vị Tướng anh hùng này nói trong nước mắt: Em nghe lời mình với hai điều kiện: Nếu cộng sản bắt em phải xa lìa các con hay chúng làm nhục em thì em có quyền tự sát!

Tướng Hưng bằng lòng, nắm lấy tay vợ rồi chào từ biệt vợ con cùng một vài Sĩ Quan, Binh Sĩ đã có mặt từ trước tại đây để dự định liên lạc với các đơn vị thi hành kế hoạch chiến đấu cứu mình, cứu Quân Khu 4, của hai Tướng Nam và Hưng, rồi vào phòng riêng, gạt đi lời yêu cầu của người vợ xin được chứng kiến tận mắt sự ra đi của chồng. Tướng Hưng đóng cưả lại, và 1 phát súng nổ … Tướng Lê Văn Hưng đã ra đi vĩnh viễn cùng với Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, để lại cho Lịch Sử dân tộc Việt Nam những tấm gương bất khuất sáng ngời, như những tấm gương bất khuất cuả Cha Ông ngày trước, cuả những thời đại Lý Thường Kiệt phá quân ngoại xâm Nhà Tống, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Mông Cổ vv… Hai Ông Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng đã cùng một số Tướng Lãnh khác như Phạm Văm Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ và nhiều Sĩ Quan cao cấp khác cuả Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đã chết theo vận nước. Các Ông không muốn bị bắt làm tù binh hay đầu hàng giặc để lại ô danh cho hậu thế. Các ông cũng không muốn bỏ quân mà chạy lấy thân để rồi ra nước ngoài, mang theo tiền bạc ăn cắp cuả Quân Đội, cuả Quốc Gia, làm giầu bất chính trên xương máu cuả chiến sĩ như một số Tướng Lãnh hèn hạ khác. Quân đội của quốc gia nào có những Tướng Lãnh anh hùng và can đảm như thế hay không?

Một số Sĩ Quan cao cấp cuả Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, không muốn dư luận cũng coi mình như những kẻ khác không biết gì về cuộc chiến Việt Nam, cuộc chiến kỳ lạ này, về sau đã phải lên tiếng nói ra sự thật là: Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng và kiên cường, mặc dầu họ luôn luôn phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, không được chiến đấu trong những điều kiện đầy đủ, dễ dàng như quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam. Đúng như thế!

Viết đến đây đã quá dài, quá dư thừa, nhưng tôi vẫn chưa thấy đủ khi nghĩ đến Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và những người chiến sĩ của ông trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho ông, Cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, người mà tôi luôn kính phục, đã từng gặp , đã từng biết ông khá nhiều, rồi chỉ thấy xa ông thực sự trong đêm 28–03–1975, ông buộc phải ôm hận trong lòng của 1 vị Danh Tướng, rời bỏ doanh trại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I ở Đà Nẵng, tới sân bay trực thăng Non Nước để cùng 1 số Sĩ Quan trong Bộ Tư Lệnh, trong đó có 1 Đại Tá, bạn thân của tôi từ hồi còn nhỏ, bay ra Hạm Đội 7 của Mỹ tại Thái Bình Dương. Nỗi hận phải ra đi với niềm uất ức không thể nói với ai, đã làm cho Ông buồn bã rồi ngất xỉu, khi đã đã tới an toàn trên chiếc Hàng Không Mẫu Hạm của người bạn Đồng Minh chỉ cứu được ông , nhưng đã bỏ lại đằng sau tất cả chiến sĩ, đồng đội và đồng bào của ông tại Nam Việt Nam cho quân bạo tàn cộng sản Hà Nội hành hạ bằng cảnh sống lẫn lộn với những cái chết kinh hoàng trong bao nhiêu trại tù cải tạo trên núi trên rừng, những cái chết thê thảm ngoài Biển Đông và biết bao nhiêu cách chết khổ nhục mà mai sau, may ra người ta mới có thể thấy hết được...

San Diego, ngày 24-01-2007
Phan Đức Minh

No comments: