Sunday, January 17, 2010

Hoàng Sa Tổ Quốc Ghi Ơn Những Anh Hùng Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa


    1. HQ.Th/Tá: Ngụy Văn Thà
    63A/700.824

    2. HQ.Đ/Úy: Nguyễn Thành Trí
    61A702.714

    3. ThS.1/TP: Châu

    4. TS /QK: Nguyễn Văn Tuấn
    71A700.206

    5. TS /GL: Vương Thương
    64A700.777

    6. TS /TP: Võ Văn Nam
    71A705.697

    7. TS /VCh: Phan Ngọc Đa
    71A703.001

    8. ThS ĐT: Trần VănThọ
    71A706.845

    9. TT ĐT: Thanh

    10. HQ.Tr/Úy: Vũ Văn Bang
    66A/702.337

    11. HQ.Tr/Úy: Phạm Văn Đồng
    67A/701.990

    12. HQ.Tr/Úy: Huỳnh Duy Thạch
    63A/702.639

    13. HQ.Tr/Úy: Ngô Chí Thành
    68A/702.453

    14. HQ.Tr/Úy: Vũ Đình Huân
    69A/703.058

    15. THS.1/CK: Phan Tân Liêng
    56A/700.190

    16. THS.1/ĐK: Võ Thế Kiệt
    61A/700.579

    17. THS. /VC: Hoàng Ngọc Lê
    53A/700.030

    18. TRS.1/VT: Phan Tiến Chung
    66A/701.539

    19. TRS. /TP: Huỳnh Kim Sang
    70A/702.678

    20. TRS. /TX: Lê Anh Dũng
    70A/700.820

    21. TRS. /ĐK: Lai Viết Luận
    69A/700.599

    22. TRS. /VC: Ngô Tấn Sơn
    71A/705.471

    23. TRS. /GL: Ngô Văn Ơn
    69A/701.695

    24. TRS. /TP: Nguyễn Thành Trong
    72A/700.861

    25. TRS. /TP: Nguyễn Vinh Xuân
    70A/703.062

    26. TRS. /CK: Phạm Văn Quý
    71A/703.502

    27. TRS. /CK: Nguyễn Tấn Sĩ
    66A/701.761

    28. TRS. /CK: Trần Văn Ba
    65A/700.365

    29. TRS. /ĐT: Nguyễn Quang Xuân
    70A/703.755

    30. TRS. /BT: Trần Văn Đàm
    64A/701.108

    31. HS.1 /VC: Lê Văn Tây
    68A/700.434

    32. HS.1 /VC: Lương Thành Thu
    70A/700.494

    33. HS.1 /TP: Nguyễn Quang Mén
    65A/702.384

    34. HS.1 /VC: Ngô Sáu
    68A/700.546

    35. HS.1 /CK: Đinh Hoàng Mai
    70A/700.729

    36. HS.1 /CK: Trần Văn Mông
    71A/703.890

    37. HS.1 /DV: Trần Văn Định
    69A/700.627

    38. HS /VC: Trương Hồng Đào
    71A/704.001

    39. HS /VC: Huỳnh Công Trứ
    71A/701.671

    40. HS /GL: Nguyễn Xuân Cường
    71A/700.550

    41. HS /GL: Nguyễn Văn Hoàng
    72A/702.678

    42. HS /TP: Phan Văn Hùng
    71A/706.091

    43. HS /TP: Nguyễn Văn Thân
    71A/702.606

    44. HS /TP: Nguyễn Văn Lợi
    62A/700.162

    45. HS /CK: Trần Văn Bây
    68A/701.244

    46. HS /CK: Nguyễn Văn Đông
    71A/703.792

    47. HS /PT: Trần Văn Thêm
    61A/701.842

    48. HS /CK: Phạm Văn Ba
    71A/702.200

    49. HS /DK: Nguyễn Ngọc Hoà
    71A/705.756

    50. HS /DK: Trần Văn Cường
    72A/701.122

    51. HS./PT: Nguyễn Văn Phương
    71A/705.951

    52. HS /PT: Phan Văn Thép
    70A/703.166

    53. TT.1 /TP: Nguyễn Văn Nghĩa
    72A/703.928

    54. TT.1 /TP: Nguyễn Văn Đức
    73A/701.604

    55. TT.1 /TP: Thi Văn Sinh
    72A/703.039

    56. TT.1 /TP: Lý Phùng Quý
    71A/704.165

    57. TT.1 /VT: Phạm Văn Thu
    70A/702.198

    58. TT.1./PT: Nguyễn Hữu Phương
    73A/702.542

    59. TT.1 /TX: Phạm Văn Lèo
    73A/702.651

    60. TT.1 /CK: Dương VănLợi
    73A/701.643

    61. TT.1 /CK: Châu Tuỳ Tuấn
    73A/702.206

    62. TT.1 /DT: Đinh Văn Thục
    71A/704.487

    HQ. 4

    HQ Th/Úy:
    Nguyễn Phúc Xá

    Tr. Khẩu 20

    HS1/VC
    : Bùi Quốc Danh

    Xạ Thủ

    Biệt-Hải

    Nguyễn Văn Vượng

    Xung Phong Tiếp Đạn

    HQ.5

    HQ Tr/Úy:
    Nguyễn Văn Đồng

    ThS/ĐT: Nguyễn Phú Hào

    TS1TP: Nguyễn Đình Quang

    HQ.16

    TS/ĐK: Xuân

    HS/QK: Nguyễn Văn Duyên

    Người-Nhái

    Tr/Úy NN: LêVăn Đơn

    Tr. Toán HS/NN: Đỗ Văn Long

    TS/NN: Đinh Hữu Từ
Văn Tế Anh Hùng Tử Sĩ VNCH Hoàng Sa
30 năm ngày giỗ Trận hải chiến Hoàng Sa
19 Tháng 1 Năm 1974


Đây Hoàng Sa. Đây Hoàng Sa
Trận hải chiến lẫy lừng trong lịch sử
Bảo vệ quốc gia - Vẹn toàn lãnh thổ
Vinh quang thay - Hải lực Việt oai hùng
Giữa biển khơi, bao chiến sĩ hy sinh
Máu tô thắm dệt thành trang hùng sử

Ba mươi năm xưa
Một ngày rực lửa
Trung Cộng ngang tàng
Xua chiến hạm tính nuốt trôi đảo Việt
Nào Soái Hạm, Trục Lôi, Hộ Tống
Nào Phi Tiễn Đĩnh, nào Hải Vận Hạm chở quân
Tiến ầm ầm, dậy sóng biển Đông

Hải đội xung kích Hải Quân ta
Trực chỉ Hoàng Sa
Quần đảo hoang sơ, ẩn hiện khói sương mờ
Nằm án ngữ nơi bao lơn nước Việt
Lãnh hải xa, bao đời ông cha ta trấn thủ
Bia đá rành rành, văn bản vẫn còn ghi
Thế mà nay, quân xâm lược rình mò
Giống cuồng khấu, ôm giấc mơ Nam tiến
Ta sẵn sàng nghênh chiến
Dàn đội hình quần thảo một phen
Quyết không hổ danh
Hậu duệ Ngô Quyền, Trần Quốc Tuiấn

Lực lượng ta:
Trần Khánh Dư Khu Trục Hạm
Trần Bình Trọng, Lý Thường Kiệt Tuần Dương Hạm
Nhật Tảo Hộ Tống Hạm oai phong
Biển động sóng cuồng
Súng gầm khạc lửa
Chiến hạm địch quay cuồng bốc cháy
Bộ Tham Mưu tan xác banh thây
Đô Đốc, Tá, Úy, Hạ Sĩ Quan, Đoàn Viên
Thương vong vô số kể
Địch cố thoát vòng vây
Điên cuồng chống trả
Hộ Tống Hạm Nhật Tảo trúng pháo địch
Lửa cháy bùng thượng từng kiến trúc
Ổ súng ngả nghiêng
Đài chỉ huy tan nát

Trung Tá Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà
Dáng dấp thư sinh - Chỉ huy quyết liệt
Dạn dầy hải nghiệp - Sói biển phong sương
Bị trọng thương, quyết theo tầu vào lòng biển

Thiếu Tá Hạm Phó Nguyễn Thành Trí
Trọng thương nhưng tinh thần bất khuất
Xin được chết theo tầu
Hạm trưởng lắc đầu:
''Anh phải đi
Xuồng đào thoát cần một vị chỉ huy
Hãy để một mình tôi ở lại''
Ôi khẳng khái
Những anh hùng biển cả
32 Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Đoàn Viên đã vị quốc vong thân.
Chiến sĩ Hải Quân
Kiên cường bắn tới viên đạn cuối
Trước khi chìm vào lòng biển Mẹ mênh mông

Ngày hôm nay, 19 tháng Giêng năm 2004
Nhớ ngày các anh em đã xả thân vì Tổ Quốc
Lũ chúng tôi, bạn bè cùng trang lứa
Quân chủng Hải Quân, tình chiến hữu năm xưa
Trước bàn thờ bài vị trang nghiêm
Ba mươi năm ngày giỗ trận
Thắp nén nhang thơm tưởng niệm
Dâng ly rượu lễ chí thành
Cúi mong các bạn hiển linh
Hồn thiêng về đây chứng giám
Xin được nghiêng mình vinh danh những anh linh tử sĩ oai hùng:
Hải Quân Trung Tá Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà
Hải Quân Thiếu Tá Hạm Phó Nguyễn Thành Trí
Hải Quân Trung Úy Vũ Văn Bang
Trung Úy Cơ Khí Ngô Chí Thành
Trung Úy CK Hàng Hải Thương Thuyền Huỳnh Duy Thạch
Hải Quân Trung Úy Vũ Đình Huân
Hải Quân Trung Úy Nguyễn Văn Đông
Hải Quân Thiếu Úy Lê Văn Đơn
Một Hải Quân Thiếu Úy vô danh
Hải Quân Thiếu Úy Nguyễn Phúc xạ
Thượng Sĩ Quản Nội Trưởng Châu
Thượng Sĩ Vận Chuyển Lễ
Trung Sĩ Cơ Khí Nguyễn Tấn Sĩ
Trung Sĩ Thám Xuất Lê Anh Dũng
Trung sĩ Điện Tử Trung
Trung Sĩ Giám Lộ Vương Thương
Trung Sĩ Quản Kho Tuấn
Trung Sĩ Trọng Pháo Nam
Hạ sĩ Vận Chuyển Lê Văn Tây
Hạ Sĩ Trọng Pháo Trứ
Hạ sĩ Trọng Pháo Hùng
Hạ sĩ Giám Lộ Ngô Văn Ơn
Hạ sĩ Vận Chuyển Trứ
Hạ Sĩ Nguyễn Thành Danh
Hạ Sĩ Quản Kho Nguyễn Văn Duyên
Hạ sĩ Đỗ Văn Long
Thủy thủ Trọng Pháo Đức
Thủy thủ Điện Tử Thanh
Thủy thủ Trọng Pháo Thi Văn Sinh
Thủy thủ Trọng Pháo Mến
Thủy thủ Cơ Khí Đinh Hoàng Mai
Và hai mươi sáu chiến hữu Hải Quân mất tích

Nhớ chư linh xưa
Tung hoành dọc ngang - Biển Đông vùng vẫy
Lướt sóng kình ngư - Giữ gìn lãnh hải

Hỡi ơi
Nào ngờ biển Đông sóng dậy
Hải âu gẫy cánh trùng dương

Các anh đi
Để nhớ để thương
Cho mẹ, cho cha, cho vợ, cho con
Cho bạn bề các cấp
Gương tuẫn quốc, muôn đời ghi công nghiệp
Lòng hy sinh, sáng mãi đến ngàn thu

Trước bàn thờ
Đèn nến lung linh
Hương trầm ngào ngạt
Hồn linh thiêng
về chứng giám lòng thành
Con Rồng cháu Lạc hy sinh
Xứng danh Liệt Tổ, Liệt Tông
Tổ Quốc muôn đời ghi nhớ

Cung DuyThượng Hưởng

(Trần Quán Niệm và Phạm Tứ Lang hợp soạn Ngày 1 tháng 1 năm 2004)

http://hqvnch.net/default.asp?id=909&lstid=4


Hà Văn Ngạc

Sự tranh chấp về chủ quyền của các đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được các sử gia và các nhà nghiên cứu về thềm lục địa trình bày rất nhiều. Gần đây nhứt là trong cuốn Ðịa lý Biển Ðông của Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San, một công trình nghiên cứu tỉ mỉ, đã sưu tập những tài liệu để chứng minh chủ quyền Việt Nam không những về các hoạt động để xác nhận chủ quyền của quốc gia mà còn phân tích tỉ mỉ về các dữ kiện địa chất, thảo mộc và khí tượng để minh xác là những hải đảo trong vùng Hoàng - Trường Sa đã được tổ tiên chúng ta đặt chân tới đặt bia miếu và trong quá khứ gần đây Việt Nam Cộng Hòa đã tiếp tục tham dự các hoạt đông khí tượng trên bình diện quốc tế.

Khi chính phủ bảo hộ Ðông Dương của người Pháp vào năm 1933 đã ra nghị định sát nhập hành chánh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào các tỉnh ven biển thì chỉ có duy nhứt Nhật bản phản kháng mà thôi và cũng chỉ phản kháng lấy lệ và người Pháp vẫn tiếp tục thi hành nghị định đã ban bố trong công báo Pháp. Ngay cả người Anh, những nhà hàng hải của họ đã khám phá thấy các đảo vùng Trường Sa, nhưng khi Việt Nam, Pháp và Tây Ban Nha ký hiệp ước bảo hộ vào năm 1862 thì họ đã không phản ứng gì.

Sự chiếm đóng quân sự của Ðài Loan trên đảo Thái Bình, của Phi Luật Tân trên đảo Loại Ta, của Trung Hoa Dân Quốc trên đảo Phú Lâm cực bắc của quần đảo Hoàng Sa chỉ vì người Pháp, trong cuộc chiến tranh Ðông Dương đã phải đương đàu ngặt nghèo với các cuộc hành quân tảo thanh cũng như phòng thủ trong đất liền nên chỉ có thể dặt quân trú phòng trên đảo Hoàng Sa mà thôi bằng khoảng một trung đội Lê dương và đã bỏ ngỏ các đảo quan trọng khác. Ðặc biệt là đảo Thái Bình của quần đảo Trường Sa dã bị quân đội Nhật cưỡng chiếm trong đệ nhị thế chiến. Khi quân Nhật đầu hàng thì Trung Hoa Dân Quốc chỉ có nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật nhưng họ đã lợi dụng tình thế bối rối lúc bấy giờ của người Pháp để chiếm cứ luôn, cùng với đảo Phú Lâm của quần đảo Hoàng Sa. Riêng về đảo Phú Lâm thì khi đó chiến tranh quốc - cộng đến thời kỳ gần kết thúc tại lục địa, khiến Trung Hoa Dân Quốc đã buộc phải bỏ ngỏ một thời gian và Trung Cộng đã lấn chiếm vào giữa thập niên 50.

Vào khoảng thời gian này thì Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa còn đang ở trong thời kỳ phát triển mạnh, vả lại Hải Quân còn phải tham dự các cuộc hành quân bình định của chính phủ trong sông ngòi cũng như ngoài ven biển nên các hoạt động ngoài biển khơi chỉ được hạn chế trong công cuộc tiếp tục yểm trợ sự hiện diện uqân sự trên đảo Hoàng Sa khi quân Pháp rút khỏi Việt Nam và dựng bia để khẳng định chủ quyền quốc gia trên đảo, đại diện cho quần đảo Trường Sa là đảo trường Sa (Spratly) mà thôi. Hơn nữa, đảo Phú Lâm lại nằm quá sát vĩ tuyến 17 nên còn nằm trong khu vực phi quân sự theo hiệp đinh Ba Lê năm 1954 mà chính phủ Việt Nam Cộng tuy không công nhận nhưng vào lúc này vẫn muốn không vi phạm.

Cho đến khi kỹ thuật khai thác về dầu hỏa ngoài khơi được tiến triển thì vấn đề thềm lục địa được đặt ra, và chủ quyền của các quốc gia trên các hải đảo được chú trọng nhiều hơn. Trong kỳ hội thảo về bản đồ khu vực của Liên Hiệp Quốc cho Á Châu và Viễn Ðông lần thứ sáu (Sixth United Nations Regional Cartographic Conference For Asia And The Far East) họp tại Teheran, thủ đô Ba Tư vào tháng 10 năm 1970 và kéo dài một tháng, trong đó có các phái đoàn của các nước Ðông Nam Á như Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan), Nhật Bản, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Thái Lan vân vân tham dự, Phái đoàn Việt Nam do Ðại Tá Ðoàn Văn Kiệt (Lục Quân) Giám đốc Nha Ðịa Dư quốc gia, trực thuộc Bộ Quốc phòng, hướng dẫn trong đó có một vị kỹ sư địa dư và tôi tham dự. Trong mấy ngày đầu của cuộc hội thảo, phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan, do một vị tướng 3 sao lục quân cầm đầu) đột nhiên nêu vấn đề chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi phát triển trong hội trường.

Vào thời gian này thì tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân đã có thành lập từ lâu Phòng Nghiên cứu hay Phòng 5, và phòng này đã thu thập được nhiều tài liệu lịch sử cũng như pháp lý về chủ quyền của quốc gia Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng vì đây là một cuộc hội thảo có tính cách hợp tác kỹ thuật do Liên Hiệp Quốc tổ chức, nên tôi đề nghị ngay với Ðại Tá Trưởng phái đoàn là phái đoàn Việt Nam sẽ thảo luận với các phái đoàn Ðông Nam Á khác để được sự ủng hộ của họ hầu phát biểu ý kiến lên hội trường là không đặt vấn đề chủ quyền quốc gia trong cuộc hội thảo nặng về kỹ thuật đồ bản này. Sau đó thì phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc đã không phản đối hay nêu thêm gì khác. Cũng cần ghi thêm ở đây là sau kỳ hội thảo tại Teheran Ba Tư, phái đoàn tham dự các cuộc hội thảo kế tiếp đều được Bộ Tư Lệnh Hải Quân đề cử sĩ quan xung vào phái đoàn. Việc nêu chủ quyền trên các hải đảo Hoàng và Trường Sa của Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) trong một cuộc hội thảo kỹ thuật của Liên Hiệp Quốc đã là một chỉ dấu của một khúc quanh về tranh chấp về chủ quyền các hải đảo, các sự đối đầu sẽ không chỉ còn nằm trong phạm vi tuyên cáo và phản đối lấy lệ về ngoại giao nữa như các quốc gia trong vùng đã từng làm trước đây. Lý do quan trọng nhứt là việc thăm dò các mỏ dầu hỏa từ năm 1969 đến năm 1971 của Việt Nam cộng hòa ngoài khơi Vũng Tàu và Côn Sơn đã làm cho các lân bang chú ý kể cả Trung Công và Cộng sản miền Bắc. Chúng ta còn nhớ là trong khoảng thời gian này, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đã ra tận một trong các dàn khoan để châm lửa đốt hơi dầu khánh thành sự thành công về công cuộc tìm kiếm với một trữ lượng dầu đáng kể do một công ty khảo sát địa chất Huê Kỳ tại Houston đảm trách trong một vùng khoảng 4 ngàn hải lý vuông.

Kể từ tháng chạp năm 1971 thì Việt Nam Cộng Hòa đã đặt ra vấn đề chia khu vực đặc nhượng đã hoàn tất, nhưng mãi đến tháng 7 năm 1973 việc nhượng quyền khai thác mới được công bố. Việc chậm trễ này là do nhu cầu chính trị của thời điểm này mà chính phủ Huê Kỳ đã khẩn khoản yêu cầu Việt Nam Cộng Hòa trì hoãn vì vào lúc đó phong trào phản chiến đang lên cao và họ đã chúi mũi dùi vào các hoạt động của các tổ hợp liên quốc dầu hỏa tại Việt Nam và Cam Bốt. Một phần quan trọng nữa là quốc hội Huê Kỳ đã lưu ý đến thềm lục địa vùng Ðông Nam Á vì vấn đề này có liên hệ tới chính quyền của Huê Kỳ tại vùng này. Do đó vào các năm 1970-71 việc thăm dò mỏ dầu ít được quảng bá để làm dịu bớt phong trào phản chiến tại nội địa Huê Kỳ cũng như không làm phương hại tới hòa đàm Ba Lê. Cộng sản Bắc Việt cũng biết được các dự định của Việt Nam Cộng Hòa về việc đặc nhượng nhưng mãi tới tháng 6 năm 1971 mới lên tiếng phản đối. Ðương nhiên là Trung Cộng cũng đã theo dõi các tiến triển về thăm dò trong lòng biển và chú tâm nhiều về các trữ lượng dầu hỏa đáng khích lệ trong vùng Biển Ðông.

Song song với việc thăm dò dầu hỏa là công cuộc thực hiện đặt quân trú phòng trên các đảo còn bỏ trống thuộc quần đảo Trường Sa do chính Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa chủ trương và nắm phần chủ độngvề mọi công tác. Công cuộc thực hiện này là kết quả của một cuộc thao dượt hạm đội vào đầu mùa hè năm 1973 do Bộ Tư Lệnh Hạm Ðội lúc bấy giờ là HQ Ðại Tá Nguyễn Xuân Sơn đề xướng với sự chấp thuận của Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Tôi với chức vụ là Chỉ huy trưởng Hải đội 3 (Hải đội tuần dương) đã được Tư Lệnh Hạm Ðội trao phó trách nhiệm tổ chức lực lượng và đặt kế hoạch thao dượt cũng như chương trình thám sát các hải đảo. Sau khi hòa đàm Ba Lê được ký kết, thì Hạm đội bấy giờ mới có được một số chiến hạm tạm rảnh tay với công tác tuần dương, cho nên thành phần của hải đội đặc nhiệm đã gồm các chiến hạm khiển dụng hoặc tạm hoãn biệt phái cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân Biển, trong công tác tuần phòng cận và viễn duyên. Vào những năm chiến tranh sôi động thì các chiến hạm lớn hay nhỏ không thuộc loại chuyên chở đều phải thay phiên nhau tham dự công tác tuần dương hay tuần duyên hoặc đảm trách một vài nhiệm vụ yểm trợ hải pháo tùy theo nhu cầu trong vùng công tác. Bởi vậy sự hoạt động của các chiến hạm theo từng phân đoàn hay hải đoàn ít khi được tực hiện và có thể nói là gần như không có, và nếu có thì thời gian hoạt động rất hạn hẹp. Cũng cần lạm bàn thêm tại đây là cuộc chiến tranh tiễu trừ cộng sản trong nội địa đã phải cần sự tham dự của các đơn vị Hải Quân rất nhiều vì hệ thống sông ngòi và kinh rạch từ Cửa Việt vào Miền Nam qua mũi Cà Mâu cho đến Kinh Vĩnh Tế chạy dọc theo biên giới Miên Việt từ Hà Tiên cho tới Châu Ðốc.

Thành phần của Hải Ðội dặc nhiệm thao dượt gồm có: 1 Khu trục hạm, 3 Tuần dương hạm, 1 Trợ chiến hạm, 2 Cơ xưỡng hạm. Cơ xưởng hạm HQ 802 (Hạm trưởng HQ Trung Tá Vũ Quốc Công) là soái hạm của cuộc thao dượt. HQ 801 có chở theo sinh viên Sĩ quan của Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang và một vị Hạm trưởng được tăng phái trên chiến hạm này để huấn luyện về tiếp tế ngoài khơi, vì vậy cuộc thao dượt còn là một môi trường huấn lyện trên đại dương cho các sĩ quan Hải Quân tương lai.

Hải đội đặc nhiệm thao dượt rời quân cảng Sàigòn trực chỉ đảo Trường Sa và tới đảo vào một buổi sáng. Thời tiết vào đầu mùa hè đã bắt đầu nóng nên cuộc đổ bộ lên đảo được thực hiện thật sớm vì đảo không có cây tương đối lớn khả dĩ có thể cho bóng mát để trú nắng. Công tác trên đảo gồm có dựng cờ quốc gia và xây cất một tấm bia vì tấm bi cũ đã không còn thấy, có thể là đã bị các ngư phủ của các quốc gia lân bang khi dừng chân trên đảo đã phá vỡ.

Sau khi đổ bộ lên đảo Trường Sa, hải đội thao dượt trực chỉ đảo Thái Bình, Nam Yết (phía nam đảo Thái Bình) và đảo Sơn Ca (đông Thái Bình). Ði qua đảo Nam Yết và Sơn Ca Hải đội thao dượt chỉ quan sát đảo chứ không đổ bộ và sau đó tất cả các chiến hạm đã bỏ neo phía nam đảo Thái Bình. quân trú phòng của Ðài Loan trên đảo đã phải đặt trong nhiệm sở tác chiến, nhưng sau đó họ nhận thấy quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa nên có thể họ đã an tâm. Hải đội đã liên lạc bằng quang hiệu để xin thăm viếng xã giao trên đảo và được sự đồng ý. Phía đoàn do Tư Lệnh Hạm Ðội hướng dẫn đã lên đảo vào khoảng gần trưa và đã được Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Chỉ huy trưởng quân trú phòng tiếp đón trong phòng khách của Bộ Chỉ Huy và không có cuộc đi thăm viếng trên hải đảo có thể vì lý do bảo mật của họ.

Sau khi Thái Bình, Nam Yết và Sơn Ca, Hải đội trực chỉ phía bắc hướng về hai đảo Song Tử Ðông và Song Tử Tây và ghé qua quan sát đảo Loại Ta. Ðảo Loại Ta lúc đó đã do quân đội Phi Luật Tân trú đóng, và một chòi canh đơn sơ có thể được quan sát dễ dàng từ bên ngoài. Hai đảo Song Tử Ðông và Tây tuy nhỏ nhưng rất gần nhau và có một số cây lớn có thể cho bóng mát.

Cuộc thao dượt kéo dài khoảng 1 tuần lễ, trong suốt các hải trình từ đảo này tới đảo khác, các chiến hạm tham dự đã thực tập mọi phương tiện truyền tin từ hiệu kỳ cho đến vô tuyến âm thoại, thực tập các chiến thế phòng không cho đến chống tiềm thủy đĩnh, hộ tống và tiếp tế ngoài khơi.

Sau cuộc thao dượt, vị Tư Lệnh Hạm Ðội và tôi liên lạc chặt chẽ với Chánh Võ phòng Phủ Thủ Tướng để xin cho hai chúng tôi được trình bầy về quần đảo Trường Sa. Sau khoảng một tuần lễ thì lời thỉnh cầu của chúng tôi được chấp thuận. Hai chúng tôi và một vị Hạ Sĩ quan (Thượng Sĩ VC Nguyễn Mạnh Hưởng) thuộc phòng hành quân Hải đội 3 đã đến Phủ Thủ Tướng với đầy đủ sơ đồ và kính chiếu để thuyết trình trong một buổi hội của Hội đồng nội các do chính Thủ Tướng chính phủ Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm chủ tọa và đông đảo các vị bộ trưởng. Phần thuyết trình là phần mở đầu của buổi hội vào khoảng 9 giờ sáng. Tư Lệnh Hạm Ðội, sau phần trình bầy chi tiết địa lý của các hải đảo cũng như sự chiếm đóng đã lâu ngày của Trung Hoa Dân Quốc và Phi Luật Tân, đã mạnh mẽ đề nghị Việt Nam Cộng Hòa phải có sự hiện diện quân sự trên đảo thuộc quần đảo Trường Sa như: Nam Yết, Trường Sa (Spratly) Song Tử Ðông và Song Tử Tây v.v... Ðề nghị của Hải Quân đã được toàn thể nội các tán đồng ngay mà không có thắc mắc nào được đưa ra thêm để bàn cãi. Sau phần trình bầy phái đoàn Hải Quân rút ra khỏi phòng hội để hội đồng nội các thảo luận tiếp sang các mục khác của buổi hội.

Sau đó, lệnh từ Bộ Quốc Phòng đã đến Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Cục Công Binh và Tiểu Khu Bình Tuy để thi hành việc đồn trú quân trên các đảo vùng Trường Sa. Ðảo được thực hiện trước nhất là đảo Nam Yết. Tôi được chỉ định là Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của cuộc hành quân Trần Hưng Ðạo 22 (chỉ số không chắc chắn). Vào cuối tháng 5, khi gió mùa đông nam đã nhẹ nhẹ thổi, Dương Vận Hạm HQ 504 (Hạm trưởng HQ Trung Tá Vũ Hữu San) khởi hành từ cầu Tự Do, với khoảng một trung đội công binh, xuồng cao su và vật liệu xây cất doanh trại cho một trung đội bộ binh. Sau gần 36 giờ hải hành, việc đổ bộ công binh và vật liệu xây cất cũn như nước ngọt lên đảo rất mỹ mãn và công tác xây cất được khởi sự ngay. Sau vài ngày thì có thêm Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ 4 (Hạm Trưởng HQ Thiếu Tá Nguyễn Quang Ðộ) tới tăng cường. Trong thời gian xây cất, Thuỷ Quân Lục Chiến của Trung Hoa Dân Quốc ở đảo Thái Bình có gởi một xuồng 3 người xuống gần tới các chiến hạm và khi nhận dạng được thì họ quay đầu về sau đó không có hành động gì khác.

Công cuộc xây cất doanh trại được hoàn tất trong vòng hơn 2 tuần lễ và một lễ thượng kỳ đã được tổ chức long trọng trên đảo với nhân viên hải quân, công binh và địa phương quân trú phòng. Một bảng khắc chữ bằng kim loại không rỉ sét (inox) ghi tên cuộc hành quân Trần Hưng Ðạo ... và cấp bậc, danh tánh của tôi là Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân cùng ngày tháng đã được gắn trên nền của kỳ đài. tin từ một cựu chiến hữu Hải quân còn ở lại quê hương cho biết là hình ảnh của bản khắc nói trên đã được Việt cộng xử dụng ít nhất là một lần trong một cuộc triển lãm tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân VNCH cũ để chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng và Trường Sa.

Theo nhiều phân tích gia thì trong thế kỷ 21, vùng Châu Á Thái Bình Dương sẽ trở thành một khu vực kinh tế rất quan trọng của thế giới, cho nên Trung Cộng không những chỉ muốn đạt tới và duy trì vai trò một siêu cường kinh tế mà còn muốn tái diễn một sức mạnh đế quốc của họ trong lịch sử đối với các nước lân bang như là thuộc quốc phải thần phục và triều cống. Trong quá khứ về trước người Trung Hoa không có khả năng để quan tâm tới biển cả nên chỉ phần lớn xâm lăng bằng đường bộ và lực lượng Hải quân của họ chỉ đủ để bảo vệ vùng ven biển và chống hải tặc hoành hành các vùng cận duyên và các cửa sông. Nhưng vai trò mới của Trung Cộng trong vùng Ðông Nam Á về kinh tế cũng như ảnh hưởng về chính trị, cộng thêm với khả năng tối tân của lực lượng hải quân nên Trung Cộng đã đặt nặng vấn đề bành trướng chủ quyền trên mặt biển như một trọng tâm trong tiến trình trở thành một siêu cường trong thế kỷ tới. Cho nên việc hoàn tất cưỡng chiếm toàn quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 bằng một lực lượng hùng hậu về hải lục không quân cũng như quân thủy bộ, và vào các năm sau 1975, các hành động lấn chiếm bằng cách đánh bật lực lượng hải quân Việt cộng để dành giựt cùng cắm dùi các hải đảo cũng như các bãi đá ngầm trong vùng Trường Sa, đã chứng tỏ là các đường lối của họ đã theo đúng các chỉ đạo chiến lược bá chủ vùng Ðông Nam Á.

Báo Tuổi Trẻ phát hành ngày 18 tháng tư 98 tại Sàigòn có đăng tải cuộc phỏng vấn của Ðài phát thanh quốc tế Pháp (RFI), Bà Mônich Sơmiliê Giăngdrô (nguyên văn), giáo sư Luật Ðại Học Ðường Paris đã khẳng định là việc Trung Cộng chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa là hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế, vì những tài liệu lịch sử cho thấy quần đảo thuộc về Việt Nam. Bà cũng đề cập đến các dẫn chứng lịch sử từ thế kỷ 17 và thời vua Minh Mạng. Về phía Trung Cộng, tuy họ nói có những tài liệu xưa hơn cả tài liệu của Việt Nam, nhưng lại chưa đưa ra được văn bản nào đáng tin cậy để chứng minh. Ðài RFI cũng nêu tờ Minh Báo của Hồng Kông (ngày 4-4) tiết lộ Trung Cộng có kế hoạch biến một đảo thuộc Hoàng Sa thành một trung tâm du lịch như Hawaii với khách sạn và nhà hàng và một giới hữu trách ở đảo Hải Nam xác nhận là trong vài năm tới sẽ bắt đầu tổ chức du lịch trên quần đảo Hoàng Sa. Ðài RFI nhận xét kế hoạch này cho thấy Bắc Kinh vẫn không từ bỏ tham vọng lấn chiếm lãnh thổ dần từng bước không những tại biên giới trên bộ mà còn ở vùng biển. Bộ Ngoại giao cộng sản VN đã kịch liệt lên án kế hoạch này và khẳng định là mọi hành động trái phép của ngoại quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là sự vi phạm chủ quyền lãnh thổ của VN. Cũng nên ghi thêm l38 đây là Trung Cộng và Việt cộng đã có tới 10 vòng hội đàm nhưng vẫn chưa giải quyết xong vấn đề Hoàng Trường Sa và cả biên giới trên bộ. Báo Tuổi Trẻ cũng tố cáo là bằng việc xây cất cơ sở hành chánh và với kế hoạch xây khu du lịch để đón du khách, Bắc Kinh đã sáng tạo ra ảo tưởng là quần đảo này vĩnh viễn thuộc về Trung Cộng. Không những thế, ngày 21 tháng 5 vừa qua Trung Cộng lại thêm một lần nữa xác nhận chủ quyền trên các đảo Trường Sa. Phát ngôn nhân của bộ ngoại giao Trung Cộng nói: Trung Cộng có chủ quyền không thể chối cãi ở Trường Sa và các vùng biển lân cận và còn nói thêm là các tầu Trung Cộng có những hoạt động khảo cứu khoa học bình thường ở vùng nói trên hồi gần đây là vấn đề hoàn toàn nằm trong lãnh hải của họ. Trong khi đó thì Bộ Ngoại Giao của Việt cộng nói chiếc tầu nghiên cứu khoa học của Trung Cộng đã hoạt động sâu trong thềm lục địa Việt Nam từ tháng 4 năm nay.

Mặc dầu Việt Nam và Trung Cộng đã có hơn 10 cuộc thương thảo về chủ quyền các hải đảo và lẫn cả biên giới trên bộ, nhưng đến nay vẫn chưa có một kết quả cụ thể nào và đượng nhiên chúng ta sẽ còn thấy nhiều phen gay go xẩy ra giữa Việt Nam và Trung Cộng trong tương lai nhất là Việt Nam và Thái Lan đã chia phần biển để tìm kiếm dầu trong vịnh Thái Lan sau khi đã đạt tới một sự thỏa thuận về lằn ranh khai thác trên mặt biển.

Hà Văn Ngạc
Jun. 15/98
ooOoo
    Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại nói về Hải chiến Hoàng Sa


Nhân lễ Tưởng niệm và vinh danh các chiến sĩ đã hy sinh trong trận Hải Chiến Hoàng Sa sẽ được cử hành nhiều nơi như Dallas, Texas; San Diego, CA; Nam Cali, Bắc Cali, Paris, Pháp; Melbourne, Úc … để vinh danh những chiến sĩ Hải Quân và các quân cán chính khác (Địa phương Quân …) đã anh dũng hy sinh bảo vệ từng tấc đất quê hương, Tuyết Mai xin gởi đến quý vị bài phỏng vấn Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (PĐĐ HVK Thoại), người trực tiếp ra lệnh khai hỏa, tấn công Tàu chiến Hải Quân Trung Cộng ở Quầnđảo Hoàng Sa. Đây là một trận chiến vô cùng hùng anh, oanh liệt thể hiện tinh thần anh dũng của chiến sĩ áo trắng nói riêng, của dân tộc VN nói chung, sẳn sàng hy sinh để chống ngoại xâm trong lịch sử VN cận đại.

Lúc đó, năm 1974, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là Tư Lệnh Hải Quân vùng I Duyên Hải, chịu trách nhiệm bảo vệ vùng duyên hải của Quân khu I, bao gồm quần đảo Hoàng Sa. Cựu Phó Đề Đốc HVK Thoại đã nhận báo cáo tình hình có thuyền bè Trung Cộng xuất hiện ở vùng đảo này từ đầu và đã trực tiếp trình lên Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Chính Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là người trực tiếp nhận thủ bút từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh đối phó với tình trạng xâm nhập bất hợp pháp của Trung Cộng và cũng chính Cựu Phó Đế Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ra lệnh cho Cựu Đại Tá Hà Văn Ngạc, Sĩ quan Chỉ huy chiến thuật khai hỏa trong trận Hải chiến Hoàng Sa.

Kính mời quý vị theo dõi câu chuyện giữa Tuyết Mai và Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại vể diễn tiến trận Hải chiến Hoàng Sa, bắt đầu khoảng 10 giờ sáng ngày 19 Tháng Giêng, 1974 và kéo dài hơn ba mươi phút.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc (khi nói chuyện TM gọi Phó Đề Đốc là Đô Đốc cho ngắn gọn) giới thiệu sơ qua về Quần đảo Hoàng Sa. Trước 1974 Trung Cộng có hành động nào gây chiến ở vùng đảo này không?

PĐĐ HVK THOẠI: Trên đảo không có dân cư sinh sống, chỉ có đài khí tượng quốc tế với bốn nhân viên làm việc. Hai mươi bốn Địa Phương Quân thuộc tỉnh Quảng Nam trú đóng trên bốn đảo, họ di chuyển bằng xuồng cao su. Theo tôi biết thì trước năm 1974 không có sự đụng chạm nào đáng kể với Trung Cộng. Đến đầu năm 1974 Trung Cộng thấy Mỹ rút quân ra khỏi Miền Nam thì họ có kế hoạch xâm chiếm rõ ràng, như cấm cờ hay ồ ạt đổ bộ một số người lên đảo. Khi chúng ta bắt đầu dùng biện pháp đối phó thì họ đưa hạm đội rất mạnh mẽ ra đây.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc khi Đô Đốc được tin có tàu lạ trong vùng lãnh hải của chúng ta, Đô Đốc có trình lên Tổng Thống Thiệu, lúc đó Tổng Thống Thiệu đang ở đâu ?

PĐĐ HVK THOẠI: Đêm 16 Tháng 1, trong công tác Hải quân thường lệ, tôi được báo cáo có nhiều ngư thuyền lạ và có dấu hiệu của một vài hoạt động trên đảo. Lúc đó tôi đang dùng cơm với Tổng Thống Thiệu và một số tướng lãnh ở Mỹ Khê, Đà Nẳng. Tôi có trình cho Tư Lệnh Quân Khu I , tức là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, cũng có mặt tại bữa cơm đó. Trung Tướng Trưởng bảo tôi tới trình ngay với Tổng Thống Thiệu. Tổng Thống Thiệu ra lệnh tôi sáng ngày mai tức 17 Tháng 1đến Bộ Tư Lệnh Hải Quân vùng I Duyên Hải để thuyết trình rồi Tổng Thống Thiệu sẽ cho chỉ thị.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc trong cuốn “Can Trường Trong Chiến Bại”. Đô Đốc có kể Tổng Thống Thiệu viết thủ bút trong vòng 15 phút, ra lệnh Hải QuânVN đối phó với tình hình căn thẳng với Trung Cộng ở quần đảo Hoàng Sa. Theo Đô Đốc Tổng Thống Thiệu có cân nhắc kỹ trước khi ra lệnh đối đầu với Trung Cộng, Hải quân TC rất hùng mạnh.

PĐĐ HKV THOẠI: Tổng Thống đã nghe tôi tường trình tình hình đêm trước, tôi tin chắc là Tổng Thống đã suy nghĩ kỹ. Sáng hôm sau, trong vòng 45 phút, trước khi quyết định, Tổng Thống có hỏi rất nhiều câu hỏi, và có bàn với các vị tướng lãnh hiện diện trước khi lấy giấy mực ra viết thủ bút cho tôi thi hành. Hơn nữa tôi cũng xin nhắc lại là quyết định của Tổng Thống không phải cho nổ súng để tấn công, tiêu diệt hạm đội của Trung Cộng. Chỉ thị của Tổng Thống là mời các ngư thuyền cũng như chiến hạm lạ ra khỏi lãnh hải của chúng ta. Lúc đó tôi cũng chưa chắc những chiến hạm hiện diện đó là của Trung Cộng. Tổng Thống chỉ thị là làm thế nào để chứng minh cái chủ quyền quốc gia của chúng ta trên các hải đảo bằng mọi biện pháp ôn hòa. Nếu họ không tuân lệnh thì bắt buộc mình phải dùng võ lực để mời họ ra. Trước khi cho nổ súng chúng tôi cũng đã cho chiến hạm của chúng tôi đuổi họ ra, nhưng sự khiêu khích của họ càng ngày càng nhiều hơn, cho nên Cựu Đại Tá Hà Văn Ngạc có bàn với tôi là phải đi tới quyết định “ khai hỏa”.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc như vậy thì trận chiến Hoàng Sa lúc đầu dự tính chỉ đuổi những ngư thuyền và chiến hạm ra khỏi lãnh hải, chứ không dự tính trước sẽ có một cuộc hành quân, một trận hải chiến dữ dội giữa Hải Quân VNCH và Hải Quân Trung Cộng?.

PĐĐ HVK THOẠI: Không, không. Tôi nhấn mạnh là không có một cuộc hành quân gì cả. Hôm 18/1 tôi có ra lệnh bằng giấy trắng mực đen cho Đại Tá Hà Văn Ngạc có thể thi hành nhiệm vụ có giấy tờ, nhưng đó không phải là cuộc hành quân mà chỉ là việc làm rất là thường xuyên.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc nói rõ những sự kiện trước khi quyết định khai hỏa, lúc đó Đô Đốc ở đâu?

PĐĐ HVK THOẠI: Lúc đó tôi đang ở Đà Nẳng.Trước khi khai hỏa , Cựu Đại Tá Hà Văn Ngạc cũng đã trình cho tôi rất chi tiết mọi hành động, mọi sự di chuyển của chiến hạm Trung Cộng cũng như của các ngư thuyền cùng mọi chuyện xảy ra trên đảo. Tôi đã ra lệnh mỗi chiến hạm cho một toán đổ bộ lên đảo để thám sát, cho nên chúng tôi nắm rất vững tình hình. Trước khi khai hỏa thì Đại Tá Ngạc có nói với tôi rằng, sự khiêu khích đã đến cái độ thế nào rồi cũng phải nổ súng. Nếu để Trung Cộng nổ súng trước thì bên HQVN sẽ bị thiệt hại nặng nề vì chiến hạm của họ rất tối tân, trong lúc chiến hạm của HQVN to và chậm, lúc đó sẽ không xoay xở kịp. Đại Tá Ngạc có bàn với tôi và tôi đồng ý là khi tình hình không thể nào làm khác được thì chúng ta phải nổ súng trước, và chúng ta nổ súng đồng loạt thì địch phải phân tán hải pháo của họ ra.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc lực lượng hai bên lúc đó như thế nào?

PĐĐ HVK THOẠI: Không kể những ngư thuyền có trang bị vũ khí, lúc đầu họ có hai chiến hạm lớn, sau có tăng viện thêm hai chiếc là bốn, cho thấy rõ ràng là họ còn một lực lượng trừ bị, sẳn sàng tăng cường trong vài giờ . Về phía Việt Nam thì có hai chiến hạm và mất cả ngày mới có thêm hai chiến hạm nữa là bốn chiến hạm. Khi giao chiến thì mỗi bên có bốn chiến hạm.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc diễn tiến trận chiến như thế nào?

PĐĐ HVK THOẠI: Buổi chiều 18 Tháng 1, khi bên HQVN đã ra dấu hiệu bật đèn cũng như ra nhiều dấu hiệu để mời họ ra, Tàu Trung Cộng đã không ra khỏi lãnh hải mà có hành động gây hấn như dọa nạt, chỉa súng vô chiến hạm HQVN và chạy rất gần. Lúc đầu HQ VN làm theo chỉ thị của Tổng Thống, nghĩa là ôn hòa mời họ đi ra, nhưng họ nhất dịnh không chịu ra. Cho đến sáng ngày 19 Tháng 1, 1974 tình hình rất căn thẳng, không thể kéo dài hơn được nữa thì trên soái hạm HQVN Đại Tá Ngạc ra lệnh khai hỏa và chiến hạm Trung Cộng phản pháo, bắn trả lại. Sau đó chiến hạm Trung Cộng thấy Nhật Tảo nhỏ nhất và chạy chậm nhất vì hư một máy nên Trung Cộng đã dồn hải pháo vào chiếc Nhật Tảo, chiếc này chìm trong thời gian rất ngắn. Hạm trường là Thiếu Tá Ngụy Văn Thà đã hy sinh theo chiến hạm.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc là người ra lệnh cho Đại Tá Ngạc khai hỏa?

PĐĐ HVK THOẠI: Đại tá Ngạc có đề nghị rằng “Tới lúc nào đó thì phải nổ súng, vì họ không chịu ra, mình phải dùng võ lực theo chỉ thị của Tổng Thống Thiệu, tức là vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội”. Tôi có nói với Đại Tá Ngạc: "Khi nào ông sẳn sàng thì khai hỏa”. Lúc các chiến hạm ở trong vị thế không thuận lợi thì Đại Tá Ngạc cho khai hỏa. Khi nổ súng thì tôi có nghe trong máy truyền tin, lúc đó khoảng 10 giờ sáng ngày 19 Tháng 1, 1974.

TUYẾT MAI: Thưa theo Đô Đốc, chúng ta không có chuẩn bị, không có kế hoạch trước, lúc đó HQVN có kêu cứu với các Cố Vấn Mỹ?

PĐĐ HKV THOẠI: Trong cương vị của cấp chỉ huy tôi đã biết và tôi phải biết là HK sẽ không tham dự cuộc chiến dù nguy kịch đến đâu. Đó là điều tôi đã biết trước, tuy nhiên tôi cũng có điện thoại về Bộ Tư Lệnh Hải Quân, để hỏi vị trí của Đệ Thất Hạm Đội của HK thì được biết là lúc nào họ cũng hoạt động vùng biển Đông. Bộ Tư Lệnh cho biết Đệ Thất Hạm Đội có mặt tại đó. Tôi không hy vọng họ tham gia, nhưng tôi cần họ cứu vớt người trên biển. Khi sự việc xảy ra rồi, không có chiến hạm nào của Mỹ đến cứu vớt.

TUYẾT MAI: Thưa Đô Đốc sự thiệt hại của hai bên, cũng như HQVN hy sinh như thế nào?

PĐĐ HVK THOẠI: Sau nửa tiếng đồng hồ giao tranh thì hai bên đều rút lui vì hai bên đều thiệt hại nặng cả. Bên HQVN chiếc Nhật Tảo bị chìm, tử thương 58 người (đa số thuộc chiến hạm Nhật Tảo và số còn lại thì gồm có hai người nhái trên đảo). Mỗi chiến hạm có một số bị tử thương. Phía Trung Cộng cũng bị thiệt hại nặng nề, một chiếc bị chìm, về nhân mạng có một số sĩ quan cao cấp bị tử thương , thành ra không thể nói bên nào chiến thắng hay chiến bại . Tuy nhiên tôi được tin từ Cố Vấn HK cho biết một lực lượng hùng hậu gồm 17 chiến hạm khác từ Hải Nam đang hướng về hướng Hoàng Sa, trong đó có 13 chiến hạm với bốn chiếc tiềm thủy đỉnh loại tàu ngầm .

Với một lực lượng như vậy , tôi biết mình không thể nào đối đầu được. Bên HQVN có tăng cường thêm hai chiếc nữa tức là sáu chiếc, nhưng khi hai chiếc sau đang trên đường tới thì Cố Vấn Hoa Kỳ cho biết nếu mà thêm hai chiến hạm VN tham chiến thì sẽ có phi cơ phản lực của Trung Cộng từ đảo Hải Nam đến dội bom. Tôi nghĩ, nếu bên Trung Cộng dùng phi cơ phản lực để dội bom, mà phi cơ VN không ra tham chiến được thì các chiến hạm VN sẽ bị lâm nguy, nên tôi cho các hạm đội trở về.

TUYẾT MAI: Mỗi quân binh chủng có những trận chiến lẫy lừng làm cho người lính rất hãnh diện về tinh thần chiến đấu anh dũng của quân binh chủng mình, có lẽ trận Hải chiến Hoàng Sa là niềm hãnh diện của những “Chiến sĩ áo trắng”. Quân chủng Hải Quân đã chọn ngày 19 /1 làm ngày tưởng niệm và vinh danh các chiến sĩ HQ đã hy sinh. Đây cũng là ngày để ung đúc, nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ Quân chủng HQ.

PĐĐ HVK THOẠI: Vâng, tôi thấy đó là chuyện phải làm để vinh danh những chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc. Tổ chức những lễ vinh danh hay lập tượng đài để tưởng nhớ là điều phải làm . Từ năm 1975 luôn có tổ chức ngày giỗ ở Saigon. Sau 1975 rải rác nhiều nơi trên toàn thế giới, nơi nào có Hải Quân đều có tổ chức ngày giỗ để tưởng nhớ đến những tử sĩ. Chúng tôi cũng tìm gia đình của những chiến hữu đã hy sinh trong trận Hoàng Sa để giúp đỡ, và ở San Diego cũng cố gắng xây đài tử sĩ Hoàng Sa.

TUYẾT MAI: Để kết thúc cuộc nói chuyện này, kính xin Đô Đốc nói vài lời cuối cùng.

PĐĐ HVK THOẠI: Ngày nào tôi còn sống, tôi vẫn nhớ tới những chiến sĩ đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa. Có một điều chắc chắn là đối với thế hệ mai sau, sự hy sinh đó không phải là sự hy sinh oan uổng. Chúng ta sẽ tìm mọi cách để đòi lại những hải đảo đó. Đây là một nỗi đau buồn cho một số gia đình HQ nhưng cũng là niềm hãnh diện chung cho dân Việt Nam. Đây là một hành động rất anh hùng của các chiến sĩ Hải Quân, tôi mong nhân dân Việt Nam, những thế hệ mai sau sẽ nhớ mãi.

Tuyết Mai




















Thursday, January 14, 2010

CÓ NHỮNG ANH HÙNG BÂY GIỜ MỚI BIẾT - Nguyễn Hữu Thiên phỏng dịch

Đại Tá W.S. Reeder

Nguyễn Hữu Thiện (phỏng dịch và đặt tựa)

Lời nói đầu: Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người "anh hùng" được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình. Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku).

Thời gian ấy – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ , có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn gọn trong phần tổn thất của quân bạn: "Phi Đoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích". Chấm hết!

Nhưng với một phi công Đồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Đại-tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng tấn công AH-1G Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ. NHT
* * *

Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nhì của tôi khởi đầu vào ngày 7 tháng 12 năm 1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh" của Tổng thống Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phải công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài.

Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt tấn công mà người Mỹ quen gọi là "Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972" (1972 Easter Offensive). Đây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây. [1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụng "Mùa Hè Đỏ Lửa" thay cho "Easter Offensive"]

Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây - giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui.

Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại Căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở Căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ.

Hôm đó là ngày29 tháng 5, 1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, ở cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy, và luôn luôn để anh bay chung với tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ!

Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Địa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Động Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phòng thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ.

Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình.

Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày.

Sau khi cất cánh khỏi phi trường Kontum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch.

Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của định. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc. Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim - dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ.

Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngày trước khi bị bắt.

Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền; và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Đã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá. Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai cái hamburger còn sống.

Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông - là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì cũng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắc ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái "cầu" này để vào trại.

Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ - gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bị gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Đêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột!

Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại.

"Nhà vệ sinh" này thực ra chỉ là vài cái hố xí để bạn phóng uế xuống. "Vấn đề" là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có "nhu cầu", người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là "nhà vệ sinh" ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không có bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy.

Theo ký ức của tôi thì nước uống không có "vấn đề". Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có "vấn đề". Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được "chiêu đãi" bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây "yucca" ở châu Mỹ La-tinh. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hề được cạo râu.

Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi.

Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại.

Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ!

Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi "phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi", tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó.

Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang.

Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát. Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái n gược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng.

Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực. Mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh.

Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, lại còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất cả sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon lắm. Đừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Đây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình càng ngày tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng. Kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh.

Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Đế đã ban cho.

Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực. Tôi loạng quạng bước đi. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn. Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời!

Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậy, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày. Đôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó.

Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bước đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây "cầu" bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống vào kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng vào người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa!

Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penecillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm công việc áp giải.

Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới "khách sạn Hilton - Hà Nội" lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến..

Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng.

Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh thứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh.

Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho "trang chủ" mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong một ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết.

Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, trở ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do.

Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh - vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết; và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy.

Đại Tá W.S. Reeder

Saturday, January 9, 2010

"Hòa Bình" Ơi ! Vĩnh Biệt Chào Mi - Đoàn Trọng Hiếu

    "HÒA BÌNH" ƠI ! VĨNH BIỆT CHÀO MI

Đoàn Trọng Hiếu

Gần đến ngày ngưng bắn 27-01-1973 của 37 năm về trược Xin kính gởi Quý Anh Chị Hồi Ký Chiến Trường

Vào những ngày cuối tháng 1 năm 1973 trước khi Hiệp Định Paris được ký kết. Lúc đó Liên đoàn 3 BĐQ vừa trở lại Bình Long để tiếp tục trấn giữ phòng tuyến mà mấy tháng trước đây Liên đoàn đã hãnh diện được sát cánh cùng nhiều đơn vị ưu tú của QLVNCH quyết tử thủ để giữ vững tỉnh lỵ này, đã cùng quân dân cả nước viết lên thiên hùng ca BÌNH LONG ANH DŨNG, KONTUM KIÊU HÙNG, TRỊ THIÊN VÙNG DẬY.

Chiều ngày 26 tháng 1 năm 1973, vừa mới về đến căn cứ Lam Sơn sau hai ngày đại đội hành quân đơn độc thăm dò họat động địch cách căn cứ Tống Lê Chân khoảng 5 km về hướng đông, chưa kịp tắm rửa thì được gọi lên BCH/TĐ họp, vừa vào đến tôi đã thấy đầy đủ mặt bá quan văn võ, tiểu đoàn trưởng thiếu tá Trần Đình Nga, tiểu đoàn phó thiếu tá Huỳnh Công Hiển, trưởng ban 3 thiếu tá Nguyễn Thế Kỳ, đđt/ đđ1 đại úy Phạm Bá Thọ, đđt/đđ2 trung úy Nguyễn Văn Phú, đđt/đđ3 đại úy Nguyễn Văn Huy và đđt/đđ4 là tôi trung úy Đoàn Trọng Hiếu cùng các sĩ quan tham mưu khác. Sau khi trưởng ban 3 thuyết trình hành quân nêu rõ mục đích của cuộc hành quân là ''dành dân chiếm đất" mở rộng vùng hoạt động trước khi Hiệp Định Paris sẽ được thực thi vào 8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, đại đội 2 và đại đội 4 của chúng tôi được giao nhiệm vụ tham dự cuộc hành quân này duới sự chỉ huy của thiếu tá Hiển tiểu đoàn phó, đại đội 4 được giao nhiệm vụ làm nỗ lực chính hay nói nôm na là húc và đại đội 2 đi sau với bộ chỉ huy nhẹ, nói là bộ chỉ huy nhẹ cho nó oai chứ vỏn vẹn chỉ có tiểu đoàn phó và hai người mang máy truyền tin PRC25, cùng hoạt động song song với chúng tôi là hai đại đội của tiểu đoàn 31 BĐQ do thiếu tá Đào Văn Năng chỉ huy. Sau khi báo cáo khả năng tham chiến của đại đội là 73 người, đây là con số khá cao của một đại đội BĐQ, lần cao nhất là 89 khi tôi dẫn đại đội nhảy vào tử thủ 3 tháng cũng tại Bình Long này vào ngày 6 tháng 4 năm 72 trước đây. Tôi nhận một bản photo Hiệp Định Paris và gần chục lá cờ VNCH và toan đứng dậy trở về phòng tuyến đại đội thì thiếu tá Hiển gọi tôi lại và kéo tôi về hầm của ông.

- Vào đây làm ly cà phê đã mày, để tao nói tụi nó gọi thượng sĩ Thóc (thường vụ đại đội) lên cho mày.

Nói xong ông kêu anh đệ tử làm hai cái phin và bước sang hầm truyền tin bảo gọi th/s Thóc, trong lúc chờ đợi tôi leo lên nóc hầm ngồi và châm điếu Bastos xanh hít một hơi dài rồi lãng đãng nhả khói thành từng chữ O nhỏ, lúc phin càphê vừa ngưng chảy thì th/s Thóc đến, tôi bảo ông mang người lên lãnh hai ngày lương tươi và gọi các trung đội trưởng nửa tiếng nữa lên gặp tôi tại ban chỉ huy đại đội. Nhắp từng ngụm càphê, tôi tận hưởng mùi vị thơm và đắng của càphê và vị cay nồng khét lẹt của thuốc lá Bastos xanh quen thuộc từ ngày còn đi học, tôi chợt cất tiếng.

- Thiếu tá gọi tôi lại có chuyện gì không vậy ?

- Thì mày cứ uống càphê đi có gì gấp gáp đâu, tao biết dạo này mày có phần hơi buồn vì ông Dậu không đề nghị thăng cấp đại úy cho mày trong trận Bình Long lý do lúc đó mày mới lên trung úy, kể ra thì cũng thiệt thòi, đám sư đoàn 5 và các đơn vị khác nó đều lên hết, tao đéo hiểu mất mát gì mà ổng làm như vậy, ông Thiệu đã tuyên bố mỗi người thăng một cấp thì cứ đề nghị thăng một cấp.

- Đó cũng là lý do thằng Đỗ Mạnh Trường sau khi xuất viện không trở về nữa, thôi chuyện cũ qua rồi quẳng nó sang một bên để vui sống, có điều tôi thắc mắc nhưng không tiện nêu ra trong buổi họp, tại sao không là đại đội nào khác húc ngày mai mà lại là đại đội tôi, thiếu tá cũng biết đại đội tôi vừa mới lội về, tôi thì không sao nhưng anh em lính tráng nó sẽ cho rằng tôi bị đì dễ nảy sinh bất mãn.

- Đây không phải là ý của anh Nga mà là ý của tao, mấy đại đội trưởng kia mới quá, thằng Huy và thằng Thọ lại vừa từ BB chuyển sang, tao đi với mày từ ngày còn bên Campuchia, rồi về giải tỏa Bình Ba Bình Giả, Hưng Lộc, Trảng Bom, có mày tao yên tâm hơn.

Tôi chợt nói đùa với ông như chúng tôi vẫn thuờng đùa như vậy

- Chứ không phải ông lùa tôi ủi để ông bắt cái tiểu đoàn trưởng 36, đại tá Biết biết ông nhắm cái đó nên cứ nhử ông hoài, hai lần ở Hưng Lộc và Trảng Bom tí nữa chết vì ông may nhờ có cái bùa "lỗ mãng" nên thoát nạn, mẹ kiếp đúng là vô chiêu phá hữu chiêu chẳng có bài bản gì cứ nổ một cái là xung phong, mấy cái chốt hãi quá bung nóc hầm mà chạy, kiểu đánh giặc của các đàn anh Trần Thanh Thủy và Đào Văn Năng vậy mà vẫn còn hiệu quả, cái đám vịt con (VC) của hai trung đoàn 33 và 274 chủ lực miền chỉ ngửi cứt cọp 52 Sấm Sét Miền Đông là lo chém vè. Thôi tôi về cho em út chuẩn bị rồi làm một giấc cho tỉnh táo, đêm qua có ngủ gì đâu, đámVC cứ nhá đèn hiệu ở xa, mẹ ! cứ sợ chúng tập trung để tấn công nên cho báo động ứng chiến cả đêm.

Về đến phòng tuyến, vừa chui vào hầm đã thấy thiếu úy Vũ văn Nghị đại đội phó, chuẩn úy Thập Lở trung đội trưởng tr/đ 1, chuẩn úy Nguyễn Minh Châu trung đội trưởng tr/đ2, thượng sĩ I Thanh trung đội trưởng tr/đ 3, cả ba trung đội trưởng này trước đây đều ở trong các đơn vị dân sự chiến đấu sau cải tuyển sang BĐQ năm 1970, thượng sĩ Thóc thường vụ cũng đã có mặt. Trải tấm bản đồ lên bàn tôi chậm rãi.

- Ngày mai 7 giờ sáng mình sẽ tập trung tại sân bay An Lộc, từ đây sẽ đi dọc theo các chốt của tiểu đoàn 36 đến tuyến xuất phát là ấp Bemoi, đại đội mình đi đầu theo sau là đại đội 2 lấy Quốc lộ 13 làm trục tiến quân, mục tiêu A, B, C và D là cầu Cần Lê, bên trái mình bên kia QL13 là hai đại đội của tiểu đoàn 31 với các mục tiêu song song là 1, 2, 3 và 4. Vẽ cho đẹp mắt vậy thôi chứ chưa chắc gì đã qua được cái A vì chúng sẽ chốt dầy đặc, còn nếu đến được cái D thì coi như đã gần tái chiếm lại Lộc Ninh. Ngày mai trung đội 1&2 sẽ đi cùng thiếu úy Nghị bên cánh phải dọc theo dưới suối để tạo bất ngờ, điều này có hơi nguy hiểm nên cố nương theo các lùm tre hạn chế tiếng động và coi chừng bị phục kích, khoảng cách giữa các ông và tôi trên 200 mét rừng tre nên không thấy nhau được, nếu thấy sột soạt ở bên cạnh là cứ việc nổ, đoạn đường trên 500 mét rừng tre không đáng ngại lắm nhưng khi vào tới bìa rừng cao su thì phải thật cẩn thận, lúc đó các ông sẽ ép trái để dễ quan sát và yểm trợ cho nhau, nhớ dặn anh em tuyệt đối giữ im lặng và cấm hút thuốc, luôn sẵn sàng tác chiến. Đại đội 2 sẽ có một trung đội bảo vệ phía sau cho các ông. Có ông nào có ý kiến gì không? thiếu úy Nghị thế nào?

- Tôi đề nghị mình nên mang theo cây cối 60 để có thể yểm trợ cấp thời, nếu được thì xin phở bò làm cho vài quả sâu bên trong bìa rừng cao su 100 mét trước khi mình vào mục tiêu A.

- Tôi sẽ gặp sĩ quan đề lô yêu cầu tác xạ vào các mục tiêu trước khi mình vào, nhưng điều này coi bộ khó quá, từ xưa đến giờ họ chỉ bắn cho mình khi chạm địch, ước gì mình có pháo binh cơ hữu như thằng dù thì hay biết mấy, thứ con ghẻ như bọn mình nó chỉ biết xài như cái mền rách còn quyền lợi thì đíu có, kiếp này lỡ yêu cái mũ nâu rồi kiếp sau xin tởn tới già. Thôi các ông lấy mỗi người 3 lá cờ về nghỉ ngơi chuẩn bị cho ngày mai .

Mọi người đứng dậy về vị trí. Sau khi tắm sơ một cái và ăn tạm gói mì, tôi quay điện thoại lên tiểu đoàn xin gặp sĩ quan đề lô pháo binh yêu cầu tác xạ các mục tiêu ngày mai, viên sĩ quan cho biết sẽ chuyển yêu cầu của tôi về pháo đội, mẹ kiếp cả mặt trận Bình Long do hai liên đoàn 3 và 5 và hai tiểu đoàn địa phương quân hoạt động mà chỉ có một pháo đội 105 và hai khẩu đội 155.

Mờ sáng hôm sau anh em đã dậy chuẩn bị cơm nước cho cả ngày, tôi nhắc các trung đội kiểm tra đạn dược cho đầy đủ và yêu cầu hạ sĩ 1 Sơn Lót cho khẩu đội súng cối mang theo 3 thùng đạn đồng thời 2 hộp đạn cho cây XM202, đây là loại vũ khí chống chiến xa rất hiệu quả. Châm điếu thuốc và nhìn đồng hồ 6:45, tôi nốc cạn ly càphê và lệnh cho đại đội di chuyển theo đường tắt đến sân bay An Lộc, đại đội 2 cũng lục tục theo sau, từ sân bay sau khi tiểu đoàn liên lạc hàng ngang với tiểu đoàn 36 BĐQ để yêu cầu xác nhận lần cuối mọi mìn bẫy đều đã được gỡ, chúng tôi đi dọc theo các chốt của TĐ36 để đến tuyến xuất phát, khai triển đội hình xong tôi gọi các trung đội trưởng và thiếu úy Nghị lại gặp trước khi xuất phát.

- Tác Giả, đang ngồi cùng đơn vị Các ông phải tuyệt đối thi hành những điều đã trao đổi hôm qua, đây là cuộc hành quân quan trọng hơn tất cả các cuộc hành quân trước, vì ngày mai là ngày ngưng bắn, tôi không muốn có những khinh xuất có hại cho đại đội, nói đúng hơn là không muốn có những cái chết lãng nhách do sự tắc trách của chúng ta, trongtrường hợp chạm địch phải bám chặt lấy địa thế và xử dụng tối đa phi pháo có được, an toàn cho đơn vị là ưu tiên hàng đầu, mình có thể còn phải đánh giặc cả đời chứ không phải chỉ còn có hôm nay, thôi các ông về vị trí chuẩn bị Zulu.

Lồng ngực tôi căng phồng như muốn vỡ ra, không phải vì lạnh cẳng, vì suốt mấy năm qua rong ruổi hành quân tôi chưa hề cảm thấy sợ sệt, mặc dù tôi cũng có vợ con, cha mẹ anh em như nhiều người khác, tôi vẫn yêu đời lính trận, và gắn bó với đơn vị như một phần của gia đình tôi, nếu muốn có một cuộc đời an nhàn "sáng vác ô đi tối vác về" thì tôi cũng đã có thể có được sau khi tham dự "Mùa Hè Đỏ Lửa" tại mặt trận Bình Long, vì một lần vào thăm ông chú tôi tại cư xá Trần Hưng Đạo trong Bộ TTM, tôi có gặp đại tá C là bố vợ chú tôi, ông từng có thời gian là trưởng phòng TQT/BTTM, ông ngỏ ý nếu tôi muốn ông có thể giúp tôi về một đơn vị không tác chiến, tôi đã cám ơn vì tôi bay nhảy quen rồi. Hít một hơi thật sâu rồi bảo hai người mang máy.

- Lệnh cho các thằng em xe pháo (xuất phát) và báo cho 522 (tiểu đoàn phó) rõ.

Chúng tôi di chuyển thật chậm, vì rừng tre gai dầy đặc nhiều chỗ phải bò, các toán khinh binh đi đầu không được phát quang vì sẽ gây tiếng động, những con vắt trên những lá tre đang ngo ngoe đánh hơi người nhẩy xuống, không khí thật ngột ngạt, dường như mọi người đều căng thẳng không ai dám bật tiếng ho, chưa bao giờ căng thẳng như vậy, 3 tháng tử thủ Bình Long những lúc bị chiến xa tấn công, hay ngày triệt thoái khỏi Dambe sau khi tướng Đỗ Cao Trí tử nạn cũng chưa căng thẳng như bây giờ, gần một tiếng đồng hồ chỉ nhúc nhích được hơn trăm thước, thêm hai tiếng đồng hồ nữa trôi qua, chỉ còn hơn trăm thước nữa là chúng tôi sẽ bám vào bìa rừng cao su, tôi nói hạ sĩ Vinh mang máy nội bộ gọi Thái Thanh (th/u Nghị),Thanh Lan (Th/u Thập Lở), Khánh Ly (Ch/u Châu) và Lệ Thu (Th/s Thanh) vào đầu máy gặp tôi.

Âm thanh lần lượt trả lời thật nhỏ vang trong ống liên hợp của Thiếu úy Nghị và các trung đội trưởng. Tôi chậm rãi ra lệnh.

- Khi gần đến bìa rừng cao su Thanh Lan và Lệ Thu cho con cái dừng lại bố trí rồi cho một tổ khinh binh bò vào quan sát trước, nhớ nhắc tụi nó thật cẩn thận, nếu có gì khả nghi đích thân các anh phải lên kiểm tra và báo cho tôi ngay, tuyệt đối tránh gây tiếng động, nhận rõ chưa.

Tôi nghe trong ống liên hợp cùng trả lời

-Nhận rõ Minh Hiếu 5

Thời gian qua đi thật chậm, cả đại đội lại nhúc nhích từng bước một, bỗng có dấu hiệu dừng lại truyền từ đằng trước xuống, hơn mười phút sau thiếu úy Thập Lở báo cho biết đã phát hiện một toán việt cộng ở bên trái khoảng cách gần trăm mét ở hàng cao su thứ hai nhưng vì cỏ tranh cao nên không rõ quân số bao nhiêu. Tôi cho gọi các trung đội trưởng vào đầu máy.

- Thái Thanh (đđ phó) cho thằng 1 dàn phía trước, tìm vị trí tốt cho con gà cồ M 60, thằng 2 lên cao bảo vệ hông phải cho thằng 1, thằng 3 cũng dàn về phía trước, địch đang ở bên phải của anh, nhớ khai hỏa đồng loạt, khi tất cả vào vị trí Thái Thanh sẽ hạ lệnh khai hỏa. Tất cả thi hành.

Tôi báo cho th/t Hiển biết là đã phát hiện địch và đang cho khai triển đội hình tấn công, yêu cầu đề lô cho pháo binh chuẩn bị tác xạ vào tọa độ X, hạ sĩ nhất Sơn Lót đã đặt xong cây cối 60. Không đầy 5 phút sau mọi trung đội đã vào vị trí thì lệnh khai hỏa bắt đầu, hỏa lực của hai trung đội 1&3 được tập trung bắn chéo cánh sẻ đan thành lưới đạn khiến bọn VC bị bất ngờ hoảng hốt, vài tên bị đốn ngã, gần chục tên khác bỏ chạy về phía sau, đơn vị VC ở phía sau bắt đầu đáp trả bằng nhiều loại vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng, tôi ra lệnh cho các trung đội tiến chiếm lấy 3 hàng cao su để có chỗ che chắn tránh thiệt hại bởi B40, yêu cầu pháo binh tác xạ khẩn cấp vào tọa độ đã yêu cầu trước, vì tác xạ qua đầu và khoảng cách giữa ta và địch chỉ hơn trăm thước nên sau 3 lần điều chỉnh cắt đoạn để tránh tản đạn tôi yêu cầu bắn hiệu quả trung đội 10 quả, bọn VC cũng chẳng vừa cối 82 và 107 của chúng từ trong phía đông Quản Lợi bắt đầu rót vào trận địa nhưng không chính xác, pháo 130 từ hướng Lộc Ninh cũng rót vào thành phố để quấy rối, lúc này nhiều đơn vị cũng đã chạm địch, đạn nổ từ phía Quản Lợi, phía Phú Lô, phía nam Xa Cam, phía bên trái chúng tôi là đơn vị của tiểu đoàn 31 cũng bắt đầu chạm phía cao hơn chừng vài trăm thước, mẹ kiếp đụng khắp nơi mà chỉ có vài khẩu pháo thì thằng nào ăn thằng nào nhịn, khẩu đội súng cối 60 bắt đầu yểm trợ nhỏ giọt cho tuyến trên rất hiệu quả. Hơn một giờ giao tranh đã có 4 binh sĩ bị thương được chuyển ra phía sau nhờ đại đội 2 tải thương, bỗng có đại úy Khuê phụ tá ban 3 liên đoàn cần gặp, tôi vội cầm ống liên hợp

- Minh Hiếu tôi nghe đây Kinh Kỳ

- Có mấy con đại bàng lên, giành mãi mới được, tao giao nó cho mày, con Loan 19 nó sẽ liên lạc với mày trong vòng dăm phút nữa khi nó vào vùng, nhớ đánh cho có hiệu quả hàng đang khan hiếm đừng phung phí, ông già (đại tá Biết liên đoàn trưởng) gởi lời thăm nhắc mày cẩn thận.

Bọn VC có lẽ đã ước đoán được lực lượng của chúng tôi nên chúng đột nhiên nổ súng dữ dội để áp đảo rồi cho một lực lượng khoảng 30 tên xuất kích chọc thẳng vào khoảng cách giữa hai trung đội, có lẽ chúng muốn đánh thẳng vào ban chỉ huy đại đội, hoặc sẽ đánh bọc đít cánh quân bên phải, mặc dù tuyến trên cũng xử dụng tối đa hỏa lực ngăn cản nhưng chỉ gây thiệt hại và làm chậm sức tiến của chúng, những tên đi đầu đã lọt được vào khu rừng tre, tôi vội vàng xin đại đội 2 dâng lên cao hơn gần tôi để dễ tiếp cứu. May mắn vừa lúc đó chiếc L19 đã quần trên đầu

- Mũ nâu đây Loan mắt nhung nghe được tôi không trả lời.

Cầm ống liên hợp do Hạnh đưa tôi vội trả lời:

- Mũ nâu tôi nghe bạn rất tốt, tôi cần mấy đứa em bạn đánh liền

- OK chúng đang chờ, tôi chỉ cho bạn một nửa vì còn dành cho đơn vị khác, xin chỉ định mục tiêu ngay.

Tôi quyết định thật nhanh nhưng cũng thật táo bạo và nguy hiểm

- Tôi sẽ quăng trái khói đỏ, từ đó bạn đánh về đông 50, bắc 50, Xin đánh theo trục nam-bắc vì chúng tôi đang ở hai bên của mục tiêu không đầy 100 thước.

- OK nhận bạn rõ, bạn yên tâm đây là bọn A 37 nên rất chính xác, cho quăng trái khói liền.

Tôi rút vội trái khói đỏ dùng hết sức ném về hướng đông, và lệnh cho các trung đội nằm rạp xuống để tránh bom

- Thấy rồi, sẽ làm đúng ý bạn, xin cho con cái cẩn thận. Từ đằng sau chiếc A37 xuống thật thấp trút bom, hai tiếng nổ tưởng như rách màng tai, sức chấn động nhấc người tôi lên khỏi mặt đất làm rơi chiếc mũ sắt, chưa kịp nhặt lên thì chiếc thứ hai đã lao xuống, hai trái napal tạo thành một biển lửa nóng rát mặt, gần chục tên may mắn sống sót sau trận bom chạy thục mạng về, có vài tên sợquá đã la lên:

- Đừng bắn nữa các anh Biệt Động Quân ơi! mai hòa bình rồi.

Chiếc L 19 cho biết đã đánh rất chính xác theo yêu cầu, chào tạm biệt và rời vùng. Thêm 3 binh sĩ bị thương nhẹ vì chấn động và đất đá văng vào, phi tuần A37 với hai pass bom liều mạng đã xoay chuyển tình hình, đám VC có lẽ đã xuống tinh thần sau thất bại thảm hại của lần xuất kích, cường độ của trận đánh cũng bắt đầu giảm dần theo ánh chiều tà, mới 4 giờ chiều trong rừng cao su đã không còn ánh nắng, súng nổ cũng đã ngớt dần rồi im hẳn, th/u Nghị hỏi tôi có cho lục soát mục tiêu không, tôi gọi th/u Nghị vào máy dặn dò.

- Tao nghĩ thế đủ rồi, không cần thiết phải lục soát, đám VC chắc không dám phản công nữa đâu, mày có nghe tụi VC bỏ chạy chúng la cái gì không? chẳng biết hòa bình hư thực thế nào nhưng thằng lính đéo nào mà chả mong, rất may mình chỉ có 7 em bị thương nhưng không nặng lắm chỉ đủ để về quân y viện nằm ít ngày, mày cho anh em thay phiên canh chừng và cho lui về bìa rừng tre đào hố phòng thủ hai người, tối đến trước khi lui về tuyến phòng thủ cho anh gài hết đồ chơi, đêm nay tuyệt đối không ai đuợc cởi giầy, hai người một hố thay nhau thức, ráng sống đến ngày mai để nhìn hòa bình, bên đây tao và thằng 3 cũng làm như vậy.

Nói xong tôi cho gọi th/s nhất Thanh và th/s Thóc đến dặn dò, rồi gọi cho thiếu tá Hiển tiểu đoàn phó trình bày ý định và được ông đồng ý, ông cũng cho biết ông và đại đội 2 sẽ đóng quân tại tuyến xuất phát, nhưng vẫn để một trung đội nằm đằng sau cánh quân bên phải chừng 200 thước. Sau khi khai triển hệ thống phòng thủ, tôi thiết lập các điểm tiên liệu pháo binh và gởi cho sĩ quan đềlô, hơn một giờ sau th/u Nghị báo cáo hệ thống hầm hố phòng thủ đã xong, mọi hố đôi đều được đào đủ sâu và rộng cho hai người, tôi cũng đích thân kiểm tra phòng tuyến bên này, quả thật khác với những lần đóng quân đêm trước, lần này chẳng cần đôn đốc nhắc nhở, ai cũng muốn mình còn sống để sáng sớm mai đây được nhìn thấy hòa bình nên hố nào cũng đạt yêu cầu.

Mẹ kiếp ! ngày mai hòa bình thằng đếch nào mà chẳng muốn sống. Tôi cũng thế, sau hơn 4 năm quen đời lính trận, vẹt gót giày sô từ chiến trường nội địa đến ngoại biên, chưa một lần đi phép thường niên để có đủ 7 ngày phép bù khú với vợ con, bạn bè đồng đội nhiều thằng đã thành tàn phế, cũng có nhiều thằng đã về vùng 5 miên viễn chiêm bao, lớn lên và trưởng thành trong chiến tranh tôi cũng khát khao được sống để nhìn cuộc chiến tàn lụi, trên cương vị đại đội trưởng tôi cũng không muốn bất cứ thuộc cấp nào phải chết trong ngày và đêm hôm nay, làm sao tôi có thể trả lời khi có người hỏi tôi "trung úy ơi! hòa bình rồi mà sao chồng con tôi lại chết?" vâng chết vào giờ thứ 23, 24 hoặc 25. Đám cán binh VC kia dù có bị nhồi sọ điên cuồng đi "giải phóng miền Nam", dù có bị mang ra phê bình kiểm thảo thanh trừng, cũng không đứa nào muốn phải chết hôm nay, chúng cũng còn muốn nhìn thấy hòa bình, ngay kể cả các cấp chỉ huy cấp thấp hay cao hơn nữa của chúng cũng còn muốn thấy như vậy. Chỉ có đám lãnh đạo chóp bu của Hà Nội và đám đầu cơ làm giàu trên thân xác người lính VNCH mới ghét hòa bình và cổ võ chiến tranh.

Trải tấm poncho bên cạnh cái hố, nhai vội vài miếng cơm vắt với con khô sặc, từ sáng đến giờ chưa ăn gì nhưng không cảm thấy đói, tôi vẫn có thói quen ăn ít uống nhiều, càphê ngày cũng dăm bảy cữ , vừa ngả lưng gối đầu lên chiếc nón sắt thì th/s Thóc thường vụ mang đến ca càphê nóng hổi, tôi biết tỏng là lại dùng C4 để nấu, ông ngồi xuống và rót cho tôi một nửa và thắc mắc hỏi tôi.

- Mai hòa bình thiệt rồi hả trung úy, cả ngày nay tôi chỉ sợ trung úy cho xả láng như những lần trước, tôi lo quá mà không dám hỏi.

- Ừ thì ngày mai thi hành hiệp định Paris, ai ở đâu ở đó, chắc rồi sau đó sẽ có hòa bình, còn hòa bình kiểu nào thì tôi cũng chịu, đêm nay ông cùng th/sThanh chịu khó đi kiểm tra thường xuyên cho tôi, có thể chúng không tấn công đâu, nhưng chúng sẽ pháo. Này ông Thóc, nếu hòa bình rồi thì ông làm gì ?

- Tôi hiện dịch không biết có cho giải ngũ không, quê tôi ở Sađéc nếu được giải ngũ tôi sẽ theo nghề ông già là làm bánh phồng tôm.

- Ông còn có nghề chứ như tôi rời ghế nhà trường là vào lính, học hành dang dở, nửa thầy nửa thợ, mà thôi hơi sức đâu lo xa, tới đâu hay tới đó.

Con trăng non đã lú qua đầu ngọn tre gai, nay đã khoảng mùng mười tháng chạp, chỉ còn độ hai chục ngày nữa là lại Tết, cả hai chúng tôi bắt đầu im lặng, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng tư, hình ảnh của thời còn đi học lúc ẩn lúc hiện xen lẫn với hình ảnh của những ngày giầy sô áo trận cứ lởn vởn trước mắt, cái quán cà phê chồm hổm đối diện trường Văn Học trên đường Phan Thanh Giản chúng tôi thường ngồi mỗi buổi sáng trước khi vào học, bắt chước mấy ông đạp xích lô đổ càphê ra dĩa vừa thổi vừa uống, hay những hôm trốn giờ luận lý học của LM Trần Văn Hiến Minh cả bọn kéo xuống Cà phê Thư Hương đối diện trại hòm Tobia ở Tân Định, hay những ngày đóng quân ở Mimot mỗi chiều về mấy thằng lại cùng nhau cưa một bình 5 lít với soài xanh và khô sặc dầm nước mắm ớt trước khi đi kích đêm trong khu rừng cao su âm u bạt ngàn ...

Đang mơ màng thì lại nghe tiếng đề pa, chụp vội chiếc nón sắt lăn xuống hố, không nghe đạn rít trên đầu, vậy là không phải mình, hơn chục quả nổ trong thành phố, nhìn đồng hồ mới hơn 10 giờ, không biết đêm nay sẽ phải nhẩy xuống hố bao nhiêu lần đây (sau này tôi đuợc biết đợt pháo này đã liếm mất một cái chân của trung tá Ngô Minh Hồng liên đoàn trưởng LĐ5, và một đại tá cố vấn Mỹ hy sinh). Tôi nghiệm ra rằng tiếng đề pa từ phía bắc tức là pháo vào thành phố, còn từ phía đông tức là pháo vào chúng tôi, hồi chiều chúng đã gởi đến mấy chục trái nhưng đều vọt qua đầu, không biết có dính vào TĐ31 không ?

May mắn thay đựơc yên đến gần sáng, khoảng gần 6 giờ sáng tiểu đoàn cho biết đúng 8 giờ chuông nhà thờ trong thành phố và trong Quản Lợi sẽ đổ một hồi dài, các đơn vị cho bắn mấy trái signal để làm hiệu bắt đầu thi hành hiệp định, tôi báo cho các trung đội rõ để thi hành, rồi gọi hạ sĩ Tào Khén nấu cho ca càphê. Thời gian chờ đợi để đón hòa bình sao trôi qua thật chậm, thỉnh thoảng lại nhìn đồng hồ, chiếc kim dài làm như không chạy nổi, sự bồn chồn nôn nóng chờ đợi khiến tôi đâm lo lắng, e có điều gì bất trắc sẽ xảy ra, linh tính có gì không ổn và điều này vẫn thường xảy ra và đúng, tôi lệnh cho đại đội báo động trong tư thế sẵn sàng tác chiến, không đầy mười phút sau những tiếng đề pa từ hướng đông vọng đến, gần hai chục quả nổ sát phòng tuyến không đầy 50 thước, mẹ cha nó chỉ còn non nửa giờ nữa mà chúng cũng còn cố vớt vát cú chót, chuẩn bị hòa bình kiểu này thì đíu khá được, chẳng biết hòa bình rồi sẽ tồn tại bao lâu.

Đúng 8 giờ khi chuông nhà thờ đổ, các đơn vị đều cho giựt signal lên, tôi lệnh cho các trung đội vẫn phải đề cao cảnh giác, cho đặt các vọng gác cẩn thận rồi cho căng cờ lên, mười lá cờ vàng trải dọc theo bìa rừng cao su đánh dấu vị trí gần nhất đối diện với tuyến VC, gần một tiếng sau từ bên phía VC có tiếng la to.

- Cấp chỉ huy bên đây muốn nói chuyện với cấp chỉ huy bên đó.

Thiếu úy Nghị gọi máy hỏi tôi tính sao, tôi trả lời

- Tao sẽ sang gặp tụi nó, mày cho em út gỡ đồ chơi dọn một lối đi và cho tụi nó sẵn sàng, có gì bất trắc tao la lên thì cứ nổ.

Tôi cũng báo cho th/tá Hiển là tôi sẽ đi gặp tên chỉ huy đơn vị Việt cộng. Lấy chiếc beret nâu đội lên, tôi đi người không tiến ra khỏi phòng tuyến của đơn vị hơn năm mươi thước rồi dừng lại, từ phía bên kia một tên trong bộ kaki Nam Định, vai đeo cái sắc cốt, cây K54 ngang hông tiến đến, tôi đưa bàn tay cho hắn bắt và tự giới thiệu:

- Tôi là trung úy Hiếu cấp chỉ huy Biệt Động Quân.

Tôi không nói tôi là đại đội trưởng vì e hắn sẽ đoán được lực lượng của mình, hắn cũng tự giới thiệu

- Tôi là Cao, chính trị viên tiểu đoàn, là đơn vị đối đầu với đơn vị của trung úy, ngày hôm qua bên ấy có ai bị gì không, nếu có tôi xin chia buồn.

Thấy thái độ "nhân nghĩa bà tú Đễ" của hắn tôi cười thầm trong bụng

- Cám ơn anh, rất may chỉ có vài anh em bị thương nhẹ, còn bên anh thì sao ?

- Chúng tôi có mười sáu chiến sĩ hy sinh trong đó có thiếu úy Phú đại đội trưởng. Tôi muốn gặp trung úy để thứ nhất trung úy cho chúng tôi nhận lại số anh em chết còn ở phía bên khu vực của anh. Thứ hai là chúng ta bàn về lệnh ngừng bắn. Thấy không thể giải quyết yêu cầu đầu tiên của hắn liền ngay được, và khả năng về chính trị của mình thật sơ đẳng nên tôi trả lời:

- Đầu tiên xin anh cứ gọi tôi là Hiếu cũng như tôi gọi anh là anh Cao, yêu cầu thứ nhất của anh tôi sẽ xin chỉ thị ở cấp trên, nếu cấp trên đồng ý tôi sẽ cho mang số anh em đó ra đây và gọi anh đến nhận, điều thứ hai là bản hiệp định đã được hai chính phủ ký chúng ta không có điều gì phải bàn, để thực thi hiệu quả và dễ nhất là nếu anh thấy chúng tôi vượt qua hàng cao su mà anh và tôi đang đứng đây thì anh cứ cho nổ súng, và chúng tôi cũng vậy mong rằng chúng ta hãy tôn trọng để tránh đổ máu vô ích. Giờ thì chúng ta hãy nói những chuyện khác.

- Nếu anh không muốn bàn về Hiệp Định thì thôi, cứ tạm chấp nhận giải pháp của anh, thỉnh thoảng chúng ta nên gặp nhau để thiết lập quan hệ bình thường, có điều tôi thắc mắc là dường như đa số sĩ quan trong quân đội miền Nam đều là người Bắc.

Chẳng biết hắn căn cứ vào đâu để nói như vậy, tuy nhiên tôi cũng nói thêm để hắn tin rằng điều hắn nói là đúng.

- Có thể điều anh nói là đúng, vì ông bà cha mẹ chúng tôi đã phải di cư vào Nam vì không sống được với Cộng Sản, giờ các anh lại vào đây để quấy phá dĩ nhiên là chúng tôi cũng như con cháu chúng tôi sau này phải chống lại.

Đang nói đến đây thì có một người đàn ông tuổi ngoài bốn mươi mặc chiếc quần đen và cái áo sơmi trắng đã ngả sang màu cháo lòng đi chân đất tiến đến, theo sau là hai tên cận vệ đeo AK47, Cao bèn chỉ tay vào người đàn ông giới thiệu.

- Đây là đồng chí Nam Bộ Tư Long, tiểu đoàn trưởng, còn đây là trung úy Hiếu

Tôi bắt tay hắn ta, nhận thấy hắn ta mặt rỗ và nước da vàng vọt có lẽ vì sốt rét kinh niên. Sau vài câu xã giao tôi tìm cách kiếu từ vì chẳng còn gì để nói.

Tôi trình lên thiếu tá tiểu đoàn phó về việc họ muốn xin lại số bị chết nằm trong khu vực kiểm sóat của mình, đồng thời cũng để tránh phải lo chôn bọn họ nên được chấp thuận ngay, tôi cho lục soát và tìm thấy 9 xác cùng một số vũ khí, cho khiêng số xác này đến lằn ranh và gọi họ sang nhận còn số vũ khí thì chuyển giao lên tiểu đoàn.

Ngày đầu tiên thi hành Hiệp Định Paris, tạm thời không còn tiếng súng, chúng tôi ai cũng thấy hân hoan tuy có pha lẫn đôi chút ngỡ ngàng, hòa bình gì mà đến thật kỳ quái, mới hôm qua đây còn tìm mọi cách để giết nhau, thậm chí sáng nay chỉ trước giờ ngưng bắn mấy chục phút mà Việt cộng còn cố pháo vớt vát cú chót, rồi đây không biết tồn tại được bao lâu, nhưng thôi được ngày nào hay ngày nấy. Tuy nhiên dù có hòa bình thì cũng vẫn phải cảnh giác, các chốt tiền đồn được tung ra, hệ thống phòng thủ được củng cố cho vững chắc, phát quang xạ trường, tăng cường hệ thống mìn claymore tự động và trái sáng.

Chỉ sau ngày thi hành hiệp định hơn một tuần đã bắt đầu nghe tiếng súng nổ ở phía đông và phía nam, nhưng ở phía bắc của chúng tôi vẫn hoàn toàn yên tĩnh, tôi và Cao thỉnh thoảng cũng vẫn gặp nhau trao đổi chuyện trò hoàn toàn đề cập về thăm hỏi gia đình, cho đến khi trước tết vài ngày một sự việc xảy đến để rồi sau đó chúng tôi không còn gặp lại nữa.

Câu chuyện xảy ra như sau, còn khoảng gần một tuần thì Tết Nguyên Đán, đơn vị VC cho dựng một cái cổng bằng vỉ sắt trên Quốc Lộ 13 xế bên tay trái chúng tôi, họ lấy lý do là đón tiếp phái đoàn Ủy Hội Quốc Tế. Tôi trình lên trên và nhận được chỉ thị không cho họ được dựng gần mình, tôi có gặp Cao yêu cầu dời xâu về hướng bắc 500 mét, ngày hôm sau Cao cho tôi biết là cấp trên không đồng ý, tôi hạn cho anh hai ngày nữa để anh lo liệu, nếu không tôi sẽ phải hạ nó xuống, lại một lần nữa Cao trả lời trên không thuận. Sáng sớm hôm sau tôi cho đại đội ứng chiến rồi cùng khẩu đội XM202 tiến đến gần cái cổng và phóng vào một bên trụ một trái đạn, chất lân tinh bám vào trụ sắt cháy nóng trên 3000 độ khiến trụ sắt chảy ra và đổ gục xuống cháy luôn cả lá cờ "giải phóng".

Sau Tết ít ngày bọn VC bắt đầu pháo vào thành phố, hòa bình đã dần dần bị chúng phá vỡ dưới sự bao che của đám Ba Lan, Hungary và Indonesia trong Ủy Hội Quốc Tế, mặc dù bọn chúng nằm ngay trong Bình Long đã cùng hứng chịu những đạn pháo này. Cao nhiều lần muốn gặp tôi tôi đều từ chối, lần sau cùng tôi nhờ thiếu úy Nghị nói với hắn là tôi đã chết trong lúc đi vào thành phố thì bị trúng pháo của Việt cộng. Đơn vị tôi nằm tại đây thêm hai tháng nữa, nhưng cũng vẫn không xảy ra chuyện gì.

Dù sao thì chúng tôi cũng đã có một thời gian ngắn hòa bình, dù chỉ là hòa bình giả tạo. Vì thế sau này chúng tôi không còn tin có thể có hòa bình với Việt cộng nữa, ngày 30/4/75 giao tranh với bọn chúng tại Bà Hom dọc theo xa lộ Đại Hàn, bị chiến xa của chúng truy kích chúng tôi phải triệt thoái vào Tân Phú, ngang qua một đồn canh, anh em nghĩa quân đeo băng xanh hô lớn "hòa bình rồi các anh Biệt Động Quân ơi", lại hòa bình hai chữ này chẳng còn ý nghĩa gì vì tôi đã chào vĩnh biệt nó chỉ sau ngày thi hành hiệp định Paris không lâu.

Biệt Động Quân
Đoàn Trọng Hiếu

Monday, December 14, 2009

NHỚ LẠI CHIẾN TRƯỜNG XƯA: ĐỒNG XOÀI - BÙ NA - Đỗ Văn Phúc

Đỗ Văn Phúc

Quốc lộ 13 từ Sài Gòn qua Bình Dương, An Lộc, đến Lộc Ninh. Đến căn cứ Alpha là tiền đồn cuối cùng của Sư Đoàn 5 BB thì vượt biên giới Việt Miên đến thị xã Snuol thuộc tỉnh Kratie. Qua khỏi thị xã Bình Dương chừng cây số, đường 13 tách một nhánh tại Ngã Tư Sở Sao để thành Liên Tỉnh Lộ 13 [1]. Từ đây đi qua các quận Phú Giáo, Đồng Xoài đến ngã ba Bù Noi thì rẽ làm hai. Qua tây thì đến Phước Bình, tỉnh lỵ của Phước Long; sang đông thì chạy lên Ban Mê Thuột.

Đồng Xoài, quận lỵ của Đôn Luân, chỉ cách Sài Gòn 88 cây số. Nơi đây có một trại Dân Sự Chiến Đấu với một toán Lực Lương Đặc Biệt Việt Nam và nhóm Cố vấn Mỹ. Quân số chừng một tiểu đoàn. Ngày 9 tháng 6, 1965, đã khởi sự một trận chiến đẫm máu khi hai Trung Đoàn VC 292 và 293 và một đơn vị thuộc Công Trường 9 Cộng quân đánh bất ngờ vào quân lỵ và vây khốn quân tiếp viện gồm một tiểu đoàn Bộ Binh[2], Tiểu Đoàn 7 Dù và Tiều Đoàn 42 Biệt Động Quân. Sau mười ngày ác chiến trong thế cài răng lược, quân địch mới rút khỏi quận lỵ để lại 350 xác chết. Mức tổn của ta tương đối cao. Lần đầu tiên kể từ khi đổ quân tham chiến, quân Mỹ chịu tổn thất cao nhất với 7 tử trận, 12 mất tích và 15 bị thương.

Trên con đường huyết mạch đi Phước Long xuyên qua khu rừng nguyên sinh, chỉ có lác đác vài sóc Thương. Đường thì không được sử dụng thường xuyên. Đoạn đường đi Ban Mê Thuột thì coi như bỏ phế luôn. Bom đạn cày nát mặt đường nhưng không hề được tu sửa. Cây cỏ từ hai bên đã mọc lan qua mặt đường lởm chởm những đất đá và miểng đạn. Chỉ có xe làm be và lâu lâu có xe đò tháp tùng sau những chuyến mở đường của Bộ Binh để cho đoàn công voa chở tiếp tế cho Phước Long. Thời gian này, Hoa Kỳ bắt đầu xử dụng thuốc khai quang mở rộng khoảng trống từ con lộ vào thêm chừng 50 mét mỗi bên. Cây be được thợ rừng đốn ngã để nằm rải rác ở bìa rừng đã được Việt Cộng lợi dụng làm công sự để phục kích các đoàn xe của ta. Nằm an toàn dưới những súc gỗ có đường kính cả mét, thì chẳng có loại đạn thẳng hay vòng cầu nào tiêu diệt được chúng.

Gần cuối năm 1969, Tiểu Đoàn 4/8 được lệnh tăng phái cho Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh để hành quân mở đường từ Đồng Xoài đến Phước Bình, trên một quảng đường dài chừng hơn 50 cây số. Mỗi đại đội bộ binh cùng một chi đoàn thiết giáp chịu trách nhiệm hơn 15 cây số. Đại đội 16 do Trung Úy Nguyễn Quang Lộc chỉ huy và Chi Đoàn 1 Chiến Xa chịu trách nhiệm khúc giữa, từ Bunard trở lên hướng Bắc đến gần ngã ba Bù Noi. Đặc biệt tại Sư Đoàn 5, vào đầu tháng 5, 1969, được bổ sung 39 tân sĩ quan mới ra trường từ Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt; mỗi đại đội có 2 Đại đội phó: một hành quân và một CTCT. Anh hành quân thì được ấn định trong bảng cấp số đàng hoàng; còn anh lo về CTCT thì Bộ Tổng Tham Mưu chưa ghi vào cấp số. Phúc lúc đó là Thiếu Úy Đại đội Phó CTCT bên cạnh Thiếu Úy Hoàng Ngọc Việt đang thụ huấn gì đó ở Sài Gòn. Các Trung Đội Trưởng 1, 2, 3, và 4 (vũ khí nặng) tuần tự là các Chuẩn Úy Nguyễn Văn Mâu, Lô Đức Tân, Nguyễn Văn (?) Phương, và Trung sĩ Nhất người Nùng Vòng A Pẩu. Cũng thời điểm này, Mỹ còn duy trì ban Cố vấn ở cấp Tiểu đoàn, các cố vấn có khi lặn lội theo đại đội hành quân để liên lạc xin phi pháo yểm trợ khi cần. Đi theo Đại đội 16 là một Đại Úy Mỹ còn trẻ, xuất thân trừ bị Fort Benning, có quân vụ chưa tới 4 năm. Người phụ tá mang máy PRC-25 là Trung sĩ nhất Davidson, người da đen cao lớn vui tính. Anh Đại Úy Mỹ sặc mùi kỳ thị, tự cao. Khi nói đến chương trình học 4 năm của trường Võ bị Đà Lạt mà sau khi tốt nghiệp, phải mất thêm hơn ba năm mới lên Đại Úy; anh ta chỉ vào cái đầu nói rằng vì người Việt Nam có cái óc nhỏ, nên học hiểu chậm. Các sĩ quan trong Tiểu đoàn ghét anh này, nên mỗi khi anh ta theo đại đội nào, thì các Đại Đội Trưởng làm ngơ, chẳng cung cấp người phụ mang đồ, bắt anh ta tự đào hố cá nhân, tự làm lều mà ngủ. Khi di hành, dù anh ta than mệt, đuối sức, đại đội vẫn không cho lệnh nghỉ mà bắt anh ta phải ráng lết theo. Sau này, thấm biết điều đó, anh ta có vẻ dịu giọng lại.

Chúng tôi đóng quân trên ngọn đồi 289 gần một sóc Thượng ở Bù Nard nơi đã có trại A-344 Lực Lượng Đặc Biệt từ lâu. Ngọn đồi nhìn xuống một con suối nhỏ, nơi các cô gái Thượng chiều chiều ra tắm giặt. Hình như dân Thượng ở đây thuộc sắc tộc Stieng mà người Việt ta gọi hỗn là “mọi cà răng căng tai”. Tất cả dân Stieng, từ nhỏ đã dùng đá để mài hai hàm răng cho đến tận lợi; và xỏ lỗ hai giái tai rồi dùng những miếng gỗ tròn xuyên qua cho đến lúc nó rộng ra toang hoác. Trong cuốn phim “King Salomon’s Mines” do nữ tài từ Deborah Kerr và Steward Granger đóng cách đây hơn 60 năm, chúng ta thấy người dẫn đường da đen đã lôi ra từ cái lỗ khoét rộng ở dái tai một cái hộp tròn, trong đó đựng kim chỉ. Đủ biết cái lỗ này nó rộng ra sao. Đặc biệt, các cô gái Stieng đều để trần. Lính tráng chúng tôi rất khoái vào sóc để nhìn lúc các cô đứng giã gạo, hai bầu ngực săn chắc rung lên rung xuống nhịp nhàng hấp dẫn.

Lúc đầu, các cô chưa biết đến đôi kính mát. Thấy ai đeo kính mát, thì tưởng họ không thấy gì. Vì thế, khi xuống suối tắm, các cô cởi tuốt tuồn tuột và nô đùa tự nhiên trong khi đám lính đeo kính cứ ngồi thoải mái dựa gốc cây mà ngắm một cách thích thú. Sau này, thì các cô kéo nhau đi xa hơn trên thượng nguồn. Chúng tôi phải cấm lính ra suối vì sợ du kích Việt Cộng mon men bắn sẻ.

Cạnh bên sóc Thượng là một điểm dinh điền lập ra từ thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm quy tụ chừng trăm dân gốc đâu đó từ các tỉnh miền Trung. Những gia đình này không uống nước suối, có lẽ sợ bị bệnh sốt rét. Mỗi gia đình chứa nước mưa trong hàng chục cái chum lớn xếp thành hàng phía vách sau nhà. Về mặt tình báo, thì chúng tôi cũng có sự nghi ngờ đám dân dinh điền này có quan hệ với du kích, hoặc do huyết thống, hoặc vì bị khủng bố. Vì thế, Thiếu Úy Phúc luôn luôn nhắc nhở, ngăn ngừa binh sĩ vào xóm tán tỉnh các cô gái trẻ. Việc một vài quân nhân quen biết với các cô thợ may, ra xóm chơi rồi chiều tối không thấy về đơn vị thường xảy ra khi chúng tôi đóng quân ở các khu An Điền, Mỹ Thạnh, Ấp Nhà Việt dưới Bình Dương. Hôm sau, những chàng trai đa tình này chỉ còn là cái xác không hồn bị treo ngược đầu hay bằm nát phơi ngoài lộ.

Dù có đoàn công voa hay không, thì mỗi ngày các đơn vị phải đi mở đường từ tờ mờ sáng và chỉ trở về lúc trời chập choạng tối. Khi mặt trời còn ẩn nấp đâu đó cuối chân rừng, các xe thiết giáp đã gầm rú lên rồi chuyển bánh ra con lộ. Bộ binh đi theo đội hình hàng dọc trước và sau xe. Những ngày đầu thì còn dùng máy dò mìn rà theo mép lộ. Đi như thế thì cả ngày trời chưa hết khoảng đường trách nhiệm. Vì thế, chỉ rà những nơi nào có dấu hiệu khả nghi; còn ra thì leo lên xe chạy chầm chậm vừa quan sát mặt đường vừa chĩa súng vào ven rừng phòng vệ. Cứ cách 4, 5 cây số, để lại một trung đội giữ đường. Phúc luân phiên đi theo các trung đội để làm quen với lính.

Lúc này đang cuối thu, trời vào đông se lạnh. Một ca nhôm cà phê nấu vội bên đường chia nhau mấy thầy trò. Binh Nhất Nguyễn Văn Muôn, theo làm tà lọt cho Phúc từ mấy tháng nay có tài vừa di hành vừa nấu nước. Chỉ cần một cục C-4 bằng ngón tay út là đủ nấu sôi một lon gô nước. Ngoài Binh 1 Muôn, Phúc còn được thêm một Lao công Đào binh để mang đồ ngủ cho anh. Ông này tên Nguyên, cũng khá lớn tuổi, trước thuộc Điạ Phương Quân. Nguyên người gốc Bùi Chu, nên nói rất ngọng. “Để tôi rọn rường cho thiếu úy. Để tôi da nấy con rao …” Lao công đào binh là một hình thức tù khổ sai, phải mang vác đạn dược, làm các việc rất nặng nhọc ngoài chiến trường. Đến tối, phải ngủ quây quần trong hàng rào concertina có lính gác. Có người trước đây là Hạ sĩ quan, thậm chí có cả sĩ quan. Họ phải mặc áo quần nhà binh cũ, xé mất cổ áo, và trên lưng, trước ngực có viết nghệch ngoạc 4 chữ tắt LCĐB bằng sơn đỏ. Tội nghiệp, không may trúng đạn chết hay bị thương, họ chẳng hưởng được chút phúc lợi nào.

Phúc có xin phép Trung Úy Lộc để chọn được một toán gồm 6 Lao Công Đào Binh gốc các binh chủng Dù, Biệt Động và giao cho Trung Sĩ 1 Khai làm Trưởng Toán. Họ được trang bị AK-47 lấy được của địch và được huấn luyện để thành toán xung kích của đại đội với lời hứa hẹn sẽ giảm thời gian thụ án cho họ. Toán này đi theo Phúc lúc hành quân như một toán cận vệ. Trung Úy Lộc nghe đâu sắp được thuyên chuyển về Tiểu Khu Gia Định, nên cũng có phần thiếu tích cực trong đơn vị. Mọi sự đều giao cho Phúc lo liệu. Nhiều lần giữa trưa, ông giao quyền cho Phúc rồi kéo tên tà lọt đi bộ về Bù Nard chờ xe tiếp tế lên bày bàn nhậu nhẹt. Tuy nhiên, Trung Úy Lộc đối với Phúc khá tốt dù mới làm việc với nhau mấy tháng từ ngày Phúc về đơn vị. Không hiểu tại sao các sĩ quan dưới quyền không ưa ông ta. Đặc biệt là Chuẩn Úy Lô Đức Tân. Mỗi lần Lộc nói chuyện trước hàng quân, thế nào Tân cũng nháy mắt cho Phúc ngầm ra dấu. Hồi tháng bảy, hành quân Phú Hoà Đông, ông Tân làm sao đó, bị Lộc mắng: ”ông chỉ huy như con C.!”. Tân cười nhạt, ghé tai Phúc thì thầm: “Đ.M., Con C. làm sao biết chỉ huy nhỉ?”. Tân người Nùng, đi từ Hạ sĩ quan lên, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và rất gan dạ. Sau này, Tân về làm Trưởng ban 1 Trung đoàn thời Đại Tá Bùi Trạch Dần, đã giúp xoá cho Phúc lệnh phạt trọng cấm do Đại Tá Lưu Yểm, Tỉnh Trưởng Phước Long ký vì tính bướng bỉnh khi hành quân tăng phái cho Tiểu Khu.

Đến trưa, xé túi cơm sấy ra, lấy nước đổ vào ngang lằn đỏ. Anh nào siêng thì nấu chút nước nóng, lười thì cứ nước bi đông cho vào. Bóp bóp chừng năm phút là ăn được. Ngày hai túi cơm sấy ăn với 2 hộp thịt heo ba lát của Mỹ. Đó là tiêu chuẩn hành quân của nhiều đơn vị bộ binh hồi đó. Tuy nhiên, lính vẫn quen mùi vị quê hương là con khô sặc hơn. Sau này, khoảng giữa năm 1970, Cục Quân Tiếp Vụ có sản xuất thí nghiệm hai loại đồ hộp cho hành quân. Một là thịt heo kho; hai là gà kho. Ăn rất hợp khẩu vị, nhờ vị mặn của nước mắm và trái ớt khô kèm theo.

Phúc ăn cơm chung với Chuẩn Úy Mâu xong thì Muôn đã giăng cái võng dưới một gốc cây cao; ông Nguyên thì ngồi dưới chân võng kể chuyện đời mình. Trung Sĩ Khai thì dẫn toán Lao Công vào sâu trong rừng, chia nhau canh gác. Các chiến xa thì trấn giữ ở hai đầu, cũng chĩa nòng đại bác và đại liên 50 chênh chếch vào bìa rừng.

- Thiếu Úy biết, tôi đi lính từ hồi 17 tuổi, theo Bảo Chính Đoàn. Cũng đánh nhau với Việt Minh mấy năm trời chứ kém ai. Sau 54, vào Nam, họ chuyển qua Bảo An rồi thành Địa Phương Quân.

- Địa Phương Quân thì tương đối an toàn, gần nhà. Đào ngũ làm chi mà ra nông nỗi này?

- Tôi có mấy thằng con trai bỏ học đi lang thang theo bạn bè. Lần về phép, lo tìm cách giải quyết việc nhà, ở thêm mươi, mười lăm ngày. Thế là đơn vị báo cáo đào ngũ. Chứ già như tôi, chỉ ráng thêm vài năm là về. Ai ngu gì mà đào ngũ cho khổ thân.

- Ráng chịu đựng thôi. Nếu có dịp, tôi sẽ xin giảm án cho ông.

Chuyện hai bên tao ngộ chiến xảy ra vài lần. Thường buổi chiều, sau khi rút quân, đại đội để lại một Tiểu đội nằm lại ở gần căn cứ để làm an ninh xa cho đơn vị.

Một khuya nọ, từ cái loa của máy PRC-25 nội bộ có tiếng thì thầm

- 61, đây 11. Nghe rõ trả lời?

- 11, 61 nghe 5/5.

- 11 xin zulu, nghe nhiều tiếng động, rất nhiều, rất gần.

Trung Úy Lộc cho lệnh rút và báo cáo lên Tiểu Đoàn cũng như gọi các Trung Đội ứng chiến.

Chừng hơn nửa giờ sau, từ phía Bắc căn cứ có nhiều tiếng súng dòn dã, chốc chốc nghe tiếng nổ lớn của lựu đạn.

- 61, 11 gọi

- Nghe

- Đụng rồi, đêm tối quá, không thấy gì, không biết ai bạn, ai thù.

- Romeo về ngay. Cho biết sơ khởi?

Tiếng máy nghe không rõ, vì giọng nói vừa thì thầm vừa đứt quảng. Nhưng qua ống nghe, có nhều tiếng la hét, tiếng đạn liên hồi. Toán kích đã về đến ngoài hàng rào phòng thủ. Trung Úy Lộc và Phúc cùng chạy ra.

- Thẩm quyền, chúng nó đông lắm.

- Đông là bao nhiêu?

- Chắc cả trăm đứa. Tụi nó rượt theo, vừa ngáng chân, vừa vật lộn. Loạn cả lên nên tụi tôi chẳng kiểm soát gì được.

- Bây giờ điểm quân số xem thiếu thằng nào?

Lộc gọi Trung Úy Chi Đoàn Trưởng Chiến Xa xin cho vài xe để đi tìm binh sĩ thất lạc. Hai chiếc M-113 nổ máy di chuyển ra cổng. Phúc chỉ huy Trung đội 1 tháp tùng. Vừa ra khỏi căn cứ chừng trăm thước, đã tìm thấy lác đác các binh sĩ đang hớt ha hớt hãi chạy về. Quân sĩ phóng lên trái sáng, soi rọi cả một khoảng trống. Đó là một khoanh rẫy khô của người Thượng vừa cắt hái xong. Các cây con bị chặt chừa khoảng 5 tấc cách mặt đất là nguyên nhân mà lính vấp té và báo cáo rằng họ bị địch ngáng chân. Tìm một lúc thì gom đủ quân số, và thấy một xác địch nằm co quắp trên mặt đất cạnh cây súng AK-47. Anh ta mặc quân phục chính quy miền Bắc, áo quần xanh màu lá mạ. Phúc lục trong túi áo trên và tìm thấy một căn cước mang tên Đoàn Văn Son, quê Bắc Ninh. Không thấy Trung Úy Lộc nói gì để giải quyết cái xác tên Việt Cộng, vì sau các cuộc chạm súng trong rừng thì phe ta chỉ lo tải chuyển thi hài chiến hữu mình; còn với xác địch thì chẳng ai lo chôn cất, để lại giữa rừng phó mặc cho trời đất.

Hôm sau, khi đoàn xe tăng mở đường đi được chừng 200 mét, binh sĩ phát giác ra cái xác Đoàn Văn Son đã được dân Thượng đem ra bỏ bên ven đường vẫn trong tư thế như đêm qua: hai cánh tay giơ cao trên đầu, hai chân co quắp. Nhưng lần này thì xác đã cứng đơ và tái trắng, khác hẳn cái xác còn mềm và chút hồng hào đêm qua.

Đoàn quân qua lại mỗi ngày trên đường, quan sát sự thay đổi của một xác người từ lúc mới chết cho đến khi căng mọng lên, da thịt tái bầm, đôi mắt lồi ra, hai môi căng lên đen bóng; rồi nước vàng bắt đầu chảy ra, phần thì thấm vào áo quần tạo thành những vùng thẫm đen, khô cứng, phần thì loang ra ngoài mặt đất. Nhờ ánh nắng nên phần thân thể lộ ra bên ngoài áo quần khô lại, lớp da trở nên cứng và bên trong thì rỗng vì thịt đã rã tan thành nước và bị giòi bọ đục khoét. Phần bên trong lớp áo quần thì chỉ còn xương, khô dần theo ngày tháng. Mùi xác chết là một mùi kinh khủng nhất. Cách xa cả cây số, mùi này theo hướng gió bay vào mũi thì dù có xoa loại dầu gì cũng chỉ làm tăng thêm nồng độ của sự kinh hoàng. Các xe thiết giáp phải xẻ đường trong rừng để tránh đi gần xác chết. Nhìn thân xác con người tiêu hủy như thế, mới thấy thấm thía cái mong manh phi lý của đời người: Các người là cát bụi, rồi sẽ trở về với cát bụi.

Cho đến khoảng 20 ngày sau, thì chẳng còn mùi hôi thối nữa, mà chỉ là một bộ xương được bọc trong bộ áo quần thùng thình từ màu xanh là mạ, nay đã trở nên nâu đen. Đại đội cho lính gom chút thi hài còn lại đem vào chôn bên ven rừng, chẳng bia mộ gì cả.

Hành quân trong rừng, chúng tôi thỉnh thoảng vẫn thấy những bộ xương đã khô trắng hoặc bên đường, hoặc nằm sâu dưới đáy các hố bom B-52. Những cán binh “Sinh Bắc Tử Nam” khi ra đi vào Nam có ngờ đâu phơi xác trong vùng rừng sâu mà gia đình chắc chẳng bao giờ có thể tìm ra. Ai lo cho họ đây? Đồng chí của họ không lo được thì mong chi đối phương?

Phúc cũng có lần cưa một miếng xương ống tay nhặt đâu đó, xỏ vào dây thẻ bài đeo trước ngực. Đêm về, nhìn khúc xương trắng mà thấy bất nhẫn, tự hỏi: “Mình làm điều này có đúng không?”

Những người lính cấp nhỏ miền Nam khi ra đi chiến đấu không biết đến lòng căm thù. Họ thi hành một nghĩa vụ. Họ chưa phân biệt được cái chính nghĩa tự do và cái phi nghĩa của bạo tàn. Trước mắt họ là một chế độ, một hạnh phúc gia đình nhỏ nhoi cần bảo vệ. Vì vậy, họ cư xử với kẻ thù sa cơ rất nhân đạo. Nhưng dần dà, nhìn những cái chết của đồng đội sau khi lọt vào tay kẻ thù, thì họ trở nên dứt khoát hơn, nhưng vẫn chưa đến độ tàn nhẫn như kẻ thù. Một lý do đơn giản là vì họ có tín ngưỡng, tin vào luật đạo, luật nhân quả và nền đạo đức ngàn năm thấm sâu trong dòng máu Việt Nam. Phúc thì hiểu về Cộng Sản nhiều qua hai năm được dạy về chính trị ở quân trường, và mối oan cừu của người con mất cha mà anh chưa hề thấy mặt. Tuy nhiên, anh vẫn không xem người lính Việt Cộng là đối tượng để anh trả mối thù nhà.

Trận tao ngộ chiến vừa qua tuy ở mức độ quá nhỏ để phải quan tâm. Nhưng nó như một dấu hiệu báo trước những sóng gió tàn bạo sắp xảy ra. Chiến trường vẫn có những hiện tượng như thế. Rừng Phước Long bạt ngàn là nơi ẩn núp lý tưởng cho các đại đơn vị Cộng quân. Họ có thể bôn tập cấp trung đoàn một cách lẹ làng để mở cuộc tấn công chớp nhoáng vào các căn cứ, tiền đồn, điểm đóng quân của ta rồi rút an toàn vào rừng sâu trước khi quân tăng viện đến kịp.

Một ngày như mọi ngày.

Xe đò từ Sài Gòn đi Phước Long vẫn thỉnh thoảng đi qua vào lúc xế trưa, lúc mà quân mở đường đã yên vị. Phúc thường cho lính ra đón xe đò xin báo mới để biết tin tức hậu phương và đọc truyện giải trí. Hành khách cũng thương lính, luôn luôn cho những ổ bánh mì thịt thơm dòn, hoặc những chai nước ngọt. Đám dân làm be thì lâu lâu tặng cho các sĩ quan chai rượu với một lời yêu cầu là không xin bắn pháo binh bừa bãi vào khu khai thác gỗ. Thực ra, các sĩ quan ai cũng biết các xưởng mộc ở Đồng Xoài là cơ sở làm ăn của các quan to súng ngắn chóp bu ở Quân Đoàn 3. Bố anh nào dám gây rắc rối. Biết điều thì thỉnh thoảng dân be cho một khúc cẩm lai thật đẹp. Xưởng mộc cưa thành các lát mỏng rồi dùng xe GMC tiếp tế chở về Sài Gòn làm các bộ sa lông tủ bàn gia dụng … Loạng quạng thì …. Đi đâu nữa? ở đơn vị bộ binh là đã ra đến tận hết gian nan rồi! Nhưng dù sao đối với người lính hiện dịch thì vẫn còn con đường tiến thân binh nghiệp chứ.

Gần 10 giờ sáng, khi chiếc xe M-41 chở toán lính của Trung Độí 1 vừa chạy qua một khúc quẹo gắt, thì hai tiếng nổ vang lên dữ dội

Oành! Oàng!

Chiếc M-41 trúng đạn. Một trái B-41 bắn vào xích phía trái; quả đạn thứ hai trúng ngay pháo tháp làm những người lính văng bắn ra ven đường. Cũng may là quanh pháo tháp lúc đó chỉ có bốn người bám vào. Người Trung Sĩ thiết giáp, Trưởng xa, và một lính bộ binh chết ngay tại chỗ, những anh khác thì bị thương đang cố nhịn đau lết vào ẩn cạnh các bờ đất để dược y tá băng bó.

Tiếng súng AK và trọng liên thi nhau nổ dòn. Đạn cày tung toé khắp nơi trong lúc chiếc xe thứ hai vừa trờ tới. Quân sĩ nhảy nhanh xuống xe tìm nơi bố trí để kháng cự. Cùng một lúc thì có tiếng súng phía sau. Thế là cả đội hình lọt vào ổ phục kích trên một tuyến dài chứng nửa cây số.

Phúc và toán cận vệ LCĐB nhảy kịp, nấp sau một mô đất cách Trung Úy Lộc chừng 20 thước. Nhưng thế đất phía trước là một gờ cao hơn mặt đường hai mét. Cách đó không xa là các súc gỗ be lớn mà Việt Cộng khoét hố bên dưới chong súng ra bắn vào quân ta. Súng địch bắn rát áp đảo một lúc thì có vẻ rời rạc, chờ xem động tịnh của ta. Thiết giáp xoay nòng bắn vừa đại bác vừa đại liên 50 vào các điểm khả nghi để lính bộ binh mò mẫm bò lên. Họ không tiến xa được vì trống trải quá. Cứ dợm đứng lên là đạn bên trong vãi ra. Thêm vài anh bị thương nhưng không nặng lắm.

Cố vấn Mỹ đang bò lên bên cạnh. Lộc quay qua hỏi:

- Cho phi yểm ngay được không?

- Ông muốn ưu tiên vào đâu?

Lộc lật bản đồ, chấm vài toạ độ dọc theo mé rừng

- Bắn vào đây trước. Tôi cho quân lui ra rồi bắn theo hướng này, kéo dài trên cả tuyến.

- Tôi gọi pháo tầm xa của Big Red One [3] đây.

Không đến mười lăm phút sau, hàng trăm quả đạn bắt đầu dội xối xả vào đội hình địch. Đây phải là pháo 155 ly, vì bắn từ một căn cứ hoả lực Mỹ ở Phú Giáo. Đạn nổ từ xa rút lại gần. Từ trong rừng rải dài ra đến bìa rừng và sau cùng là dọc theo con lộ; chỉ cách bộ binh chúng tôi chừng 50 mét. Nắm mọp dưới lòng đường mà vẫn thấy toàn thân như bật lên mỗi lần có tiếng nổ. Khi cố vấn Mỹ loan báo dứt pháo yểm. Trung Úy Lộc ra hiệu cho Chuẩn Úy Mâu dẫn trung đội tiến lên. Người khinh binh đầu tiên vừa nhổm dậy thì một tràng AK bắn dòn dã quật anh ta ngã ngửa ra sau. Phúc bò lên vạch một lỗ trống ngay bụi cây, cố quan sát về phía súng nổ. Mâu lanh trí, cho một người lính máng chiếc nón sắt lên một khúc củi, nhô lên nhô xuống vài lần. Một loạt đạn lại vang lên. Chốt địch không xa mặt đường. Chúng nó nằm dưới một súc be lớn nơi mà các trái đạn pháo đã không bắn vào vì sợ quá gần quân bạn. Phúc chạy lom khom trởi lại, leo lên một chiếc chiến xa:

- Ông nhắm vào cây gỗ kia, chừng 2/3 từ bên trái, bắn cho một phát sát đất giùm.

- Miểng đạn có thể văng ngược lại trúng bộ binh đấy.

- Không sao. Một hai trái càng tốt.

Trong khi xạ thủ đại liên bắn xối xả vào để ngăn địch ngóc đầu dậy, anh pháo thủ xoay nòng, nhắm vào đúng điểm vừa chỉ.

Ấm!

Cả súc be rung lên, đất đá miểng đạn tung toé bay rào rào qua đầu. Phúc thẩy thêm một quả lựu đạn rồi vẫy tay cho toán cảm tử cùng nhào lên.

Xoay ngang cây M-16, một tay nắm chắc “gỗ” [4] che nòng, tay kia bấm cò; Phúc chạy ào vào ngay chốt địch. Ba tên vừa đứng dậy, đưa hai tay lên trời, nhưng đạn đã ra khỏi nòng bắn văng phần sọ phía trên của một tên địch. Hai tên còn lại chưa kịp nhảy lên tẩu thoát cũng hứng nguyên những loạt đạn của đám cảm từ LCĐB. Bên sườn phải, Trung Đội 1 cũng đã xung phong cố chiếm lĩnh trận địa nhưng bị khựng lại vì còn một số địch cố thủ dưới các gốc be mà đạn pháo chỉ đủ sức làm trầy trụa một phần bên trên. Vài binh sĩ ngã xuống, những người còn lại phải bò từng mét theo các thân cây la liệt trên đất; dò dẫm quan sát từng chút một để định vị trí ẩn núp của địch. Phúc trườn nhanh vào một gốc be và may mắn không dính đạn.

Sau cả tiếng đồng hồ mà không tiến thêm được bao nhiêu; Trung Úy Lộc quyết định cho lui lại để xin phi yểm.

- Ông Phúc nói thằng Mũi dài [5] cho Cobra lên bắn rốc két mới ăn chắc. Nếu cần cho bom napalm bắn cháy gỗ mới hun hết mấy con chuột này. Cứ giằng co thế này đến chiều chưa giải toả được đâu.

- Sao ông không kêu mấy con cua sắt lên? Mấy chả cứ rập rình sau lưng mình không hà.

- Cua mình chịu B-41 [6] không nổi đâu.

- Nó mình đồng da sắt mà chịu không nổi; còn xương thịt lính mình chắc cứng hơn?

Những đức tính cần thiết của người chỉ huy ngoài mặt trận là bản lĩnh, dứt khoát và can trường. Khi lâm trận, những người lính nhìn vào cấp chỉ huy của mình để có được lòng tin trước hiểm nguy rằng mọi việc sẽ tốt đẹp. Họ gửi gắm sinh mạng của mình vào chỉ huy và nghĩ rằng nơi nào gần người chỉ huy là an toàn nhất. Vì thế, dù phân vân, chưa biết phải làm gì; người chỉ huy cũng phải biểu lộ một thái độ dứt khoát; không bao giờ được phép nói rằng: “tôi không biết” trước mặt binh sĩ. Có ai trên đời mà không cảm thấy run sợ trước cái chết? Nhưng người can đảm là người biết che đậy, chế ngự sự sợ hãi. Trong thực tế, khói đạn, mùi thuốc súng cũng góp phần làm cho người ta hăng lên mà quên đi trong phút chốc sự sợ hãi. Đây là trận đánh có tầm vóc đầu tiên mà Phúc phải đương đầu kể từ ngày ra đơn vị. Phút giây này, không còn thì giờ nghĩ ngợi cho cá nhân, gia đình; mà trước mắt là những người lính đang nhìn vào, chờ đợi những quyết định dứt khoát của mình như một tấm gương để họ vững tin mà tiến lên.

Phúc nói với cố vấn Mỹ đề nghị của Đại Đội Trưởng, xin trực thăng Cobra bắn vào các chốt địch cũng như phản lực ném bom vào rừng đề phòng địch tập trung quân để tấn công.

Hai phi tuần Cobra thay nhau bắn rất chính xác theo hướng dẫn của bộ binh. Từng súc gỗ bật tung lên để lộ những toán địch cho bộ binh tưới đủ các loại đạn vào.

Khi phi cơ rời vùng, quân sĩ hai Trung Đội 1 và 2 xung phong lên với sự yểm trợ của thiết giáp. Một số địch sống sót vọt ra khỏi hố tháo chạy vào phía rừng chỉ để hứng bom từ các phản lực cơ F-4 của Hạm đội 7. Phúc đứng trên một cây be lớn, nhìn xuống bên này thì thấy mấy đôi chân lòi ra và còn giật giật trong khi phía bên kia của cây be thì những chiếc đầu chỉ còn loang lỗ óc và máu. Lôi xác chúng ra thì thấy những thân hình tương đối tròn trịa, trắng trẻo. Chúng mặc quân phục chính quy Bắc Việt; Có đứa nón tai bèo, có đứa nón cối. Trong túi áo có người còn sót lại lá thư tình của bạn gái hay vợ từ một địa danh miền Bắc kèm theo một tấm ảnh nhỏ chừng hai lóng tay của một cô gái quê mộc mạc nào đó. Phúc cho thu hết tất cả những tài liệu cá nhân này để chuyển về ban 2 Trung Đoàn khai thác.

Lúc đó đã quá trưa, nhưng không ai thấy đói. Lính tráng đang hăm hở đi thu nhặt chiến lợi phẩm và đếm xác địch.

Trung Úy Lộc ra lệnh cho Trung Đội 2 tản sâu vào trong rừng làm an ninh xa. Những thân cây đang cháy đổ nhựa khét lẹt cùng mùi thịt nướng. Toán quân y lo băng bó cho thương binh, chờ trực thăng đến bốc đi. Trung đội 3 không chạm súng thì được lệnh di chuyển đến thay thế cho Trung độ 1 rút ra nghỉ ngơi ngoài mặt lộ.

Vài chiếc xe đò đã liều mạng chạy qua khoảng đường vừa có chiến cuộc. Tài xế dừng nhanh trong chốc lát để trên xe ném xuống cho binh sĩ những thức ăn có sẵn trong tay. Muôn đem đến cho Phúc một khúc bánh mì kẹp chả và chai xá xị. Với hai bàn tay đầy bụi đất và dính cả máu thù, Phúc cầm lấy miếng bánh mì nhai ngon lành. Anh Cố vấn Mỹ cũng lết đến bên cạnh, nói những lời khen ngợi.

Trung sĩ Khai đưa bốn ngón tay ra dấu:

- He kills four VC; I kill two. (Ông ấy giết 4 tên Việt Cộng, tôi giết 2 tên)

- You are number One! How many VC killed in total? (Các anh ngon lành nhất. Có bao nhiên VC bị giết?)

- We are counting. Don’t know yet. Must be hundreds. (Đang đếm, chưa rõ. Nhưng có thể cả trăm)

- Including VC killed by artillery and air strike? (Tính luôn bọn bị phi pháo bắn chết?)

- Sure. (Chứ sao)

Chưa tới hai tuần sau, Đại Đội 14 do Trung Úy Lê Văn Bôn chỉ huy cũng bị phục kích gần Bù Noi trên một tuyến dài hơn và quân địch đông đảo hơn gấp bội. Cả Thiết đoàn và Tiểu đoàn phải tăng viện giải cứu. Phi pháo được xử dụng cật lực từ mờ sáng cho đến trưa, thiêu cháy cả khu rừng để đánh bật quân địch.

Ba tuần trước Tết Âm Lịch, Phúc bị trúng thương cũng trong một trận phục kích. Đạn xuyên qua giây nịt đạn, nịt quần và khoét một lỗ gọn gàng bằng đầu đũa ở bụng. Nhanh đến độ Phúc không hề cảm nhận rằng mình bị bắn cho đến khi nằm sấp xuống tránh loạt pháo thì mới thấy lành lạnh. Kéo trật chiếc quần trận xuống, Phúc chỉ thấy màu xám của lớp ruột bên trong đang đùn ra, không một giọt máu. Muôn thấy vậy hoảng hốt la lên:

- Thẩm quyền bị rắn cắn. Y tá đâu, tải thương ngay.

Muôn cứ loanh quanh, mếu máo:

- Ông Thầy ơi. Ông đừng đi nghe

- Đi đâu mà đi, mày? Chỉ mới gãi ngứa thôi.

Kinh nghiệm ngoài chiến trường cho thấy những người bị thương tuy máu me dầm dề mà lại không nguy hiểm tính mạng. Còn những người bị các vết thương không thấy máu, tỉnh táo như không có gì, lại rất dễ ra đi. Y tá Đại đội xem vết thương rồi trấn an:

- Thẩm quyền an tâm, nhờ cái dây TAB [7] nó cản bớt, nên đạn không vào sâu. Trúng bụng thường xuất huyết nội, nhưng không nguy hiểm nếu tải thương nhanh.

Nghĩa, hiệu thính viên Đại Đội nhanh nhẩu báo về Tiểu Đoàn và cùng lúc kêu Cố Vấn Mỹ xin trực thăng.

Mười phút sau, Phúc đã nằm trên băng ca do hai người lính Mỹ lúp xúp chuyển từ Trực thăng vào phòng mổ của Bệnh viện 3 Dã Chiến giữa lúc Việt Cộng đang nả hàng loạt đạn hoả tiễn 122 ly pháo kích vào các dãy nhà tiền chế của Bệnh Viện.

Trong giây phút mơ màng giữa chết và sống, đôi mắt mệt mỏi của Phúc nhìn thấy lờ mờ hàng chục khuôn mặt các bác sĩ và y tá vớí các đôi mắt xanh đang cúi xuống và những mũi kim lụi vào mạch máu cườm tay. Rồi Phúc thiếp đi vào hôn mê để hôm sau, khi tỉnh dậy thấy mình nằm trong một căn phòng mát lạnh, cả hai tay, hai chân bị cột vào thành chiếc giuờng nệm trắng toát; trên bụng dày cộm lên một đống gạc và đặc biệt, bên cạnh là một cô ý tá Mỹ xinh đẹp đang ngồi thấm nước chiếc khăn cũng trắng tinh để lau mặt mũi và cả thân thể tồng ngồng của anh.

Đỗ Văn Phúc

[1] Có một khúc rẽ chuyển thành Quốc Lộ 14

[2] Đồng Xoài nằm trong vùng trách nhiệm của Sư Đoàn 5 BB. Nhưng sách báo Hoa Kỳ nêu ra tin tức khác nhau về đơn vị Bộ Binh; khi thì Sư Đoàn 7, khi thì Sư Đoàn 5.

[3] Biệt danh của Sư Đoàn 1 BB Hoa Kỳ.

[4] Phần che nòng và báng súng của M-16 làm bằng hợp chất nhựa.

[5] Ám chỉ mấy anh cố vấn Mỹ.

[6] Súng phóng hoả tiễn RPG-7, dùng loại đạn B-41 nổ toả nhiệt độ cao đủ làm chảy lớp thép của xe thiết giáp để một ngòi nổ phụ xuyên vào trong gây sát thương, trong khi B-40 chỉ làm trầy trụa bên ngoài.

[7] Giây nịt lớn, dùng đeo các bao đựng đạn, bi đông, dao găm, súng lục. Thường gọi là Pistol Belt.