Wednesday, June 17, 2009

KỶ NIỆM NGÀY QUÂN LỰC 19-6-2009 - Hồ Đinh


KỶ NIỆM NGÀY QUÂN LỰC 19-6-2009
CÁM ƠN ANH: NGƯỜI LÍNH VNCH


Hồ Đinh
Viết từ KBC 4424 , 3435 và 4608

Như Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) từng nói "Ðất nước còn thì còn tất cả". Bởi vậy sau ngày 1-5-1975, đồng bào Miền Nam đã mất hết mọi thứ kể cả quyền làm dân, khi chính phủ và quân lực VNCH không còn tồn tại, để bảo vệ họ như hồi Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 và trăm ngàn chiến cuộc, khắp mọi nẻo đường đất nước, cho tới ngay 30-4-1975 bị rã ngủ theo lệnh buông súng đầu hàng.

Tự ngàn xưa, quân đội Việt Nam luôn nổi tiếng kiêu hùng, nên đã đạt được nhiều chiến công hiển hách, trong suốt dòng lịch sử của dân tộc, qua các cuộc ngăn chống giặc Tàu xâm lăng, khiến các nước lân bang Lào, Miên và cả Xiêm La phải kinh hồn bạt vía.

Là con cháu của Tổ Tiên Hồng-Lac, chúng ta dù được sinh vào thế hệ nào chăng nữa, ra đời trong nước hay nơi hải ngoại, vẫn luôn ngưỡng mộ và hãnh diện, về công đức vĩ đại của tiền nhân, trong đó có quân đội bao đời.

Với ý nghĩa thiêng liêng và cao quý trên, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được hình thành trong giai đoạn đất nước tạm chia (1955-1975), chống lại cuộc xâm lăng bằng quân sự, của khối cộng sản đệ tam quốc tế, do Cộng Sản Bắc Việt đảm nhận. ÐÂY LÀ MỘT CUỘC CHIẾN SINH-TỬ, của quân đội MIỀN NAM, chống lại cuộc xâm lăng của bộ đội MIỀN BẮC, để giữ lại phân nửa gấm vóc giang sơn của Tiền-Nhân, không lọt vào gông cùm nô lệ của giặc đỏ.

Cho nên, đây không phải là một cuộc chiến giữa CỘNG SẢN BẮC VIỆT VÀ NGƯỜI MỸ, như giới truyền thông phương Tây, thời đó và ngay cả bây giờ, đã bóp méo sự thật, mục đích đầu độc dư luận thế giới, làm giảm uy tín của QLVNCH. Có như the, Cộng Sản và bọn phản chiến thân cộng, mới vừa chửi Mỹ, vừa tô son vẽ mặt cho đạo quân tiền phong cong sản tại Ðông Nam Á, tức Bắc Việt có một chính nghĩa lý tưởng, đánh đuổi Mỹ-Ngụy cứu nước.

Ðây cũng chính là nỗi thảm thê chất ngất của người Lính Miền Nam, trong hai mươi năm khói lửa. Vì định kiến, vì buông xuôi, vì thủ đoạn con buôn quốc tế, tất cả đã dồn ép QLVNCH vào chân tường, trong cuộc chiến đấu đơn độc, không hậu phương, không một chút tình quân-dân, cá-nước.

Hai mươi năm chiến đấu, đời lính buồn ơi là buồn, trước mặt phải trực diện với một kẻ thù gian xảo độc ác, khôn nhà dại chợ, mất hết thiên lương nhân tính vì đã bị chủ nghĩa nhồi sọ, cho nên chỉ biết có giết người để đạt mục đích được khắc sâu trong da thịt, tim óc. Còn sau lưng bị thọc bởi hậu phương vô tình bạc bẽo và cuối cùng trên đầu là đồng minh và đại bàng, luôn rình rập để phản bội và bán đứng thuộc cấp, miễn sao giữ được túi tiền cùng địa vị là đủ. Mới đây có Nguyễn Thuỳ và Vũ Ngọc Tiến, đã dùng bút vẽ lên bức tranh vân cẩu của cuộc chiến vừa qua, cho ta thấy chỉ có Bộ Ðội Bắc Việt hay Việt Cộng, vì thèm khát đàn bà, nên chỉ có chúng mới hãm hiếp phụ nữ, chứ người lính VNCH đâu có lý do gì, để mà cuồng dâm cả xác chết của nữ cán bộ VC như cán gái cũng là nhà văn nhớn Dương Thu Hương bôi bác.

Cảm nhận đựợc thân phận nhược tiểu của đất nước và sự bất hạnh của dân tộc, nên người lính chấp nhận hy sinh đời trai, để làm tròn bổn phận cùng trách nhiệm của một con người có tim óc, cho tới trưa ngày 30-4-1975, khi TT.Dương Văn Minh bắt buông súng đầu hàng.

Sau đó, cộng sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc, chẳng những mọi chiến lợi phẩm của chính phủ VNCH từ công ốc, ngân khố, quân trang dụng, trong đó có mười sáu tấn vàng y, của quốc gia, được Nguyễn văn Hảo giữ lại để nạp dâng công cho Bắc Bộ Phủ. Tệ nhất là VC táng tận lương tâm, cướp luôn tài sản mồ hôi nước mắt của đồng bào, mà trong số này, có nhiều mẹ chiến sĩ, đã từng nuôi dấu cán binh bộ đội, ủng hộ vàng bạc lúa gạo cho chúng, trong suốt thời gian chiến tranh.

Ngoài việc cầy mồ người chết để trả thù bị thua VNCH trên chiến trường, VC còn hành hạ những phế binh, cô nhi tử sĩ bị kẹt trong nước, với đủ thủ đoạn học được từ KGB, mà mới nhất là chiến dịch "đuổi tận, giết tuyệt" các thành phần trên, đang sống tại các chòi, dựng trong Nghĩa Ðịa, gầm cầu, đầu đường xó chợ khắp mọi nẻo đường đất nước.

Thì ra cách mạng bảy mươi năm, để giải phóng đất nước, mục đích cũng chỉ có thế thôi, nên từ đó theo thời gian, hằng ngàn huyền thoại về "Người Bộ Ðội Miền Bắc, Vượt Trường Sơn Vào Nam Ðánh Mỹ Cứu Nước", đã theo lớp son phấn đảng tham nhũng, tham tàn, tham địa vị, bán nước, bán gái cho Tàu đỏ, tan biến theo lớp sóng phế hưng của cuộc đổi đời mạt lộ.

Ba mươi bốn năm tan hàng rã ngũ, quân-dân Miền Nam đã lần lượt đồng hành, qua hết chín tầng địa ngục trần gian nơi thiên đàng xã nghĩa. Nhưng người lính Miền Nam, sinh ra trong khói lửa, trưởng thành chốn chiến trường, nên thễ xác dù đã bị bầm giập tan nát, tinh thần của người lính vẫn nguyên vẹn và không ai có thể thay đổi hay ngăn cản lý tưởng của họ.

"dấu binh lửa nước non như cũ
kẽ hành nhân qua đó chạnh thương
phận trai già rủi chiến trường
chàng Siêu, tóc đã điểm sương mới về".
(Chinh Phụ Ngâm Khúc )

1. TỪ QUÂN ÐỘI QUỐC GIA TỚI QUÂN LỰC VNCH

Ngày 13-8-1945, Nhật đầu hàng Ðồng Minh vô điều kiện, sau khi bị Hoa Kỳ , thả hai trái bom Nguyên Tử xuống hai thành phố Trường Kỳ và Quang Ðảo. Lợi dụng thời cơ trên, quân viễn chinh Pháp theo quân Anh-Ấn xâm nhập VN, chiếm Sài Gòn và Nam Kỳ. Ngày 2-9-1945, nhờ lực lượng OSS (tiền thân của CIA) giúp súng đạn, nên chỉ có một nhóm rất ít cán bộ cọng sản, đã áp đảo khủng bố được đồng bào, để cướp chính quyền của quốc gia lúc đó, đang bị Pháp-Nhật và quan lại Nam Triều, quăng bỏ lăng lóc một cách tội nghiệp, thê thảm bên vệ đường tại Hà Nội, Huế, Sài Gòn.

Nhờ vậy, Hồ Chí Minh và đảng Việt-Cộng mới có cơ hội, cho quân viễn chinh Pháp từ trong Nam, đổ bộ lên đất Bắc, lúc đó đang do quân Trung Hoa đóng, theo lệnh của Liên Hiệp Quốc, để giải giới quân Nhật từ vỹ tuyến 16 trở ra.

Theo mọi nguồn sử liệu còn lưu trữ, thì chính Hồ Chí Minh cùng Pháp, đã đồng thuận dựng lên một vở tuồng, trong đó Pháp đã mớm lời cho Hồ Chí Minh kêu gọi TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN chống Pháp vào năm 1946. Có kêu gọi, thì Hồ Chí Minh và đảng cộng sản mới nhập nhằng hợp thức hoá, vai trò lãnh đạo Mặt Trận Việt Minh và đất nước. Rồi vì toàn dân VN nổi lên kháng chiến, nên thực dân Pháp mới có đủ lý do đem quân từ Nam Kỳ ra Bắc Việt, cũng như biện minh với thế giới về chính sách thực dân của mình, trong khi nhân loại đang tìm đủ mọi cách xóa bỏ.

Cũng từ đó, người VN khắp mọi miền đất nước, thay vì đoàn kết chống thực dân, lại chia rẽ thành các khuynh hướng chính trị khác nhau, khiến cho máu dân Việt lại tiếp tục đổ, để cho màu cờ của đảng cộng sản thêm rực rỡ màu máu người.

Trong giai đoạn lịch sử này, hai Lực Lượng Quân Sự của Người Việt đã thành hình. Ðó là Mặt Trận Việt Minh, một phong trào kkáng chiến chống Pháp, của Tập Thể Người Việt yêu nước, bị Hồ Chí Minh và đảng cọng sản đệ tam núp bóng, khống chế bằng chủ thuyết Mác-LêNin.

Lực lượng thứ hai gọi là "Quân đội Quốc-Gia", thực chất cũng chỉ là mượn màu da thay xác chết, bị thực dân Pháp và các lãnh tụ chính trị áp đảo, lợi dụng.Tóm lại người Việt lúc đó, cho dù có chiến đấu trong hàng ngũ nào chăng nửa, cũng chỉ tốn xương máu vô ích, vì chỉ để phục vụ cho các chủ thuyết chính tri quốc tế mà thôi.

Về sự thành hình của Quân Ðội Quốc Gia cũng vô cùng phức tạp nhưng cũng có thể tóm tắt qua bốn lý do chính sau đây :

PHÁP LỢI DỤNG THÀNH PHẦN HỢP TÁC CŨ

Ngay khi đặt được chân vào Sài Gòn sau tháng 9-1945, nhờ sự giúp đỡ của quân Anh-Ấn, tới VN giải giới quân Nhật. Thực dân đã sử dụng ngay các thành phần cộng tác cũ như công chúc, hương chức, quan lại, kỳ hào, lính khố xanh khố đỏ, các dân tộc thiểu số Thái, Mường, Nùng, Thổ, người Thượng cao nguyên Trung Phần, người Chàm, Khmer ... để hình thành một Lực Lượng Thân Binh. Chính những người này, mới là lực lượng quân sự đầu tiên chống lại cộng sản đệ tam quốc tế, qua bình phong Việt Minh, vì họ bị kết tội là Việt Gian, luôn bị Việt Cộng đuổi giết tận tuyệt, dồn sát vào chân tường, nên phải chống lại vì không còn con đường nào lựa chọn.

CỘNG SẢN XÔ ÐẨY NGƯỜI QUỐC GIA THEO PHÁP

Ngay khi Pháp được Hồ Chí Minh cho đổ bộ lên đất Bắc, thế chân quân Lư Hán của Trung Hoa. Lúc đó, cọng sản đang núp bóng Mặt Trận Kháng Chiến Việt Minh, để được độc quyền lèo lái toàn dân và đất nước VN vào quỹ đạo của chủ nghĩa Lê-Mác. Ai cũng biết Việt Minh là tố chức chống Pháp của cả nước, bao gồm mọi đảng phái chính trị, chứ không phải của riêng đảng cộng sản đệ tam quốc tế. Ngoài ra,các lực lượng quốc gia cũng đang cùng VC hợp tác chung trong Chính Phủ Liên Hợp, để chống ngoại xâm.

Do đó, để độc quyền, độc đảng, Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã thẳng tay tiêu diệt các đảng phái và những ai đối lập. Do sự khủng bố trên, lực lượng quân sự thuộc các đảng phái quốc gia trong mặt trận Việt Minh, phải tách rời đề sống còn. Ðây là một trong những thành phần chống lại cộng sản quyết liệt, trong Chính Phủ Bảo Ðại từ sau năm 1946-19

CỘNG SẢN XÔ ÐẨY MỌI TÔN GIÁO VN, THÀNH THÙ ÐỊCH

Với chủ trương hủy diệt mọi tôn giáo, Việt Minh qua cọng sản Hà Nội, đã xô đẩy các tín đồ Phật, Thiên Chúa giáo nhất là hai giao phái Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Ðài , trở thành những lực lượng đối nghịch chống lại cộng sản

CỘNG SẢN XÔ ÐẨY MỌI THÀNH PHẦN XÃ HỘI VÀO HÀNG NGŨ QUỐC GIA

Việt Minh qua sự khống chế của Ðệ tam cộng sản quốc tế, đã dùng bạo lực để tiêu diệt mọi thành phần đối tượng xã hội như trí thức, địa chủ, tiểu tư sản, thợ thuyền qua các chiến dịch gọi là Diệt Tề và Phản Ðộng, khiến cho một số lớn thanh niên nam nữ, đang chiến đấu trong hàng ngũ Việt Minh, đã bỏ về vùng Pháp chiếm đóng.

Như vậy tất cả bốn lực lượng trên, đều chung chủ trương chống lại cọng sản đệ tam, bắt đầu tư năm 1957. Thực tế lực lượng quân sự của Quốc Gia VN, được chính thức thành lập ngày 11-5-1950, cho tới khi ký kết Hiệp Ðịnh ngưng bắn Genève năm 1954, vẫn trực thuộc Pháp.

Tháng 7-1954 chia hai đất nước, cho tới 12 giờ trưa ngày 30-4-1975, VNCH được độc lập. Ngày 19-6-1965 được chính phủ Miền Nam, chọn làm ngày QUÂN LỰC, và được tổ chức kỷ niệm hằng năm, kể cả 31 năm sau ngày rã ngũ. Cũng từ đó, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lớn mạnh và trưởng thành, thoát khỏi ảnh hưởng của ngoại bang, Nhờ vậy trong suốt hai mươi năm lửa binh tàn khốc, người lính Miền Nam mới có đủ can trường, để chiến đấu và hy sinh, trong nhiệm vu bảo vệ đất nước và tài sản của đồng bào, trước sự xâm lăng của cộng sản.

Tóm lại nếu không bị Mỹ và bọn trí thức thiên tả của Miền Nam bán đứng, chắc chắn VNCH, cũng như Tây Ðức, Nam Hàn và Ðài Loan, không bị mất và sụp đổ vào tay Bắc Việt vào tháng 4-1975. Người VN sẽ không bị tủi nhục vì kiếp đầu đường xó chợ, qua thân phận tị nạn, lao động, ban dâm và làm dâu bất đắc dĩ khắp chân trời góc biển.

2. QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA

Lãnh thổ VNCH được chia thành bốn vùng chiến thuật và một biệt khu thủ đô. Tính tới ngày ký Hiệp Ðịnh ngưng bắn tháng 2-1973 tại Paris, QLVNCH có 220.000 Chủ-Lực quân, gồm Mười Một Sư Ðoàn Bộ Binh, mang số 1,2,3,5,7,9,18,21,22 và 25. Ngoài ra còn có Hai Sư Ðoàn Tổng Trừ Bị là SĐ. Nhảy Dù và SĐ. Thuỷ Quân Lục Chiến, mười lăm Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân (quân số mỗi Liên Ðoàn tương đương với một Trung Ðoàn Bộ Binh, gồm 3 Tiểu Ðoàn và một Ðại Ðội Trinh sát) và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù thuộc Binh Chủng Lực Lượng Ðặc Biệt.

CÁC QUÂN BINH CHỦNG YỂM TRỢ

* PHÁO BINH: Gồm 66 Tiểu Ðoàn và 164 Trung Ðội Pháo Biệt Lập, với 1.492 khẩu pháo đủ loại (105-155-175 ly) và bảy Tiểu Ðoàn Pháo Binh Phòng Không.

* THIÊT GIÁP: Gồm 22 Thiết Ðoàn và 51 Chi Ðoàn Thiết Giáp Biệt Lập, sử dụng 2074 Xe Bọc Sắt đủ loại như M113,114 Thiết Vận Xa và Chiến Xa M41, 48.

* KHÔNG QUÂN:
Có 6 Sư Ðoàn Chiến Thuật với quân số cơ hữu trên 41.000 người, được phân phối như sau: Sư Ðoàn 1 Không Quân ở Ðà Nẳng, SĐ 2- Không Quân ở Nha Trang, Sư Ðoàn 3 Không Quân ở Biên Hòa, Sư Ðoàn 4 Không Quân tại Cần Thơ, Sư Ðoàn 5 Không Quân ở Sài Gòn và Sư Ðoàn 6 Không Quân-Pleiku. Không Quân có 66 Phi Ðoàn gồm 22 Phi Ðoàn Chiến Ðấu với 510 Phi Cơ đủ loại, trong số này có 30 chiếc Phản Lực Cơ tối tân F.5E. Ngoài ra còn 25 Phi Ðoàn Trực Thăng Võ Trang với 900 chiếc, năm Phi Ðoàn Vận Tải với 80 phi cơ từ C47,Dakota,C123,C130 và Mười Bốn Phi Ðoàn Trinh Sát với 360 Trinh Sát Cơ.

Binh Chủng Không Quân có Trung Tâm Huấn Luyện Sĩ Quan Không Quân tại Nha Trang, rất nổi tiếng. Sau ngày 30-4-1975, chỉ có 172 phi cơ đủ loại của KQ.VNCH bay sang đươc Thái Lan và một số ít trực thăng, bay ra các chiến hạm Mỹ ơ Biển Ðông.

* HẢI QUÂN: Tính đến năm 1975, quân số lên tới 39.000 người, gồm 1611 tàu thuyền đủ loại, được phân thành 5 Vùng Duyên Hải, Hai Vùng Sông Ngòi và Một Hạm Ðội Tuần Duyên có 83 Chiến Hạm đủ loại.

Hải quân có bốn Lực Lượng Ðặc Nhiệm, thuộc Hành Quân Lưu Ðộng Sông: Lực Lượng 211 Thủy Bộ, Lực Lượng 212 Tuần Thám, Lực lượng 214 Trung Ương và Lực Lượng 99 Ðặc Nhiệm.

Ngoài ra còn có Lực Lượng 213 Duyên Phòng, Liên Ðoàn Tuần Giang, 28 Duyên Ðoàn, 20 Giang Ðoàn Xung Phong, 3 Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân, trong đó Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang dành cho các Sĩ Quan Hải Quân

* CƠ CẤU TIẾP VẬN:
Gồm năm Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận tại các Quân Khu, riêng Vùng II có 2 cơ cấu tiếp vận, BCH2 đóng tại Qui Nhơn và BCH5 đóng tại Nha Trang, sau đó dời về bán đảo Cam Ranh, khi Mỹ rút về nước.

Tổng Cục Tiếp Vận đóng tại Sài Gòn, gồm các cơ cấu như Cục Quân Y, Quân Vận, Quân Cụ, Truyền Tin, Quân Bưu và Công binh. Tất cả có nhiệm vụ yểm trợ trực tiếp cho các quân binh chủng cũng như các Tiểu Khu, Quân Trường.

Ngoài các lực lượng chính quy trên, còn có thêm 140.000 Ðịa Phương Quân, được tổ chức thành 367 Tiểu Ðoàn và 85 Ðại Ðội Biệt Lập. Tất cả cá đơn vi Ðịa Phương Quân được đặt dưới quyền sử dụng của Tiểu Khu Trưởng, Chi Khu Trưởng.

Từ sau Tết Mậu Thân 1968, nhiều quân nhân Bộ Binh cũng như các đơn vị tổng trừ bị, được thuyên chuyển vì lý do gia cảnh về nguyên quan. Do đó, nhiều Tiểu Ðoàn DPQ tại Quảng Nam, Bình Thuận, Long Khánh, Hậu Nghĩa, Long An đã chiến đấu kiêu dũng, hào hùng không thua kém bất cứ một đơn vị nào của QLVNCH.

CÁC QUÂN TRƯỜNG VÀ ÐẠI ÐƠN VỊ NỔI TIẾNG CỦA QLVNCH:

* SƯ ÐOÀN NHẢY DÙ: Là một trong những đại đơn vị hàng đầu và kiêu hùng của QLVNCH. Binh chủng Nhảy Dù rất có kỹ luật, kỷ cương nên được sự mến mộ của đồng bao Miền Nam trong suốt cuộc chiến. Ðơn vị này chính thức được thành lập ngày 29-9-1954, khi Pháp giao lại cho Quân Ðội VNCH, Chiến Ðoàn 3 Nhảy Dù (6A-P3), gồm các Tiểu Ðoàn 1, 3, 4, 5, 6, 7 do Thiếu Tá Ðổ Cao Trí làm Chỉ Huy Trưởng.

Ngay khi trở thành đơn vị chiến đấu nòng cốt của VNCH, Nhảy Dù đã nhập cuộc, đánh tan lực lượng phản loạn của Bình Xuyên tại Sài Gòn-Chợ Lớn, cuối cùng tiêu diệt chúng tại sào huyệt ở tận Rừng Sát (Phước Tuy). Ngày 26-10-1959, Nhảy Dù được nâng từ Liên Ðoàn lên Lữ Ðoàn và do Trung Tá Nguyễn Chánh Thi, làm Lữ Ðoàn Trưởng.

Do nhu cầu cuộc chiến càng lúc càng sôi động và leo thang, kể từ ngày 1-2-1965, lần nữa Nhảy Dù lại được nâng lên cấp Sư Ðoàn, với đầy đủ các cơ cấu trực thuộc, từ đơn vị tác chiến tới yểm trợ. Sư Ðoàn có ba Lữ Ðoàn tác chiến, ba Tiểu Ðoàn Pháo Binh Dù, Một Tiểu Ðoàn Công Binh, Một Tiểu Ðoàn Quân Y, Các Ðại Ðội Trinh Sát, Ðiện Tử, Kỹ Thuật. Từ năm 1965 tới 1972, Trung Tướng Dư Quốc Ðống là Tư Lệnh Nhảy Dù. 1972 tới cuối tháng 4-1975, Tư lệnh Nhảy Dù là Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng.

Vào những ngày tháng 4-1975, Sư Ðoàn Dù thành lập thêm Lữ Ðoàn 4 Nhảy Dù, do Trung Tá Lê Minh Ngọc làm Lữ Ðoàn Trưởng. Chính Ðơn Vị này, đã cùng với Chiến Ðoàn 3, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, đánh những trận cuối cùng tại vùng ven đô và ngay trong thành phố Sài Gòn, giống như các chiến sĩ của SD18BB tại Xuân Lộc, làm vỡ mật quân xâm lăng Bắc Việt, trước khi Miền Nam bị sụp đổ.

* SƯ ÐOÀN THỦY QUÂN LỤC CHIẾN: Từ ngày thành lập cho tới khi rã ngủ, binh chủng TQLC đã cùng với Nhảy Dù, Biệt Cách và Biệt Ðộng Quân, vẫy vùng khắp bốn vùng chiến thuật và mặt trận ngoại biên.

Chính các điạ danh Ðầm Dơi (An Xuyân), Thành phố Huế, quốc lộ 9 và nhất là Cổ Thành Ðinh Công Tráng (Quảng Trị).. đã đưa tên tuổi người lính TQLC/VN vào quân sử, hãnh diện đứng ngang hàng với các quân binh chủng thiện chiến nhất trên thế giới.

Binh chủng TQLC được chính thức thành lập vào tháng 10-1954, với quân số nồng cốt được tuyển chọntừ mọi binh chủng như Hải quân, Bộ binh và Biệt Kích. Với quân số ban đầu chừng 2400 người, TQLC thành lập Tiểu Ðoàn 1 và các Ðại Ðội Biệt Lập. Chính Tiểu Ðoàn 1/TQLC vào năm 1959, khi được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, giao cho trọng trách, trấn giữ quần đảo Hoàng Sa. Nhờ vậy đơn vị này mới có cơ hội đánh đuổi Hải Quân Trung Cộng tới chiếm quần đảo trên, khi Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng, ký bán lãnh thổ VN cho Tàu vào năm 1958.

Từ đầu năm 1961, TQLC được tăng quân số lên 3321 người, chia thành bốn Tiểu Ðoàn và các đơn vị yểm trợ, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Ngày 1-1-1962 được nâng thành Lữ Ðoàn, có quân số 5483 người. Trong dịp Việt Nam hoá chiến tranh, TQLC được nâng thành Sư Ðoàn hơn 11.000 người, từ năm 1969 tới khi tan hàng. Tư lệnh cuối cùng của binh chủng này là Thiếu tướng Bùi Thế Lân.

* BIỆT ÐỘNG QUÂN: Trong các đơn vị tổng trừ bị của QLVNCH, binh chủng Biệt Ðộng Quân bị thiệt thòi nhất, từ cơ cấu tổ chức cho tới vấn đề biệt phái xử dụng. Nguyên do vì BĐQ không có Bộ Tư Lệnh mà chỉ có Bộ Chỉ Huy, qua các vị Chỉ Huy Trưởng như Thiếu Tá Phan Trong Chinh, Ðại Tá Lam Sơn, Ðại Tá Phan Xuân Nhuận, Ðại Tá Trần Văn Hai, Ðại Tá Trần Công Liễu và Thiếu Tướng Ðổ Kế Giai. Những ngày cuối cùng tháng tư đen, BDQ được nâng thành Sư Ðoàn .

BĐQ được thành lập năm 1960, là một binh chủng biệt động cảm tử, nên được sử dụng tối đa trong các cuộc hành quân trực thăng vận, nhảy vào tận sào huyệt của VC, tại căn cứ hậu cần và mật khu, khắp bốn vùng chiến thuật. Từ ngày thành lập tới khi rã ngủ, BĐQ có 15 Liên Ðoàn gồm 45 TĐ chiến đấu.

BĐQ có hai trung tâm huấn luyện tai Trung Hòa (Củ Chi-Hậu Nghĩa) và Dục Mỹ (Khánh Hòa). Ðây chính là lò luyện thép, huấn luyện tân binh cùng với các Khoá học về Rừng Nuí Sình Lầy-Biệt Ðộng, cho các cấp Hạ Sĩ quan và Sĩ Quan/QLVNCH.

Trong suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960-1975), dân chúng sống ở Vùng 4 Chiến Thuật, không ai là không biết tới uy danh lừng lẫy của những Con Cọp, thuộc các Tiểu Ðoàn 41, 42, 43 và 44 BĐQ. Năm 1967, Tiểu Ðoàn 37 BĐQ là đơn vị duy nhất của QLVNCH, được biệt phái cho Hoa Kỳ, để trấn giữ căn cứ Khe Sanh. Trong suốt thời gian chiến đấu, TĐ này đã giữ vững phòng tuyến, dù bị bắt làm tiền đồn và bị cọng sản tấn công biển người.Sự kiện trên, đã làm cho các quân nhân Hoa Kỳ thêm kính nể QLVNCH. Ngoài ra, hai Tiểu Ðaòn 21 và 39 BĐQ thuộc Liên Ðoàn 1/BĐQ cũng là những đơn vị thiện chiến nhất của binh chủng, làm rạng rỡ màu mủ nâu, trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 và tại mặt trận Sa Huỳnh (Quảng Ngải) năm 1973. Riêng TĐ 43 BĐQ là đơn vị cuối cùng, tử thủ tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tới trưa 30-4-1975, mới buông súng rã ngũ khi có lệnh bắt đầu hàng.

Từ năm1966, binh chủng BDQ cải tổ và thành lập các Liên Ðoàn, đặt trực thuộc Quân Ðoàn. Ngày nay khi nhớ về binh chủng, những quân nhân các cấp của BĐQ luôn hãnh diện vì đã làm xong trách nhiệm đời trai. Nhiều cấp chỉ huy của binh chủng, đã đi vào quân sử như Chuẩn Tướng Trần văn Hai, Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Võ Vàng, Thiếu Tá Trần Ðình Tự.

* LỰC LƯỢNG ÐẶC BIỆT: Chính thức thành lập từ năm 1957 cho tới ngày 1-1-1963, binh chủng LLDB thuộc Sở Liên Lạc Phủ Tổng Thống, gồm ba cơ cấu: Sở Bắc (sau đổi thành Nha Kỹ Thuật), Sở Nam (sau đổi thành Sở Liên Lạc) và Các Toán Lực Lượng Ðặc Biệt.

Sở Bắc đặc trách chiến lược tình báo ngoài lãnh thổ VNCH. Sở Nam trách nhiệm tình báo trong nước. Các Toán LLDB còn được gọi Biệt Kích hay Biệt Cách. Ðây là những đơn vị cảm tử, chuyên hoạt động sâu trong vòng địch đóng, không được quân bạn yểm trợ, nên mọi trường hợp nguy cấp, người Biệt Kích Quân, phải tự mưu sinh để sống còn. Từ năm1966, Hoa Kỳ chuyển giao toàn bộ lực lượng Dân Sự Chiến Ðấu (Mike Forces) cho Bộ Tư Lệnh LLĐB/VN.

Là một binh chủng đặc biệt trong chiến tranh qui ước, nên quân số LLĐB đã có lúc lên tới 36.000 người, bao gồm 66 Trại Lực Lượng Ðặc Biệt, nằm rải rác dọc theo biên giới Việt-Lào-Miên. Ðây chính là những chướng ngại vật của cộng sản Bắc Việt, trên đường xâm nhập vào lãnh thổ VNCH. Vì vậy từ năm 1965 về sau, nhiều trận đánh đẫm máu giữa bộ đội Hà Nội và LLĐB tại Pleiku, Ben Het, Ðức Cơ, Dakto, Ðồng Xoài, Lộc Ninh, Tống Lê Chân, Kàtum, Bến Sỏi.

Bắt đầu từ năm 1970, các trại LLĐB tại vùng biên giới bị giải tán, nên Biệt Kích Quân tại đây được chuyển sang Biệt Ðộng Quân Biên Phòng. Riêng quân số của Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta và Tiểu Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, được nhập chung thành Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, trực thuộc Phòng 3 Bộ TTM.

Những ngày cuối tháng 4-75 của đất nước, Chiến Ðoàn 3 của LĐ81 BCD về bảo vệ Bộ TTM, đã tiêu diệt nhiều tăng pháo của Bắc Việt tại Ngã Tư Bảy Hiền, Bệnh Viện Vì Dân, Lăng Cha Cả Sài Gòn. Hai câu thơ bất hủ của một cô giáo, bị kẹt lại trong Mặt Trận An Lộc vào năm 1972, đã nói lên tinh thần quyết chiến và sự hy sinh tột cùng của người chiến sĩ Lực Lượng Ðặc Biệt:

"An Lộc Ðịa ố Sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù ố Vị Quốc vong thân".

* TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA ÐÀ LẠT: Chính thức được thành lập tại Huế năm 1948, với nhiệm vụ đào tạo các sĩ quan trung đội trưởng. Năm 1950, trường di chuyển lên cao nguyên Ðà Lạt và đổi tên là Trường Võ Bị Liên Quân. Ngày 29-7-1959, Bộ Quốc Phòng ban hàng Nghị Ðịnh số 317, cải tổ cơ sở huấn luyện trên thành một Trường Cao Ðẳng chuyên nghiệp. Theo đó các sĩ quan tốt nghiệp, ngoài căn bản quân sự vững chắc, còn có trình độ văn hóa tương đương với bậc đại học. Nhưng dù lý thuyết là thời gian thụ huấn phải đủ bốn năm và trình độ sinh viên được nhập khóa, phải có chứng chỉ Tú Tái Phần 2-ban A-B, nhưng thực tế các khóa học, cũng không đồng nhất và hoàn toàn tuỳ theo hoàn cảnh.

Do đó, từ khóa 1 tới khóa 11 phụ, thời gian học chỉ trên một năm.
Từ khóa 12 tới khóa 22A năm 1965, thời gian thụ huấn từ 1 năm rưởi ố 3 năm.
Bắt đầu khóa 22B (20-11-1965) cho tới khóa 27, thời gian thụ huấn đúng 4 năm.
Kháo 28 chỉ học 3 năm rưỡi.
Khóa 29 học 2 năm rưỡi.
Khoá 30 cuối cùng, nhập học ngày 31-1-1974, tới đầu tháng 4-1975, di tản về học chung với Trường Bộ Binh Thủ Ðức, được di chuyển tới Long Thành (Biên Hòa) và tan hàng. Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Trường Võ Bị là Trung Tá Chaix (1949) và cuối cùng là Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ.

Tọa lạc trên dãy đồi hùng vỷ của cao nguyên Lâm Viên, ngất ngưởng giữa trời xanh lộng gió, Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt bề thế, với lối kiến trúc tân kỳ, gồm đủ các phòng ốc, thư viện và phòng thí nghiệm. Tất cả do nhà thầu Hoa Kỳ đảm trách, đưa ngôi trường lên địa vị ngang hàng với các quân trường nổi tiếng nhất vùng Ðông Nam Á, cũng như trường Võ Bị West Point của Mỹ.

Những thanh niên thời đại của Miền Nam VN trong cơn ly loạn, ai nấy đều ao ước được trở thành Sĩ Quan Ðà Lạt, nhưng một số không toại nguyện vì sau này, điều kiện nhập học rất khó khăn. Sinh viên ngoài việc phải có chứng chỉ Tú Tài Phần 2-AB, còn phải qua một kỳ thi tuyển. Với các thiếu nữ VN, thì rất hãnh diện khi được sóng đôi với người yêu, trong bộ lễ phục Gabardine mùa đông, có màu Jasper với huy hiệu của Trường, trên cầu vai đỏ và nón két. Từ năm 1948 cho tới khi Miền Nam bị sụp đổ, Trường Võ Bị đã đào tạo được 4600 sĩ quan. Nhiều người được thăng cấp tướng, giữ các chức vụ then chốt trong quân đội cũng như các cơ cấu của chính phủ.

* TRƯỜNG BỘ BINH THỦ ÐỨC: Từ tháng 10-1951, để đáp ứng nhu cầu chiến trường, hai trung tâm đào tạo sĩ quan trừ bị được thành lập tại Nam Ðịnh (Bắc Phần) và Thủ Ðức (Nam Phần). Chính khóa 1 SQTB đã được khai giảng cả hai nơi kể trên.

Ðể thống nhất việc giảng dạy, đầu năm 1952, trung tâm Nam Ðịnh được sáp nhập vào Thủ Ðức . Ngôi trường tọa lạc trên dãy đồi thấp thuộc xã Tăng Nhơn Phú, quận Thủ Ðức, tỉnh Gia Ðịnh. Từ đó trường liên tục được xây cất và chỉnh trang, trở thành một trong những trường Võ Bị, đẹp và lớn nhất vùng Ðông Nam Á.

Cuối năm 1955, trường Bộ Binh Thủ Ðức trở thành Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức, vừa đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị Bộ Binh, vừa huấn luyện chuyên môn cho các binh chủng như Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin, Quân Nhu, Quân Cụ và Quân Vận. Từ sau tháng 10-1961, phần lớn các trường chuyên môn được dời tới các địa điểm mới nhưng danh xưng Liên Trường, vẫn còn được xử dụng, vì tại Trung vẫn có ba trường hiện diện: Trường Bộ Binh-Trường Thiết Giáp ốTrường Võ Thuật Thể Dục Quân Sự.

Chương trình huấn luyện cho sinh viên sĩ quan Thủ Ðức gồm hai giai đoạn. Bắt đầu từ khóa 6 trở về sau, sinh viên tốt nghiệp mang cấp bậc Chuẩn uý trừ bị. Từ tháng 2-1969 cho tới ngày 30-4-1975, trung tâm trở lại danh xưng củ ‘ Trường Bộ Binh Thủ Ðức ‘.Sau 24 năm hoạt động, trường đã đào tạo được 69 khóa Sĩ Quan trừ Bị, với 80.000 Sĩ Quan. Trong số này nhiều người đã trở thành tướng lãnh rất có tên tuổi như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh QÐ1), Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư Lệnh QÐ4), Thiếu Tướng Bùi Thế Lân (Tư Lệnh TQLC, Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan (Tổng Giam Ðốc CSQG).

Ngày 27-4-1975, trường từ Long Thành dời về Thủ Ðức, tại địa điểm củ ở đồi Tăng Nhơn Phú. Sáng 30-4-1975, xe tăng T54 của cọng sản Bắc Việt tấn công trường nhưng cả 4 chiếc đều bị sinh viên sĩ quan tiêu diệt bằng đại bác 105 bắn trực xạ cũng như M72 và lựu đạn lân tinh.

* TRUNG TÂM HUẤN LUYỆN HẢI QUÂN NHA TRANG: Tọa lạc tại đường Duy Tân Nha Trang, chính thức khai giảng từ tháng 8-1952 nhưng phải tới tháng 7-1955, trường mới thuộc chủ quyền hoàn toàn của VNCH.

Muốn được theo học, các sinh viên Hải Quân phải có Chứng chỉ Tú Tài 2-Ban B. Thời gian thụ huấn là 2 năm, về văn hóa sinh viên có trình độ tương đương bậc đại học. Ra trường, tốt nghiệp mang cấp bậc Thiếu Úy Hải Quân.

Do nhu cầu chiến trường, từ năm 1962-1968, sinh viên HQ chỉ học 18 tháng. Bắt đầu khóa 18 cho tới khóa cuối cùng là 26, sinh viên học đủ 2 năm. Suốt thời gian hoạt động, trường đã đào tạo được 2538 Sĩ Quan Hải Quân và 15.050 Chuyên viên Ngành HQ. Chỉ Huy Trưởng cuối cùng của trường là Phó Ðề Ðốc Nguyễn Thanh Châu (16-1-1973 tới 1-4-1975).

* LIÊN ÐOÀN NGƯỜI NHÁI: Nếu trên bộ có Biệt Kích-Biệt Cách, thì dưới nước có Người Nhái. Họ là những thanh niên thời đại, sống bằng lý tưởng nên xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, khi được giao phó những nhiệm vụ đặc biệt, vô cùng nguy hiểm như ngăn chống lại Ðặc Công Thủy của Bắc Việt, vớt mìn, gở thủy lôi, cứu tù binh.

Ðược thành lập từ năm 1961, với danh xưng là "Liên Ðội Người Nhái" được huấn luyện tại Ðài Loan. Bắt đầu từ tháng 10-1962, Người Nhái Mỹ (Seal West Coast), phụ trách huấn luyện cho Người Nhái VNCH, tại các Trung Tâm Cát Lái, Nha Trang, Cam Ranh và Vũng Tàu. Muốn trở thành Biệt Hải, Người Nhái các quân nhân phải trải qua nhiều khóa huấn luyện gian khổ, giống như sự đào tạo một Ðiệp Viên Ngoại Hạng, trong chiến tranh nhà nghề. Do đó Người Nhái biết sử dụng tất cả cac loại vũ khí của Tây Phương cũng như Khối Cọng Sản, biết cách hoạt động, mưu sinh cũng như đào thoát, vì địa bàn hoạt động bao giờ cũng nằm sâu trong đất địch, không có quân bạn và yểm trợ. Thời gian huấn luyện của Người Nhái là 16 tuần, kể cả 10 tuần lễ Ðịa Ngục. Từ năm 1972 về sau, quân số Người Nhái tăng lên 600 người và trở thành Liên Ðoàn Người Nhái, gồm các Toán Hải Kích, Biệt Hải, Tháo Gỡ Ðạn Dược, Trục Vớt, Phòng Thủ Hải Cảng. Có tất cả 6 Khóa Huấn Luyện Người Nhái và Ðơn Vị Trưởng cuối cùng của Người Nhái là Hải Quân Trung Tá Trịnh Hòa Hiệp.

3. CÁC VỊ TƯỚNG LÃNH CỦA QLVNCH

Từ ngày thành lập cho tới khi sụp đổ, QLVNCH có hơn 100 vị tướng lãnh. Người có cấp bậc cao nhất trong quân đội là Cố Thống Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng QDVNCH. Nhiều tướng lãnh đã tử trận trước ngày 30-4-1975 như Cố Ðại Tướng Ðổ Cao Trí, tướng Nguyễn Viết Thanh, Nguyễn Bá Liên, Trương Quang Ân, Lê Ðức Ðạt, Nguyễn Văn Hiếu. Ngày 30-4-1975, khi TT Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, các tướng lãnh Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ đã lần lượt tự sát để bảo toàn danh dự quân đội và khí tiết của kẻ sĩ. Các tướng Lý Tòng Bá, Nguyễn Vĩnh Nghi,Phạm Văn Sang, Trần Văn Cẩm bị sa cơ giữa trận, còn Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng Chương Thiện, bị VC hành quyết tại Cần Thơ vào ngày 1-5-1975 vì không tuân lệnh đầu hàng.

Sau đó hơn phân nửa các tướng lãnh không bỏ chạy, đều bị bắt đi tù tại các trại giam khổ sai từ Nam ra Bắc, tận biên giới Viêt-Lào-Hoa. Chịu cảnh tù tội gần 17 năm, lâu nhất là các tướng Lê Minh Ðảo, Trần Quang Khôi, Dỗ Kế Giai, Lê Văn Thân và Trần Bá Di.

Từ ngày thành lâp cho tới khi rã ngũ ngày 30-4-1975, QLVNCH có hơn 100 tướng lãnh. Nhiều vị đã anh dũng nằm xuống giữa chiến trường như Ðổ Cao Trí, Nguyễn Viết Thanh, Nguyễn Bá Liên ... hoặc bỏ xác trong chốn lao tù cọng sản tận miền biên giới Hoa-Lào-Việt. Nói chung chỉ có một số rất ít, tham sống bỏ binh sĩ thuộc cấp, đeo máy bay Mỹ chạy ra ngoại quốc để chết già chết nhục trong sự quên lãng và cười khinh của miệng đời.

Nhưng may thay, giữa những kẻ hèn hạ cúi mặt ra đi, trong hàng ngủ tướng lãnh Miền Nam, còn có rất nhiều khuông mặt LỚN đầy UY VŨ HIÊN NGANG, chấp nhận cái chết liệt oanh làm banh mặt kẻ thù lúc đó, góp phần với đồng bào và các chiến sĩ vô danh anh hùng khác, nêu tấm gương bất khuất của người lính trận, cái tiết tháo ngàn đời của đấng sĩ phu trí thức Hồng-Lạc và trên hết là cái TRÁCH NHIỆM-DANH DỰ của Cấp Chỉ Huy, Lãnh Ðạo: "Sinh vi Tướng, Tử Vi Thần, Nhất tướng công thành vạn cốt khô nên Thành Mất Phải Mất Theo Thành". Những danh tướng VN Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai ngay khi tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh bắt QLVNCH buông súng, rã ngũ đầu hàng Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế lúc trưa ngày 30-4-1975, các vị trên đã tự tìm cái chết vinh, làm hãnh diện cho màu cờ và sắc áo của QLVNCH, mãi mãi trong dòng sử oai hùng Nước Việt.

* THIẾU TƯỚNG PHẠM VĂN PHÚ

Xuất thân từ binh chủng Nhảy Dù, từng tham gia Mặt Trận Ðiện Biên Phủ năm 1954. Nguyên Tư Lệnh Quân Ðàn II từ 1974-1975. Viết về Tướng Phú, hầu như các sử gia cận đại trong và ngoài nước, phần nào quy trách nhiệm cho ông, trong trận Ban Mê Thuộc thất thủ vào tháng 3-1975. Kế tiếp là cuộc lui quân từ Pleiku về Tuy Hòa, trên Liên Tỉnh Lộ 7-B hoàn toàn thất bại, làm tan vở gần hết lực lượng hùng hậu của Quân Ðoàn II.

Hậu quả lam hằng trăm ngàn đồng bào vô tội và binh sĩ các cấp đã chết thảm trong khi di tản, vì các cấp chỉ huy cuộc lui quân từ Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn, cho tới ngoài mặt trận, chia rẽ đố kỵ, làm mất hết yếu tố thành công, khác xa với cuộc lui quân đêm 20-4-1975 của SĐ18BB +LĐ1ND + TK.Long Khánh + TĐ82BĐQ do tướng Lê Minh Ðảo đi bộ chỉ huy, trên Liên Tỉnh Lộ 2, lính và dân hầu hết đều được về tới Bà Rịa, kể cả TĐ2/43/SĐ18BB của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, đoạn hậu trong cuộc lui quân thần tốc này.

Tự biết mình là vị tướng trấn giữ biên cương, không làm tròn trách nhiệm trước đồng bào và quân sĩ dưới quyền, tướng Phú đã khẳng khái kết thúc đời mình bằng độc dược ngày 1-5-1975, dù ông có phương tiện để chạy ra ngoại quốc như một vài tướng lãnh khác. Ông chết trước là để tạ tôi với quốc dân và trên hết là chứng tỏ với giặc Cộng, cái uy vũ của người làm tướng Miền Nam, không phải ai cũng hèn hạ như VC từ Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp khi sa cơ đã tàn nhẫn bán rẻ đồng đội mình cho địch, để đổi lấy tiền bạc và mạng sống cá nhân.

* THIẾU TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM


Tư Lệnh quân đoàn IV tại Cần Thơ. Ông sinh trưởng trong một gia đình danh giá đạo đức tại Thừa Thiên và xuất thân từ Binh chủng Nhảy Dù. Trong cuộc đời binh nghiệp, Ông là một trong những tướng lãnh Miền Nam, cho tới ngày cuối cùng, luôn được tiếng là liêm chính, nghiêm minh và đạo đức.

Ngày 30-4-1975, dù Sài Gòn bị VC tấn công tứ phía nhưng gần hết lãnh thổ Quân Khu IV, quân lực VNCH và các cấp chỉ huy tại các tiểu khu vẫn còn nguyên vẹn và giũ vững tinh thần. Khi Tổng Thống Minh nghe theo sự xúi giục của Nguyễn Hữu Hạnh và đám VC nằm vùng, bắt QLVNCH buông súng đầu hàng. Tướng Nam tuân hành theo lệnh thượng cấp và kỷ luật quân đội nhưng nhất quyết không bỏ chạy cũng chịu nhục trước giặc xâm lăng. Vì vậy ông đã dùng súng tự kết liễu đời mình, ngay trong văn phòng Tư Lệnh quân đoàn tại Cần Thơ, trong sự vô cùng thương tiếc của thuộc cấp và binh sĩ dưới quyền, trong đó có cố Ðại Tá Tỉnh trưởng Chương Thiện là Hồ Ngọc Cẩn, cùng binh sĩ, không chịu buông súng đầu hàng.

* THIẾU TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG

Ông sinh năm 1933 tại Hốc Môn, tỉnh Gia Ðịnh. Nguyên Chuẩn Tướng Tư Lệnh Phó quân đoàn IV. Là người hùng, khi còn là Tư Lệnh SD5BB, đã cùng với Chuẩn tướng Trần Văn Nhựt, lúc còn làm Tỉnh Trưởng Bình Long, đã giữ vững An Lộc, trong suốt 68 ngày bị 4 SD Bắc Việt vây hãm, trong mùa hè đỏ lửa 1972. Từ năm 1973, Tướng Hưng về làm Tư Lệnh SĐ21BB, sau đó là Tư Lệnh Phó QĐ IV.

Ngày 30-4-1975, sau khi Dương Van Minh đầu hàng giặc, Thiếu Tướng Nam tuẫn tiết tại văn phòng tư lệnh. Tướng Hưng về nhà, từ gĩa thân quyến, bạn bè và binh sĩ dưới quyền, rồi tự sát lúc 8 giờ 30 tối cùng ngày, để mãi mãi cùng với các anh hùng liệt nữ, đi vào thanh sử VN muôn đời.

* CHUẨN TƯỚNG LÊ NGUYÊN VỸ

Nguyên Tư Lệnh SD5BB, một SĐ dã chiến từ Bắc Việt di cư vào Nam từ năm 1955, trải qua nhiều vị tư lệnh nổi tiếng như Woàng A Sáng, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Văn Hiếu, Lê Văn Hưng và cuối cùng là Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ từ 1974 cho tới khi tàn cuộc chiến. SD5BB đã trấn giữ nhiều năm vùng đất, tuy sát nách Sài Gòn nhưng hung hiểm, bao gồm các tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long.

Tướng Vỹ đã bảo toàn được lãnh thổ gần như nguyên vẹn, cho tới khi có lệnh đầu hàng. Noi gương tiền nhân bất khuất, trước toàn thể sĩ quan các cấp thuộc Bộ Tư Lệnh SĐ5BB tại căn cứ Lai Khê ố Bình Dương, Tướng Vỹ đã dùng khẩu súng lục Beretta 6,35 ly, từng đeo bên mình nhiều năm, để bắn vào đầu tự sát.

* CHUẨN TƯỚNG TRẦN VĂN HAI

Ông xuất thân khóa 7 trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, sinh năm 1926 tại Cần Thơ (tài liệu của Nguyễn Thanh Vân). Ông xuất thân từ Binh chủng Biệt Ðộng Quân và là một trong những người có công lớn, trong việc hoàn thành Trung tâm huấn luyện BDQ. Dục Mỹ năm 1961. Ðây là lò luyện thép đúng nghĩa, trong việc đào tạo quân nhân các cấp của binh chủng biệt động, chuyên hành quân rừng núi sình lầy. Trước khi trở thành Tư lệnh SĐ7BB. Chuẩn tướng Hai, đã giữ chức Chỉ Huy Trưởng BĐQ/QLVNCH, góp phần lớn trong việc đánh đuổi cọng sản đệ tam quốc tế, ra khỏi thủ đô Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Ðịnh, trong trận Tết Mậu Thân 1968.

Theo bước các cấp chỉ huy tại quân đoàn IV anh hùng là Thiếu Tướng Nam, Chuẩn tướng Hưng nên ông đã tự sát tại căn cứ Ðồng Tâm của BTL.SD7BB vào trưa ngày 30-4-1975. Thi hài ông đã được thuộc cấp, nhân lúc cộng sản đang say men vơ vét chiến lợi phẩm, mang về tận Sài Gòn giao cho gia đình an táng.

Ðúng như lời nhận xét thật vô cùng chí lý của Thiếu tướng Mỹ George Wear "khi quân sĩ VNCH được chỉ huy bởi các cấp lãnh đạo cũng như tướng lãnh giỏi, đạo đức, thì Họ chiến đấu xuất sắc như bất kỳ một quân đội của các nước trên thế giới, mà điển hình nhất là trận đánh cuối cùng tháng 4-1975 tại Xuân Lộc-Long Khánh, đã làm cho tập đoàn lãnh đạo cọng sản, tại Bắc Bộ Phủ phải run sợ và la làng, vì bị thương vong và thiệt hại quá to lớn, hơn bất cứ một trận đánh nào đã xảy ra trong chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975)".

Câu nói trên đã được chứng minh một cách trung thực về khả năng tác chiến thần thánh của QLVNCH, trong viêc ngăn chân và tiêu diệt giặc Bắc xâm lăng. Nhưng tiếc thay những bậc sĩ quan các cấp, đạo đức tài giỏi thì bạc mệnh, đa truân cũng như những cấp lãnh đạo anh minh, lại vô quyền bất lực. Tình trạng VNCH như thế làm sao không mất nước vào tạy đệ tam cộng sản quốc tế, y như nước Sở thời Chiến quốc, vua u mê, quần thần xu nịnh ngu dốt, nên cuối cùng bị Tần quốc thôn tính tiêu diệt.

4. NHỚ ƠN ANH: NGUỜI LÍNH BẤT HẠNH VNCH

Hai mươi năm chinh chiến, người Lính VNCH đã có 250.000 gục ngã trước đạn thù và nửa triệu thương binh chịu đời bất hạnh vì một phần cơ thể đã gửi lại sa trường. Hiện nay Chính Phủ cũng như QLVNCH không còn nửa, nhưng trong tâm tư của mọi người được sống sót qua cuộc đổi đời mạt kiếp, thì lý tưởng và danh dự của Người Lính, càng được sáng tỏ, trong niềm hãnh diện chung của quân-dân Miền Nam.

Lịch sử của một quốc gia là những gì trung thực , mà người dân của nước đó đã ghi chép không hề thêm bớt. Nhờ vậy ta mới biết được về cuộc nội chiến của Hoa Kỳ, xảy ra từ năm 1861-1865, cùng với thái độ của dân chúng và chính quyền nước Mỹ tại Miền Bắc là kẻ thắng trận, đã không hề lên án, bỏ tù hay trả thù những người Miền Nam bại trận. Ðã vậy, Hoa Kỳ còn ghi ơn tất cả những chiến sĩ của hai miền vừa nằm xuống trong cuộc chiến, vì lý tưởng riêng của họ.

Thế chiến 2 kết thúc, Tòa Án quốc tế Nuremburg, chỉ kết tội những Ðầu Sỏ trong phe Trục, mà không hề bắt bớ hay gây khó khăn cho quân nhân các nước Ðức-Ý-Nhật. Năm 1920, Lãnh tụ kháng chiến quân Libya là Tướng Mukhta, bị người Ý bắt và tử hình. Nhưng chính Tổng Tư Lệnh Ý tại Bắc Phi , là người đã ở lại pháp trường, để lo lắng hậu sự cho vị anh hùng dân tộc Libya, vốn là kẻ thù của người Ý lúc đó.

Tại VN, khi thực dân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền tây Nam Phần năm 1867, sau đó là thành Hà Nội năm 1873. Các tướng lãnh thủ thành đương thời là Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu đã oanh liệt tử tiết theo thành mất và được kẻ thù là người Pháp, tôn kính mặc niệm như chính các tướng lãnh của họ. Sau rốt là số phận của 500.000 quân nhân Mỹ đã tham chiến tại VN, trong số này hơn 50.000 người tử trận. Ngày nay các chiến sĩ trên đã được quốc dân Hoa Kỳ trả lại công lý và danh dự, để họ hiên ngang ưỡn ngực, cũng như an giấc nghìn thu, bên cạnh ông cha, một đời liệt sĩ. Tất cả đã chết cho lý tưởng quốc gia, sống vinh quang và yên nghỉ trong danh dự.

Người lính VNCH trong suốt hai mươi năm binh lửa cũng vậy, đã phơi gan trải mật để bảo vệ cho đất nước và mạng sống của đồng bào, bị cọng sản quốc tế Bắc Việt xâm lăng giết hại. Tóm lại gần hết cuộc chiến, ở đâu có cọng sản khủng bố cướp bóc giết hại dân lành, là ở đó có sự diện của người lính Miền Nam. Ở đâu có bóng cờ vàng ba sọc đỏ, là ở đó người dân trong vùng chiến nạn, tìm đủ mọi cách trốn thoát sự kềm kẹp của giặc cộng, để trở về vùng quốc gia, nhờ che chở đùm bọc. Ai có làm lính tác chiến hay người cán bộ áo đen Bình Ðịnh Nông Thôn, Cán Bộ Xã Hội.mới biết được thế nào là nỗi thống khổ, trên đe dưới búa, cá nằm giữa dao thớt, người dân tay không hứng hai lằn đạn bạn thù, của người VN trong thời ly loạn. Có là người dân bị kẹt trong vùng xôi đậu, lửa khói bom đạn, mới thấu hiểu đời người lính gian khổ chết chóc muôn trùng. Có là người dân quèn, nghèo sống đời cay cực, mới thương xót cho cảnh ba đồng, ba cộc, của kiếp lính Miền Nam.

Trong nổi chịu đựng hy sinh âm thầm nhưng thảm nhất là người lính đã không bao giờ được một lời an ủi tử tế của hậu phương, để yên tâm tiếp tục cầm súng giết giặc bảo vệ cho người dân. Trái lại họ còn bị muôn ngàn bất hạnh đeo đuổi suốt cuộc chiến. Thật vậy, khi cầm súng thì cô đơn, nửa đường bị hậu phương, đồng minh và lãnh đạo phản bội bán đứng. Ngày trở về thì bị giặc trả thù đầy đọa, rồi chết thầm trong đói nghèo tủi nhục.

Tiếp tay với những tâm hồn thác loạn, ăn cơm quốc gia thờ ma cọng sản, là bọn báo chí quốc tế bất tài, a dua, xu thời. Nhờ vậy mà cộng sản Bắc Việt, mới có cơ hội tung hoành một mình một cõi, thao túng vẽ vời huyền thoại, bóp mép lịch sử, để đầu độc các thế hệ VN đang sống trong sự kềm kẹp của chế độ bảo tàn, độc đảng. Nhưng rồi gieo gió thì phải gặt bão, chính sự khoắc lác dại khờ trên, đã đưa toàn bộ đảng cộng sản VN chìm trong cái vũng bùn ô nhục, khi bí mật lịch sử lần lượt được mọi phe phái bật mí và hồi tưởng.

Nhưng người lính VNCH từ trước tới nay chỉ biết có cầm súng để chiến đấu giữ nước và bảo vệ sinh mạng cho người khác, chứ không quen viết lịch sử để ca tụng một chiều. Cho nên nếu có được một tiếng cảm ơn hay sự hồi phục danh dự, thì đó cũng chỉ là sự phản tỉnh của thế giới tự do khi đã biết được sự thật cùng ý nghĩa của cuộc chiến mà người Miền Nam phải bán mạng để chống ngăn giặc Bắc xâm lăng tới giờ phút cuối cùng. Ngoài ra còn có sự tưởng tiếc muộn màng của đồng bào hậu phương, đối với người chiến sĩ VNCH, khi chính bản thân và gia đình người dân, qua cuộc đổi đời, cũng đã trở thành nạn nhân tận tuyệt, của một chế độ bạo tàn, của những con người không có nhân tính, mà hôm qua chính người dân coi như thần thành, nên đã công khai giúp và theo chúng, đâm sau lưng đồng đội, đồng bào mình.

NGƯỜI LÍNH VNCH BỊ TRÍ THỨC THIÊN TẢ ÐÂM SAU LƯNG

Trong lúc đất nước đang lâm nguy vì giặc xâm lăng phương Bắc, trong lúc gần hết thanh niên nam nữ thuộc mọi tầng lớp của xã hội miền Nam, không phân biệt sang hèn, kinh thượng, bỏ nhà, bỏ lớp, bỏ hết tương lai của tuổi trẻ và đời người để lên đường ra biên cương chống giặc thù. Giữa lúc đất nước lầm than, muôn người khốn khổ vì chiến tranh do Hồ Chí Minh và cọng sản mang từ Liên Xô-Trung Cộng vào để dầy xéo non sông tổ quốc, thì tại hậu phương Miền Nam có một số người tự nhận mình là trí thức, giáo sư, tu sĩ, hầu hết đều đang độ xuân thì, mập mạnh nhưng lại tìm cách đứng bên lề cuộc chiến bằng đủ mọi lý do để được hoãn dịch, trốn nghĩa vụ làm trai trong thời tao loạn. Nếu vì sợ chết mà trốn đi lính, thì cũng còn có thể tha thứ nhưng những hạng người này, không bao giờ chịu để yên cho đồng bào và đất nước mình, đang trăn trở trong cơn đau bom đạn, hận thù, đói nghèo và ly biệt. Họ hoàn toàn không thông cảm cho ai hết, ngoài cái lý tưởng đã thu lượm được, qua sách báo tây phương phản chiến và các kinh điển nhật tụng của thiên đàng xã hội chủ nghĩa, trong lúc được sống ở hậu phương, thừa mứa vật chất và thời gian để đâm thọt, phá hoại.

Ngày nay ai cũng biết, cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1955-1975) rất đa dạng, phức tạp, khó có thể định nghĩa cho trọn vẹn. Nói chung tùy theo lý tưởng,ai muốn gọi thế nào cũng đều có ý nghĩa riêng với người trong cuộc. Cho nên với người Miền Nam VN, thì đây là một cuộc chiến đấu chống xâm lăng. Cuộc chiến này hoàn toàn khác biệt với cuộc phân tranh của hai họ Trịnh Nguyễn vào thế kỷ thứ 17, lúc đó chỉ là cuộc tương tàn nồi da xáo thịt để tranh giành quyền lãnh đạo của đất nước. Trái lại cuộc chiến lần này, người Miền Nam chiến đấu, vừa để tự vệ, vừa bảo vệ phân nửa mảnh đất VN, để khỏi bị Bắc Việt nhuộm đỏ bằng chủ thuyết cọng sản. Nhưng với bọn trí thức thiên tả, phản chiến nằm vùng lúc đó, lại trắng trợn phỉ báng, gọi QLVNCH là lính đánh thuê cho Mỹ.

Chính bọn trí thức thiên tả này, đã lợi dụng tự do báo chí ngôn luận của VNCH, để viết lách, bôi nhọ, xuyên tạc, tuyên truyền phá nát hậu phương, đâm sau lưng chiến sĩ tuyền tuyến, đang liều chết để bảo vệ đồng bào, trong đó có cả sinh mạng ký sinh của chúng.

MỸ BÁN ÐỨNG VNCH CHO CỌNG SẢN

Bắt đầu từ ngày 13-5-1968, Mỹ và Bắc Việt đã lén lút đi đêm với nhau tại Paris, để tìm cách đổi chác trên thân xác của VNCH. Nhưng kẻ cắp gặp bà già, nên dù hằng tuần có gặp nhau, Kissinger và Lê Ðức Thọ vẫn không đạt được một thỏa thuận nào. Theo tiết lộ mới đây của Kissinger, trong hồi ký "The Kissinger Transcripts", trong đó đã ghi chép đầy đủ về mọi mánh lới, thủ thuật của Mỹ để ve vãn Trung Cộng, chống lại Liên Xô vào tháng 1-1972. Cũng theo sách dẫn chứng trên, thì Kissinger đã làm đủ mọi thủ đoạn, để đạt cho được mục đích. Trong cuộc, VNCH là con vật tế thần, mà cặp Nixon và Kissinger đã xử dụng, nên cuối cùng dẫn tới sự chấp nhận những điều kiện phi lý, mà Hoa Kỳ dùng bùa viện trợ, ép buộc VNCH phải ký kết trong bản hiệp định ngưng bắn năm 1973. Riêng đối với Bắc Việt, mặt thật cũng đâu có hãnh diện gì hơn VNCH, trong cuơng vị làm đầy tớ Nga-Tàu. Bởi vậy, khi Liên Xô thấy Mỹ và Trung Cộng đã liên kết với nhau, chắc chắn Tàu Cộng sẽ theo Mỹ, bắt VC ngưng bắn có điều kiện. Bởi vậy, một mặt LX viện trợ tối đa cho Hà Nội, đồng thời ra lệnh cho VC mở hết mặt trận này tới chiến dịch khác, mà lần cuối cùng là ngày quốc hận 30-4-1975, đưa cả nước VN trong ba mươi năm đắm chìm trong cảnh nghèo đói, lầm than, hận thù vì vũng bùn ô uế của cái gọi là thiên đàng xã hội chủ nghĩa.

Người Mỹ đã ký kết hiệp định ngưng bắn Ba Lê, chỉ với mục đích rút quân và đem tù binh về nước, để Nixon đắc cử thêm một nhiệm kỳ tổng thống Mỹ và Kissingertiếp tục giữ chức lớn trong chính quyền Hoa Kỳ. Ngoài mục đích trên, người Mỹ không cần đếm xỉa gì tới tương lai cũng như số phận của người Việt, nước Việt.

Sau này, khi VNCH đã sụp đổ, nhiều nhân vật quốc tế liên quan tới cuộc chiến VN, đều phê bình sự tắc trách của Hoa Kỳ, khi dựng lên cái quái thai hiệp định ngưng bắn, để bán đứng đồng minh của mình. Chính TT. Nixon cũng đã xác nhận lỗi lầm của mình trong tác phẩm "No More VietNam" rằng tôi đã thấy những vấn đề nan giải của hiệp định Ba Lê nhưng quan trọng nhất trong thỏa ứơc này là đã không bắt buộc Hà Nội rút hết bộ đội đã xâm nhập về Bắc. Còn M. Gauvin, đại sứ Canada tại Hy Lap, nguyên chủ tịch uỷ hội kiểm soát quốc tế (CICCS) tại VN, đã tuyên bố "VNCH bi sụp đổ hoàn toàn do quyết tâm bỏ rơi của Hoa Kỳ. Riêng cái hiệp định ngưng bắn ký kết tại Ba Lê năm 1973, đã không phản ảnh được ý muốn và nguyện vọng của người dân Miền Nam, là muốn sống hòa bình và không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, nên ngay từ năm 1954, họ đã phải bỏ miền bắc để vào Nam, chạy trốn VC". Nhưng phê bình một cách thẳng thắn, là Sir R.Thompson "Sự sống còn của Nam VN, đã bị người Mỹ tước đoạt hay nói thẳng là bán đứng. Có làm như vậy, Hoa Kỳ mới tránh cho nước mình bị khỏi bị sâu xé tan nát. Một điều nghịch lý khác là cọng sản Bắc Việt, bị bó buộc tới bàn hội nghị, không phải để cứu họ, mà là cứu nước Mỹ. Nên dĩ nhiên Mỹ phải đem đồng minh VNCH ra bán đứng, để đền ơn cứu mạng".

Ngoài vấn đề phủi tay tại Nam VN sau khi đã đem được tù binh và hài cốt quân Mỹ về, quốc hội Hoa Kỳ còn bội ước, khi liên tục biểu quyết các đạo luật ngăn cấm can thiệp bằng quân sự của Mỹ tại Nam VN, cắt giảm dần quân viện, không chịu hoán đổi quân trang quân dụng, như các thỏa ước đã ký kết. Sự bất công vô lý, đến đổi Tuỳ Viên Quân Sự (DAO), tại Nam VN, đã phải viết "Người Lính VNCH do đó, đã phải chấp nhận sống với những nhu cầu, dưới mức bình thường, làm cho tinh thần người chiến sĩ xuống thấp, vì bị hạn chế các phương tiên ngăn chống giặc". Chỉ có Robert S McNamara, cựu bộ trưởng quốc phòng thời TT.John Kenedy, thì vẫn ngoan cố để chạy tội, quên hết trách nhiệm của mình, trong tác phẩm "In Retrospect: The Tragedy and Lessons Of VN", bêu xấu và đổ hết trách nhiệm làm mất nước cho QLVNCH.

Sự thật, khi viết về Quân Lực VNCH, hầu hết các nhà quân sử trên thế giới cũng như các Sử Gia hiện tại của VN như Nguyễn Khắc Ngữ, Chánh Ðao, Phan Nhật Nam, Ttần Ðại Sỹ, Phạm Huấn, Nguyễn Ðức Phương, Phạm Phong Dinh, Trần Gia Phụng, Nguyễn Lý Tưởng đều đứng chung trên quan điểm ca tụng tinh thần hy sinh và trách nhiệm của người lính VNCH, đối với đất nước và đồng bào. Nhờ thiện chiến, có kỷ luật nghiêm minh, biết bổn phận, nên trong suốt cuộc chiến hai mươi năm, dù lúc nào VNCH cũng bị Bắc Việt tấn công lén như Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972 nhưng Họ đã can trường lật ngược hoàn cảnh, để chuyển thắng thành bại. Hầu hết lính và các cấp chỉ huy ngoài chiến trường, đã quyết tử trong giờ thứ 25, tới khi được lệnh bắt buông súng của Dương Văn Minh, mới chịu rã ngủ.

Mới đây có nhiều tác phẩm được công bố như The Pategon Papers, Fires In The Lake của Frances Fitzgeral, The Best and The Brightest của Halberstam và nhất là các hồi ký của Kissinger.. đều cho thấy từ khởi đầu cuộc chiền, đến khi tàn cuộc, cho thấy người Mỹ luôn luôn là đạo diễn chính trong thảm kịch VN. Trong lúc cọng sản Bắc Việt, được Tập Ðoàn Cộng Sản Quốc Tế cả Liên Hiệp Quốc, viện trợ quân sự thả dàn, thì QLVNCH bị Hoo Kỳ qua Viện Trợ, chèn ép bắt bó tay, nên phải chiến đấu trong nghiệt ngã để sinh tồn. Theo Harry H Noyes, qua tác phẩm "Herdic Allies", với tư cách là một sĩ quan cao cấp của Mỹ, đã chiến đấu nhiều năm ngoài mặt trận, bên cạnh QLVNCH, nên đã có những nhận định rất thẳng thắn, trái ngược với mồm mép miệng lưỡi bọn nhà báo và chính trị con buôn Mỹ và tây phương. Theo tác giả trên, thì thái độ bêuxấu hay bóp méo sự thật, nhắm vào QLVNCH, chẳng qua chỉ là sự kỳ thị chủng tộc thường thấy của bọn da trắng, lúc nào cũng tự xem mình là văn minh, đứng trên các dân tộc khác. Một điều quan trọng khác, là suốt cuộc chiến đẫm máu tại Nam VN, đa số dân tây phương và Hoa Kỳ, đã bị điệp viên của khối cộng sản, củng như KGB của Liên Xô, mua chuộc hay tuyên truyền. Do đó lúc nào họ cũng có cảm tình với Bắc Việt, nên cứ bóp méo sự thật, để khinh bỉ VNCH.

Bảo rằng QLVNCH không chịu chiến đấu, trốn trách nhiệm, chỉ muốn khoán trắng cho quân đội Mỹ, kể cả sự oanh tạc Miền Bắc, là một ngang ngược và phi lý. Ðể trả lời, nhiều người đã hỏi ngược lại người Mỹ rằng "vậy thì từ năm 1955-1965 và cuối năm 1971-4/1975, khoảng thời gian đó, người Mỹ hoặc chưa tới hay đã rời VN, vậy ai đã chiến đấu với bộ đội Bắc Việt ?". Còn về vấn đề oanh tạc Miền Bắc, từ đầu tới cuối có khi nào Hoa Kỳ giao trách nhiệm cho Không Quân VNCH, cũng như chịu cung cấp cho họ các loại phi cơ chiến đấu tối tân, để chiến đấu cho có hiệu quả. Một bí mật khác, là người Mỹ dành độc quyền oanh tạc Miền Bắc, để thi hành lệnh của Hoa Thịnh Ðốn, là đem gần hết số bom đổ xuống biển hay núi rừng không phải là mục tiêu quân sự cần tiêu diệt. Bởi vậy làm sao dám giao nhiệm cho KQ.VNCH ?

Còn trong thời gian Mỹ tham chiến tại VN, mở các cuộc hành quân tiêu diệt cọng sản. Tất cả đều là HÀNH QUÂN HỖN HỢP, giữa quân ÐồngMinh-Hoa Kỳ và VNCH, tiêu biểu như HQ Cedar Faces tại Vùng Tam Giác Sắt (Bình Dương-Hậu Nghĩa), đầu tháng 1-1967, tiếp theo là HQ Toledo, mục đích càn quét Chiến Khu C và Cục R, do Lực Lượng hỗn hợp, gồm Lữ Ðoàn 173 Nhảy Dù-Hoa Kỳ cùng 2 Tiểu Ðoàn 33-35/Biệt Ðộng Quân/VNCH đảm trách. Ðặc biệt tại Ðiện Biên Phủ KHE SANH cuối năm 1967, vẫn có quân VNCH tham dư, đó là TĐ37- BĐQ, thuộc Liên Ðoàn 1/BĐQ của Quân Ðoàn I.

Sau cuộc chiến, để chạy tội bán đứng đồng minh, cũng như phản bội Tổ Quốc và đồng bào mình, Hoa Kỳ và bọn khoa bảng-trí thức thân cộng Miền Nam, những người muôn năm trong dòng sử Việt, được bia đời phong cho danh hiệu là "TRÍ THỨC CHỒN LÙI", còn các lãnh tụ cọng sản như Stalin, Mao Trạch Ðông, kể cả Hồ Chí Minh, coi rẻ hơn CỤC PHÂN NGƯỜI vì suốt kiếp chẳng làm được một điều gì tốt hay ích lợi, để giúp cho đất nước và đồng bào. Bọn trí thức này theo chân Người Việt tị nạn khắp các nẻo đường hải ngoại, vẫn sống cao sang quyền thế như lúc còn trà trộn trong các Ðại Học, Chùa-Nhà Thờ, Tòa Báo, trên các trang sách-thơ, vẫn chứng nào tật nấy, không hề thay đổi lương tâm một chút gì, dù phong trần đã nếm, vinh nhục bề bề và trên hết là vẩn bám vào Người Việt Tị Nạn Cộng Sản để mà sinh tồn, dù rằng chúng đã nói là ÐÃ ÐI HẾt BIỂN nhưng lại không dám về sống với Việt Cộng, để hưởng Vinh Hoa Phú Quý, Tự Do Dân Chủ.trong Xã Nghĩa Thiên Ðàng, như chúng hằng ca tụng.

Chính người Mỹ và bọn trí thức-khoa bảng thân cộng này, trước sau vẫn đổ trách nhiệm làm sụp đổ Miền Nam cho các cấp lãnh đạo của VNCH. Riêng sự bảo rằng VNCH không có lãnh đạo xứng đáng, ngang cơ để đối đầu với cáo già Hồ Chí Minh của Bắc Việt, sau khi TT Ngô Ðình Diệm bị hạ sát vào ngày 1-11-1963, là điều suy nghĩ quá đáng và đâu có khác gì việc Mỹ nói QLVNCH không chiến đấu, mà chỉ giao hết cho quân đội Hoa Kỳ.

Nhưng mai mĩa nhất vẫn là lời xác nhận của Kissinger , khi cho bách hóa các tai liệu cũ liên 1uan tới chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1960-1975 ) "Mỹ đã chơi với Trung Cộng từ năm 1972, vậy thì bán Miền Nam VNCH cho Cộng Sản Quốc Tế Bắc Việt, qua Hiệp Ðịnh Paris 1973, cũng đâu có gì lạ ?"

Sự thật, QLVNCH từ 1960-1975, đã có rất nhiều cấp chỉ huy tài ba lẫn đạo đức, văn võ vẹn toàn. Họ được đào tạo từ các quân trường nổi tiếng nhất vùng Ðông Nam Á thời đó như Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, Trường Bộ Binh Thủ Ðức, Trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị, Các Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân và Hải Quân, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Cảnh Sát cũng như Trường Ðại Học Quân Sự.

Ngày xưa người Lính VN, chiến đấu trong vinh quang, khi trở về cũng thật hiên ngang, giữa cảnh phu phụ trùng phùng, nồng ấm kết lại mối tình xưa :

"... xin vì chàng, xếp bào cởi giáp
xin vì chàng giũ lớp phong sương
vì chàng tay chuốc chén vàng
vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng ..."
(Chinh Phụ Ngâm ố Ðặng Trần Côn và Ðoàn Thị Ðiểm)

Ngày nay người chiến sĩ VNCH không có cái diễm phúc trên, vì suốt cuộc chiến hai mươi năm, ngoài mặt trận thì chống trả với kẻ thù trong nổi cô độc. Khi trở về lại bị kẻ thù đọa đầy, tù ngục và chết trong uất hận nghẹn ngào.

Thử hỏi trong cõi đời này, có quân đội nào bất hạnh hơn QLVNCH ? Trong lúc đã có không biết bao nhiêu người hiện nay, đang sống thản nhiên khắp các nẻo đường hải ngoại, mà hầu hết bản thân họ hay con cháu, hôm qua vẫn sống nhờ sự bảo bọc của lính. Trong số này có rất nhiều người đang dấn thân lo chuyện non nước. Không biết trong tâm tư của họ, có một giây phút nào, do lương tâm xao động, khiến họ chợt nghĩ tới những người xưa đã VỊ QUỐC VONG THÂN ? Cũng may hầu hết người Miền Nam, xưa nay vẫn biết ơn người lính năm nào, nhất là sau ba mươi năm qua, đã biết hết cảnh đổi đời oan nghiệt.

Xưa NGƯỜI LÍNH chiến đấu anh dũng trong khói lửa để bảo quốc an dân. Nay những người lính già còn sót lại sau cuộc chiến và lớp hậu duệ của lính năm nào, đã và đang tiếp tục tranh đấu không ngừng, cho một ngày về QUANG PHỤC QUÊ HƯƠNG được sống thật với tự do và no ấm, như chúng ta hiện nay đang hưởng tại quê người.

"... tội nghiệp, đời trai chưa thỏa chí
sa trường dung ruổi đã phơi thây
đoàn quân hùng liệt nay về đất
hồn vẫn quanh co giẫm lối gầy

chiều chiều đứng ngóng ngàn mây nổi
mà khóc quê hương khuất bến bờ
nhớ lúc hát rừng nơi chiến địa
mộng hoàng hoa, khép giữa hư vô ..."

Xin nghiêng mình trước đồng đội đồng bào đã hy sinh vì đại nghĩa Dân Tộc Việt. Cũng xin chân thành biết ơn Quý Ân nhân đồng hương khắp mọi nẻo đường lưu xứ, đã và đang hướng về những người lính cũ ngày xưa, giờ họ là Quả phụ, cô nhi và thương phế binh VNCH đang kẹt ở địa ngục xã nghĩa.

Người lính cũ giờ này không cần gì hết vì cái gì họ cũng đã có, kể cả tình thương yêu cuối đời mà đồng bào cả nước đã dành cho họ, như trong những truyện ngắn của nhà văn trong nước Vũ Ngọc Tiến vừ a được phổ biến.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
tháng 6-2009
Hồ Đinh

Sunday, June 14, 2009

Biệt Kích Quân "Chuột Nhắt" Nguyễn Văn Tý - Nguyễn Khắp Nơi


BIỆT KÍCH QUÂN "CHUỘT NHẮT" NGUYỄN VĂN TÍNH


Nguyễn Khắp Nơi

Viết theo lời kể của Biệt Kích Quân Nguyễn Văn Tính, Phòng 7, Nha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Thân tặng các bạn Biệt Kích Quân của “Sở Bắc” QLVNCH.

*
* *

Khởi đầu, tôi gia nhập Đoàn Kỵ Binh của Pháp năm 1953, Nam Định. Sau trận Điện Biên Phủ, Đoàn Kỵ Binh di tản về Hà Nội để sửa soạn xuống tầu đi Tunisie, ai không muốn đi thì có quyền ở lại quê nhà. Tôi xin về quê và theo giáo xứ di cư vào Nam năm 1954, sống ở Thừa Thiên.

Khi được tin “Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung” đang cần tuyển những thanh niên có tinh thần chống cộng và có kinh nghiệm chiến trường, tôi được Cha Bình, địa phận Thừa Thiên giới thiệu với Ông Ngô Đình Cẩn. Tôi được nhận vào đoàn ngay và được huấn luyện trở thành một “Điệp Viên”, với nhiệm vụ là tìm và bắt những cán bộ Việt Cộng được gài lại hoặc núp bóng dân tỵ nạn vào Nam để phá hoại.

Làm việc với Đoàn công tác một thời gian, tới năm 1959, tôi được thuyên chuyển qua “Sở Khai Thác Địa Hình”, “Sở Bắc” do Đạt Tá Trần Văn Hổ làm chỉ huy trưởng, sau này đổi tên thành “Nha Kỹ Thuật” của Phòng 7 Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.

Kỹ thuật mà “Nha” này đảm trách, không phải là kỹ thuật về sửa chữa máy móc dành cho xe nhà binh, tầu chiến, mà là kỹ thuật sử dụng máy truyền tin, chất nổ . v. v. dùng trong điệp vụ phá hoại miền Bắc. Quê tôi ở miền Bắc, khi di cư vào Nam, tôi và tất cả mọi người dân di cư đều mơ đến một ngày cùng đại quân quay về chiếm lại miền Bắc thống nhất đất nước. Đây là dịp may cho tôi để thực hiện giấc mơ này. Mọi việc đang tiến triển khả quan thì xẩy ra đảo chánh, mọi điệp vụ đều bị ngưng lại.

Đến năm 1964, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ chủ trương đánh ra Bắc để chuyển chiến trường về miền Bắc, để buộc bọn Việt Cộng phải đem quân trở về bảo vệ đất đai của chúng, do đó, các toán biệt kích lại được gởi ra Bắc để làm đầu cầu tiến quân.

Từ Huế, tôi được gởi đi học khóa huấn luyện biệt kích ở Long Thành. Chương trình kéo dài trong 12 tháng, bao gồm 5 môn học chính: Phá hoại - Tâm lý chiến - Vũ khí - Nhẩy dù và Truyền tin.

Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện là một trong những Huấn Luyện Viên của chúng tôi. Mỗi khi học môn học nào, chúng tôi được gởi đi tới trường chuyên môn để học chung với các khóa sinh khác. Ví dụ như: Học truyền tin, chúng tôi được gởi đi Trung tâm huấn luyện Truyền Tin ở Vũng Tầu. Học nhẩy dù, chúng tôi học ở trại Hoàng Hoa Thám, chung với các chiến binh của Sư đoàn Nhẩy Dù .v.v...

Mãn khóa học, tôi được đưa ra phi trường để bay tới Nha Trang. Tại đây, tôi được xe đưa về ở nhà của Thượng sĩ Phú, ANQĐ của Sư Đoàn 2 và được gặp tất cả 8 biệt kích quân của toán “Lôi Hổ - Thundering Tigers”. Đi chơi lòng vòng ở Nha Trang một ngày, tới chiều hôm sau, lúc 3pm, toán chúng tôi được bay qua Thái Lan, rồi đổi máy bay C47 để bay ra Bắc. Đúng 12am, toán Lôi Hổ đã có mặt trên vòm trời biên giới của ba tỉnh Mộc Châu, Lai Châu, Sơn La. Toán chúng tôi gồm có:
    Trưởng Toán: Đinh Công Châu,

    Phó T Toán: Bùi Văn Giao,
    Cố Vấn: Nguyễn Văn Tính,
    Toán viên: Hoàng Văn Giám,
    Toán Viên: Hoàng Văn Thế,
    Toán Viên: Đinh Viết Lam,
    Truyền Tin: Nguyễn Văn Thái,
    Toán Viên: Dương Văn Liễu,
    Nhiệm vụ: Thám sát, phá hoại, lập đầu cầu.
    Trang bị: Tỉểu liên hãm thanh 32 viên, súng colt 9mm hãm thanh 14 viên và 4 tấn dạn dược thuốc nổ, thức ăn khô.
    Địa điểm tập trung: Căn cứ Biệt Kích ở Lai Châu.
Khi dù đang lơ lửng trên không, tôi đã nghe có tiếng chó sủa. Rơi xuống đất, chưa kịp cuốn dù là tôi đã nhìn thấy những ánh đèn pin và chó sủa thật gần: Chúng tôi có thể đã bị lộ và đang bị bao vây? Vì nhẩy ở rừng, tất nhiên là tôi bị vướng vào cây, phải dùng lưỡi lê cắt dây dù để nhầy xuống. Để cho nhẹ nhàng khi nhẩy dù, chúng tôi chỉ mang theo nguời một cấp số đạn cho khẩu tiểu liên và súng colt, do đó, chuyện cần thiết khi xuống đất là phải tìm cho ra người truyền tin và đồ đạc được thẩy ra cùng với anh ta. Nhưng bọn Việt Cộng đã tới gần quá, tôi chỉ còn kịp cắt dây cột súng ra để chiến đấu mà thôi. Địch quân rất đông, đông lắm, lại thêm chó săn nữa! Trưởng toán Đinh Công Châu và phó toán Bùi Văn Giao cố gắng cản hậu cho anh em rút lui, đã bị trúng đạn. Anh Giao bị tử thương, Thái bị thương, chúng tôi vừa bắn vừa tìm đường tẩu thoát, mỗi người một nơi.

Tôi vượt thoát vào rừng sâu, ngày ngủ đêm di chuyển. Địa điểm tập trung coi như đã bị lộ, tôi chỉ còn cách nấn ná tìm anh em rồi rút về phía biên giới Lào để tìm đuờng liên lạc với căn cứ xin trực thăng bốc về. Qua ngày thứ 10, tôi vẫn không tìm được ai trong số 7 người còn lại. địch vẫn bám sát, tôi bắn hết đạn, đành phá hủy hết tài liệu và dụng cụ còn lại. Bọn Việt Cộng đã tìm ra tôi, nhưng chúng không dám xung phong bắt sống tôi, mà chỉ bao vây chung quanh ra lệnh cho tôi đầu hàng. Tôi nhào vào bọn chúng bắn những viên đạn cuối cùng rồi lẩn vào rừng sâu, nhưng bọn chúng đã ào lên chĩa súng vào tôi sẵn sàng nhả đạn.

Đời Biệt Kích của tôi chấm dứt từ đây!

Chúng bịt mắt, trói tay tôi dẫn đi về căn cứ của chúng. Tôi bị thương, lại nhịn ăn suốt 10 ngày trời, nên đi bộ rất chậm. Đi đuợc khoảng một tiếng đồng hồ, tôi vờ ngã gục, không đi được nữa. Mục đích của tôi là nằm nghỉ lấy sức và tìm dịp chúng sơ hở là chạy trốn. Mặc dù tôi đã nằm một đống dưới đất, nhưng bọn chúng vẫn cẩn thận, đứa nào cũng lên đạn lắc cắc chĩa vào tôi. Có mấy đứa dùng báng súng đánh vào đầu vào mình tôi thê thảm. Tôi vùng lên dựt một báng súng đánh lại. Tên chỉ huy ra lệnh cho tôi:


“Thằng biệt kích ngụy, mày không được chống lại bộ đội nhân dân. Bỏ súng xuống, không thì “ông” bắt mày chết tuơi đấy!”

Tôi biết nó dọa thôi, chứ không dám bắn, vì phải đem tôi về mà thẩm vấn. Tôi nắm chặt cái báng súng, nói lớn:

“Tôi đã bị bắt làm tù binh rồi, đã bị trói tôi rồi, các anh không đuợc đánh tôi.”

Tên chỉ huy ra lệnh cho bọn lính không đánh tôi nữa, nói cả bọn ngồi chờ đó để hắn xin lệnh thượng cấp. Một lúc sau, có xe tới đưa tôi và cả bọn đi. Đi đâu thì đuơng nhiên là tôi không biết rồi, nhưng chung quanh toàn là rừng núi, có về thị xã thì ít nhất cũng phải mất nửa ngày.

Tôi tỉnh đậy khi bọn chúng khiêng tôi thẩy đùng xuống sàn đất đau điếng. Cả người tôi tê rần, nhức buốt. Tôi đã thuộc lòng những lời khai cần thiết khi bị bắt, nên không ngại, chỉ suy nghĩ về những anh em khác, họ có bị bắt như tôi không? Khi tản hàng, chạy mỗi người một ngã, tôi nghe tiếng súng tứ phía, nên không biết tình hình ra sao, chỉ mong rằng anh Thái truyền tin còn đủ thời gian để gởi gấp tín hiệu “Đã bị lộ” cho trạm liên lạc ở Lào, để toán này gởi tin về cho trung ương ngay, kịp thời thay đổi cách thức và nơi xâm nhập cho toán đi sau.

Tôi không biết số phận của những toán đã xâm nhập trước tôi ra sao? Tôi chỉ đuợc nghe rằng các toán trước đã xâm nhập thành công và vẫn gởi tin về đều đều. Như vậy là chỉ có toán của tôi là xui xẻo bị lộ? Tôi nhất quyết không khai bất cứ điều gì có hại tới đại cuộc. Người lính biệt kích trước khi ra trận đã chấp nhận không trở về, vậy thì hãy chấp nhận thương đau đi. Sống ngẩng mặt trông lên, chết khôn thẹn với luơng tâm. Mai này, nếu còn đường trở về, sẽ lại ngẩng cao mặt với đời. Hơn nữa, tôi đã được cho biết kỹ càng: Chúng tôi là điệp viên, không số quân, không căn cước, không đơn vị, không cấp trên. Nếu lỡ bị bắt, sẽ không đơn vị nào nhìn nhận chúng tôi, không chính phủ nào bảo bọc chúng tôi. Công việc của chúng tôi làm là do tự nguyện, vì lòng yêu nước, vì thù hận bọn cộng sản dã man cam chịu làm tay sai cho bọn cộng sản quốc tế mà nhuộm đỏ cả miền Bắc, nay còn gởi quân xâm chiếm miền Nam với mục đích truyền bá chính sách cộng sản.

Từ khi bị bắt, bọn chúng không cho tôi một giọt nước, một hột cơm: Không thành vấn đề! Nhưng tôi chưa nghĩ xong mọi chuyện thì bọn VC đã bắt đầu lôi tôi ra thẩm vấn. Bọn chúng buộc hai tay tôi giang ra xa, bắt tôi ở thế đứng nhìn thẳng vào bọn thẩm vấn. Tên thẩm vấn đầu tiên hỏi tôi:

- Thằng biệt kích ngụy, tên mày là gì? Quê quán ở đâu? Đơn vị nào? Có bao nhiêu người cùng xâm nhập về Bắc?

- Tôi tên Nguyễn Văn Tính, đã cùng anh em nhẩy ra Bắc để giải phóng quê hương của tôi ra khỏi ngục tù cộng sản. Cấp trên ra lệnh, chỉ biết tuân hành, không biết gì hơn. Mặc cho bọn chúng nổi cơn lôi đình, nạt nộ, dọa nạt, tôi nhất định chỉ khai có bấy nhiêu.

“Thằng biệt kích ngụy ngoan cố. Mày không cần khai, tao cũng biết mày do bọn Mỹ ngụy đầy ra Bắc để chết. Làm sao mà chúng mày có thể lấy được tin tức gì của chúng tao!

Đánh cho chết nó đi!

Mặc cho chúng đánh, mặc cho chúng dùng bất cứ cực hình nào, tôi cũng chỉ có câu trả lời:

- Là lính biệt kích, chỉ biết tuân lệnh cấp trên, không biết gì hết, vì không ai cho biết gì cả!

Đêm tới, bọn chúng lại thẩy tôi lên xe bít bùng chạy nữa. Đây là giây phút thoải mái nhất từ ngày bị bắt: Tôi được tự do ngủ bù, không bị phiền phức gì nữa, ít nhất cho tới khi tới địa điểm mới.

Tới nơi, tôi vẫn không biết là chỗ nào, tất cả đều tối om như mực, và chúng vẫn bịt mắt tôi. Chỉ biết là nơi đây sàn đá rất kiên cố. Đưa tôi vào phòng giam rồi, chúng mới cởi khăn bịt mắt của tôi ra, dùng cùm chữ U xỏ hai chân tôi vào, khóa lại kỹ càng rồi bỏ đi ra. Sáng hôm sau, khi ánh sáng tràn vào, tôi mới nhìn rõ nơi bị giam: Đó là một căn phòng biệt lập kín mít, chỉ có một của ra vào và một cửa sổ nhỏ có song sắt ở trên cao. Sau khi được cho ăn sáng, bọn cai tù đưa tôi lên tra vấn. Sau khi kê khai tên tuổi, bọn chúng hỏi tôi:

“Mật mã của anh là gì?”

“Tôi không nhớ, nên đã ghi vào một tờ giấy để trong áo khoác. Các ông đã lột áo của tôi rồi, hãy kiếm ở trong đó sẽ có. Còn bây giờ thì tôi quên rồi, không thể nhớ ra được.”

Thực sự thì có ai lại đi ghi mật mã của mình vào giấy bao giờ! Tôi nói là nói vậy thôi, chứ còn tôi thuộc nằm lòng nó từ lúc học truyền tin lận. Biệt kích mỗi người được gọi bằng một ám số riêng. Khi báo cáo về trạm liên lạc, phải nói con số này trước để kiểm soát. Nếu đúng thì mới có thể liên lạc tiếp được. Nếu không đúng, điện đài sẽ cúp máy ngay. Chắc chắn là bọn chúng đã kiểm soát rất kỹ cái áo ngoài của tôi rồi và không thấy gì cả. Nhưng khi tôi trả lời như vậy, tên trưởng toán thẩm vấn cũng không nói gì cả.

Tiếp theo chúng hỏi tôi những câu thông thường: - Quê quán của anh ở đâu? Trưởng toán của anh là ai? Toán của anh có mấy người?

Quê quán thì chắc chắn là tôi trả lời không đúng sự thật rồi, còn mấy câu hỏi sau, tôi cứ theo sự thật mà trả lời, vì chúng có thể đã biết rồi.

Đến khi chúng hỏi tôi: - Tại sao lại theo miền Nam để về chống phá cách mạng?

Thì tôi trả lời ngay: - Miền Bắc của các anh sống trong chế độ Cộng Sản, kìm kẹp đàn áp con người mất tự do, bóc lột người dân tới tận cùng cực khổ nghèo đói. Chúng tôi có nhiệm vụ trở về miền Bắc để giải phóng người dân Việt khỏi ách Cộng Sản.

Bọn chúng đập bàn đập ghế tranh cãi với tôi tới sùi bọt mép, nhưng cũng không làm sao dụ dỗ tôi theo chúng được. Chúng phải biết là những biệt kích đều là những người có tinh thần chống Cộng cao độ, gia đình đã từng bị bọn Cộng Sản giết hại. Trước khi nhẩy ra Bắc, chúng tôi đã được học một khóa tâm lý chiến, biết rõ căn bản của chủ nghĩa Cộng Sản, thì làm sao chúng có thể tuyên truyền tẩy não chúng tôi được!

Cứ một tuần hai lần, chúng gọi tôi lên hỏi cung, chứ không ghi chép hoặc bắt kê khai giòng họ, gia phả gì cả. Chắc chúng cũng đã biết, biệt kích đã được học cách trả lời rồi, nên chẳng mất công đâu mà hỏi dài giòng. Bọn chúng cho tôi ăn mỗi ngày ba bữa, tiêu tiểu vào trong một cái bô, đến chiều được mở cùm ra đi đổ bô khoảng mười phút, mỗi tuần được tắm một lần.

Khi đã phục hồi sức khỏe, tôi đã thử rút chân ra khỏi cùm. Cái cùm hình chữ U có then ngang, tôi nhỏ con, nên cái cùm không ăn nhằm gì với tôi cả. Tôi thử rút chân ra, hơi nhúc nhích cái chân một chút là tôi đã có thể rút cả hai chân ra khỏi cùm một cách dễ dàng. Tôi thử bỏ chân trở lại cái cùm, cũng không có gì khó khăn, nên yên chí rút chân ra đi vòng vòng trong nhà giam. Khi đã gần đến giờ bọn bọn cai tù tới, tôi lại đút hai chân vào cùm ngồi rất ngoan ngoãn. Có lúc tôi thử nhẩy lên cao nhìn ra ngoài, chỉ thấy nhiều dẫy nhà khác cũng bằng đá ở chung quanh. Có lần tôi cũng đã tìm cách rờ thử trần nhà xem có thể dùng vật nhọn đục thủng trần nhà để thoát ra ngoài hay không? Trần nhà đã có nhiều vết đục từ trước, tôi thử đục tiếp theo thì thấy cát từ trên trần nhà rới xuống nhiều lắm. Tôi vội vàng nhẩy xuống không dám đục thêm, tìm cách hót đám cát này vứt ra ngoài cửa sổ, vì cát rơi xuống sẽ bị bọn cai ngục nhìn thấy, sẽ bị đòn thê thảm. Sau này, tôi mới biết trại tù này tên là Thanh Trì, gần Hà Nội. Trại này do Pháp xây từ lâu, dùng để nhốt những nhà Ái Quốc Việt Nam. Trần nhà tuy chỉ làm bằng xi măng nhưng ở phía trên đổ cát rất dầy (khoảng 1m), để tránh hỏa hoạn và cũng để tù nhân không có cách trốn thoát.

Biệt Kích “Chuột Nhắt” Nguyễn Văn Tính, bên tay trái. ANZAC day 25 04 2009

Khoảng một năm sau, bọn chúng chuyển tôi đi trại Thanh Nghiệp ở Hà Đông, rồi qua trại Thanh Phong ở Lào Kay.

Từ năm 69 tới 72 thì tôi ở trại Vĩnh Phú. Ở đây, bọn chúng cho chúng tôi ở trong phòng biệt giam, mỗi phòng có từ 1 tới 7 người. Trại giam làm bằng cây, mái rơm. Mỗi phòng cách nhau bắng một tấm phên, chúng tôi không còn bị cùm chân nữa, được cho làm công việc như đan, lát ở trong phòng. Tôi lợi dụng nghề đan lát này cùng với thân hình nhỏ con để cắt một lỗ nhỏ ở tường ngăn mà chui qua phòng kế bên nói chuyện với anh em ở các toán khác. Khi trở về, tôi để tấm phên đã cắt vào lỗ rồi dùng tài đan chúng lại với nhau, không ai có thể biết là chỗ này đã bị cắt và đan lại. Nhờ cách thức di chuyển này mà tôi mới gặp được những anh em biệt kích khác, từ đó, tôi mới biết toán của tôi, ai còn ai mất? Đinh Viết Lam đã tử trận ngay trận giao tranh đầu tiên, 6 người còn lại, kể cả tôi, đều bị bắt. Có hôm, vào buổi tối, tôi đã lần mò tới tận trại của bọn cai tù mà nghe lén chúng bàn bạc công tác với nhau rồi về báo lại cho anh em biết mà đề phòng. Cũng vì cái tài cắt tường bò đi khắp mọi nơi, anh em biệt kích mới đặt cho tôi cái tên: “Chuột Nhắt”.

Biệt Kích Nguyễn Văn Tính và tượng đồng”Hành Quân Phối Hợp” Việt Úc, Dandenong, Victoria

Thời gian ở Vĩnh Phú cũng là thời gian tốt nhất cho anh em biệt kích chúng tôi chỉnh đốn lại đội ngũ đã có từ trước, đoàn kết với nhau, khích lệ nhau mà sống. Khẩu hiệu của chúng tôi là:

“Biệt Kích vẫn làm nhiệm vụ của mình”

Chúng tôi được đưa về Bắc làm nhiệm vụ đầu cầu, mặc dù chúng tôi đã bị bắt, không làm được gì nữa, nhưng chúng tôi lợi dụng thời gian này để bảo tồn lực lượng, giữ gìn sức khỏe, giữ vững lập trường chống cộng và chờ thời cơ. Khi nào đại quân miền Nam tiến về Bắc, chúng tôi sẽ bung ra làm nhiệm vụ hướng dẫn, tiêu diệt những hạ tầng cơ sở của bọn Cộng Sản phi nhân.

Muốn đạt được những mục đích trên, việc đầu tiên chúng tôi quan tâm là, không để cho bọn CS chèn ép, đàn áp chúng tôi. Muốn như vậy, chúng tôi cố gắng không phạm những lỗi lầm mà bọn VC đã đặt ra, ghi trong “Quy Luật Của Trại Giam”. Nếu có ai trong chúng tôi lỡ phạm lỗi, chúng tôi yêu cầu được đưa họ lên gặp trưởng toán, trưởng trại của chúng tôi để họ bị phạt, chứ không để bọn cán bộ VC tự ý phạt theo ý muốn của chúng. Dĩ nhiên, hình phạt của chúng tôi phải gắt gao hơn hình phạt của bọn VC, để vừa lấy lòng tin của bọn chúng, vừa giữ được kỷ luật của biệt kích.

Mỗi khi bọn Việt Cộng muốn giao một nhiệm vụ gì đó cho từng cá nhân, mỗi người chúng tôi đều tìm cách báo lại cho trưởng toán để cho họ biết hoặc để xin ý kiến.

Mỗi khi bọn VC muốn cả trại chúng tôi làm một công tác nào đặc biệt, tất cả anh em biệt kích sẽ họp lại với nhau cùng quyết định có nên làm hay không? Nếu không làm, chúng tôi hoặc là đề nghị thẳng với bọn chúng một phương pháp khác, hoặc là làm bộ khai bịnh để làm chậm lại kế hoạch của chúng. Tuy nhiên, khi đã quyết định đồng ý làm, chúng tôi làm việc cật lực, chu toàn nhiệm vụ trong thời gian sớm nhất.

Vì tinh thần kỷ luật, vì tinh thần trách nhiệm của chúng tôi mà bọn VC rất nể nang anh em biệt kích, không dám hạch sách đầy đọa chúng tôi. Đối với bọn VC, chúng tôi vẫn còn là một quân bài để bọn VC dùng để đổi chác khi cần đến. Hơn nữa, chúng vẫn sợ bóng sợ gió chúng tôi: Nếu đàn áp chúng tôi, một khi đại quân Miền Nam ra tới nơi, chính chúng tôi sẽ là những người đầu tiên tiêu diệt bọn chúng. Vì thế, bọn VC để yên cho chúng tôi sống.

Vào những năm 72 – 73, chúng tôi được chuyển về trại “Quyết Tiến” ở Hà Giang. Khi tin tức về hòa đàm Ba Lê trở nên nóng hổi, bọn cai tù thỉnh thoảng tập trung chúng tôi lại, cho nghe thông tin về diễn tiến của hòa đàm này. Tin đưa ra là anh em chúng tôi sẽ được trao trả đầu tiên khi hòa đàm được ký kết, làm chúng tôi nôn nóng hết sức. Đã có lần, anh em chúng tôi được phát mỗi người một bộ quần áo nâu, tập họp đem theo hành lý để sửa soạn được đưa đi trao đổi. Nhưng cuối cùng, bọn chúng lại đưa chúng tôi về,với lý do là “Chiến tranh còn tiếp diễn, không thể trao đổi tù binh.”

Mặc dù cuộc trao đổi tù binh không thành sự thật, nhưng trong tương lai có thể sẽ có những cuộc trao đổi khác, do đó, bọn VC đã thay đổi thái độ với chúng tôi. Chúng để yên cho chúng tôi tự coi sóc, tự chỉ huy lẫn nhau, miễn là chúng tôi không vi phạm nội quy của trại.

Hy vọng của chúng tôi cứ như thế mà tăng cao lên, cho tới năm 1975, khi bọn chúng một lần nữa tập họp chúng tôi lại, cho nghe radio:

Miền Nam đã đầu hàng!

Chúng tôi không thể nào tin vào những gì vừa mới nghe qua đài phát thanh!

Bao nhiêu cố gắng, bao nhiêu hy vọng đã tan thành mây khói. Nhìn bọn VC ôm nhau nhẩy múa ăn mừng chiến thắng mà lòng chúng tôi tan nát.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lúc chúng tôi ra đi, đã thật là hùng mạnh, đầy đủ khả năng Bắc Tiến! Tại sao cả một quân lực như vậy mà lại thua trận, đầu hàng?

Từ khi bị bắt, chúng tôi vẫn vững lòng tin tưởng ở chiến thắng cuối cùng, nên đã cố sống hùng sống mạnh chờ thời cơ. Nay thời cơ đã tiêu tan, chúng tôi bám víu vào cái gì nữa để mà sống đây?

Chúng tôi ôm nhau khóc sướt mướt. Tinh thần chúng tôi xuống đến mức thảm hại.

Đã có người nghĩ đến tự tử. Tôi cũng nghĩ tói điều này. Nhưng cũng may, đa số anh em chúng tôi đều theo đạo công giáo, việc tự tử coi như là đã phạm giới luật của Thiên Chúa, nên anh em chúng tôi đã tìm sức sống trong tiếng kinh cầu nguyện. Cả một tuần lễ, chúng tôi không ra ngoài làm lao động, không hội họp, chỉ lặng thinh nhìn nhau. Bọn Việt Cộng bây giờ không còn sợ bị “Bắc Tiến” nữa, không sợ bị chúng tôi trả thù nữa, nhưng cũng thông cảm cho nỗi buồn của chúng tôi, không bắt đi lao động trong suốt thời gian này.

Một thời gian sau, có tin những sĩ quan biệt kích của chúng tôi được đưa về trại “Cổng Trời” nơi chúng tôi đang ở. Tôi được biết có 3 sĩ quan cùng nhẩy ra Bắc với chúng tôi, đó là Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện, Đại Úy Rạng và một Thiếu Úy mà tôi không nhớ tên. Cả ba sĩ quan này, tuy được đưa về cùng trại với chúng tôi, nhưng ở khu “Biệt giam”. Chúng tôi rất quý mến những vị sĩ quan này, vì ngoài cương vị là cấp chỉ huy, họ còn là những nguời lớn tuổi hơn chúng tôi, nhất là Đại Úy Luyện, ông không những là một cấp chỉ huy, lại còn là huấn luyện viên của chúng tôi nữa, nên ai cũng biết ông và rất kính nể ông.

Từ khi biết những sĩ quan này về cùng trại, hầu như tất cả anh em biệt kích chúng tôi đều tìm dịp đi ngang lán của ông, nghiêm trang đứng chào ông, dù là không biết ông có nhìn thấy chúng tôi hay không? Mỗi lần như vậy, ông đều tìm cách báo cho chúng tôi biết bằng cách ho lên đánh tiếng, đọc một câu thơ, hoặc ném một cục đá nhỏ về phía chúng tôi. Mặc dù luật biệt giam của bọn VC cấm chúng tôi không được lảng vảng quanh khu biệt giam và cấm người bị biệt giam liên lạc với người bên ngoài, chúng tôi vẫn tìm cách tiếp tế cho ông và ông cũng luôn luôn tìm cách liên lạc với chúng tôi. Biết tinh thần anh em chúng tôi đang xuống rất thấp, ông đã tìm đủ mọi cách viết thư ra, cổ võ tinh thần chúng tôi. Ông khuyên chúng tôi hãy ráng sống, chờ ngày về đoàn tụ với gia đình.

Năm 1978, khi chúng tôi đang ở Tuyên Quang, nghe tin bọn Việt Cộng và Trung Cộng sắp đánh nhau, đã có một số biệt kích gốc Trung Hoa Quốc Gia của Tưởng Giới Thạch tìm đường trốn về Trung Cộng. Những người này nhắn lại với anh em là sẽ dẫn đường cho quân Trung Cộng qua giải thoát tất cả biệt kích. Họ có trốn về được tới Trung Cộng hay không? Chúng tôi hoàn toàn không có tin tức gì cả, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, tất cả anh em chúng tôi đều được chuyển về trại “Lam Sơn” và “Lý Bá Sơ” ở Thanh Hóa. Lúc này cũng là lúc Trung Cộng đã tràn quân qua biên giới giao chiến với bọn Cộng Sản.

Biết rằng chúng tôi đã không còn là mối nguy hiểm cho chúng nữa, bọn VC đã thả lỏng chúng tôi đôi chút. Bọn chúng đã không những không canh giữ chúng tôi nghiêm ngặt, mà lại còn cho chúng tôi ra ngoài trại làm việc nữa.

Lần đầu tiên được ra ngoài làm việc, chúng tôi cảm thấy thật là thoải mái. Đi giữa những khu rừng dầy đặc, chúng tôi cảm giác thật là quen thuộc, dù là chưa bao giờ được tới nơi này. Chúng tôi được huấn luyện để sống ở trong rừng mà!

Được tiếp xúc với dân, chúng tôi mới thấy cuộc sống của họ thật là khổ cực, nghèo nàn: Suốt ngày lam lũ, làm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhà cửa xiêu vẹo đổ nát. Anh em chúng tôi đã tìm cách giúp đỡ cho dân, bằng cách tự bỏ quên nhưng món đồ nghề như dao, búa, cưa, đục... ở gần nhà của họ, để cho họ có đồ mà xài. Cũng có khi chúng tôi kéo nhau vài ba đứa tự chặt cây, sửa lại cột kèo, lợp lại mái nhà cho họ. Những người dân này lúc ban đầu không biết chúng tôi là ai? Họ trả ơn chúng tôi bằng những củ khoai lang hoặc một ít gạo. Nhưng chúng tôi không lấy, vì biết rằng họ rất là nghèo.

Một thời gian sau nữa, bọn VC đã đem những người “Tù Hình Sự” sát nhập vào với chúng tôi (Tù Chính Trị). Đám tù hình sự này, đương nhiên toàn là những thứ “Khó xài” đối với bọn VC, nhưng riêng đối với chúng tôi, chúng tôi đối xử với họ một cách công bằng, tôn trọng lẫn nhau. Bọn họ tuy thuộc loại “Ba đá”, nhưng đã “Nghe Danh” chúng tôi, vì mỗi khi có xung đột xẩy ra, chúng tôi bênh nhau kỹ càng, dợt bọn chúng te tua ngay lập tức. Và nếu họ bị bọn VC đánh đập đối xử bất công, chúng tôi bênh vực họ ngay lập tức. Do đó, họ rất e dè, nể phục chúng tôi.

Khi được giao nhiệm vụ nấu và chia phần ăn cho cả trại, chúng tôi đã tự chế ra cái “Cân Tiểu Ly” bằng cách dùng một đòn ngang buộc cục đá ở đằng đầu và ở phần giữa có một cái giỏ để chén cơm vào đó rồi treo lên xà ngang. Mỗi lần chia cơm, ai cũng phải có phần bằng nhau, không thêm bớt một hột: Trước mặt mọi người, chúng tôi xới đầy một chén cơm, móc vào giỏ và thay đổi vị trí cho tới khi chén cơm nằm ngang hàng, cân bằng với cục đá. Người trưởng toán đánh dấu và cột chặt vị trị cái giỏ lại. Mỗi người tự đem chén bát (cùng một thứ do trại phát) tới để được xới cơm vào bát, đem để lên cân. Người trưởng toán tùy theo vị trí của cái cân mà thêm bớt phần cơm cho đến khi cân được thăng bằng. Tới khi đó, người lãnh cơm, nếu bằng lòng, sẽ tự lấy cái chén của mình ra để tới phiên người khác.

Phát cơm theo kiểu này, rất lâu, nhưng lại rất công bằng, không có ai phàn nàn tranh cãi. Chúng tôi nghe tin các trại khác cũng muốn bắt chước chúng tôi, nhưng họ không thành công, vì người chia cơm và toán trật tự đã không được mọi người nể vì, xáo trộn vẫn xẩy ra mỗi khi chia cơm. Bọn VC lúc đầu, rất thán phục cách thức làm việc của chúng tôi, nhưng sau đó, bị cấp trên khiển trách là chúng tôi đã làm xấu mặt chế độ tới nỗi đem từng hột cơm ra mà đong, mà đếm, chúng đã không cho chúng tôi dùng cái “Cân Tiểu Ly” này nữa. Nhưng, nếu không làm như vậy, chắc chắn sẽ có khiếu nại, vì người nào cũng nghĩ rằng chén cơm của mình ít hơn chén cơm của người khác, do đó, chúng tôi vẫn cứ dùng, bọn VC không có cách nào khác hay hơn, nên đã không can thiệp tới việc chia cơm nữa.

Đã có một lần, một người đàn bà già yếu (có con đi bộ đội vào chiến đấu ở Miền Nam), bị bệnh chết trong nhà mà không có thân nhân chôn cất. Bọn chính quyền sở tại không cho hòm mà cũng không giúp phương tiện chôn cất, dân trong thôn không còn cách nào khác, cứ để cái xác xình thối ra đó, tới nỗi không ai dám đi ngang khu vực này nữa.

Một biệt kích tên Nguyễn Văn Tâm (Tâm Sún) biết chuyện này, đã tự tìm ván đóng hòm, bốc cái thây ma xình thối đó mà đem chôn tử tế. Dân làng biết ơn, đem cúng anh một con gà và một lít rượu (đó là những món hàng xa xỉ phẩm). Anh chỉ cuời chứ không nhận, Sau này, khi được biết anh Tâm và đám chúng tôi là những “Biệt Kích Miền Nam” dân chúng rất là quý mến chúng tôi. Từ những lúc đầu tiên, mỗi khi nói chuyện, họ đứng sau bức tường hoặc sau lũy tre để nói chuyện, họ đã trực tiếp giáp mặt chúng tôi, gọi chúng tôi với cái tên đặc biệt:

“Anh Biệt Kích Miền Nam”

Một cách rất quý mến, trân trọng.

Và đó cũng là niềm khích lệ lớn cho chúng tôi. Ít ra, nếu không chịếm lại được miền Bắc, chúng tôi cũng chiếm được NHÂN TÂM của người miền Bắc.

Lúc này là vào khoảng năm 1979, bọn VC đã không còn sợ chúng tôi vượt thoát, không sợ chúng tôi trả thù, lại được chúng tôi giúp đỡ làm những công việc mà bọn chúng không thể làm (xây nhà, đóng bàn ghế . . . ) nên bọn VC đã hầu như thả lỏng chúng tôi, cho chúng tôi tự do đi lại trong khu vực từ 3km tới 5km chung quanh trại giam. Trừ súng đạn là chúng tôi không được đụng tới thôi, chứ còn bất cứ dao kéo kìm búa nào chúng tôi cũng có quyền sử dụng. Khi nghe tin những Sĩ Quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị chúng đem ra Bắc giam giữ gần trại chúng tôi, chúng tôi cũng đã tìm cách gặp mặt, nói chuyện với họ để biết thêm tin tức và để . . . ngắm lại người Miền Nam mà đã hơn mười năm qua, chúng tôi không được gặp gỡ. Mặc dù họ không phải là . . . Đại Quân Miền Nam ra giải phóng Miền Bắc như chúng tôi hằng mong ước, nhưng họ cũng là những người lính mà chúng tôi ngưỡng mộ. Ít ra, họ đã chiến đấu tới cùng, đã hoàn tất những công việc mà họ đã phải làm. Chúng tôi tự đặt ra nhiệm vụ phải bảo vệ những vị sĩ quan bị tù đầy này, dù họ không phải là cấp chỉ huy trực tiếp của chúng tôi, nhưng cũng là người lính của QLVNCH như chúng tôi. Khi nghe tin bọn VC quản giáo áp đặt những hình phạt quá khắt khe với những vị sĩ quan này, chúng tôi tuy không thể trực tiếp can thiệp, nhưng đã gián tiếp can thiệp, bằng cách từ chối không giúp đỡ bọn cai tù trong những công việc mà bọn chúng cần làm nhưng không phải là nhiệm vụ của chúng tôi, nên bọn chúng cũng biết mà nới lỏng gọng kìm đối với nhưng chiến hữu của chúng tôi.

Nhất là, khi được biết thân nhân của các vị sĩ quan khi đã vượt cả ngàn dặm đường xá xa xôi tới thăm cha, chồng, con bị giam ở nơi rừng núi trùng điệp này, đã bị hoặc là dân chúng, hoặc là bọn tù hình sự, hoặc là đám quản giáo đón đường cướp bóc hoặc bắt trả giá gánh gồng thật cao, chúng tôi đã yêu cầu bọn quản giáo cho phép giúp đỡ những người đi thăm này. Chúng tôi đã ra khẩu hiệu:

Các thân nhân đi thăm tù cải tạo cũng là thân nhân của Biệt Kích. Ai đụng tới những người này, nhẹ thì “Máu Đổi Máu” nặng thì “Mạng Đổi Mạng”.

Đương nhiên, đâu có ai dám . . . dỡn mặt với “Biệt Kích Miền Nam”! Nên các “thân nhân” này mới được tạm yên thân. Chúng tôi tự dựng lên những căn nhà lá cho các thân nhân này có chỗ nghỉ qua đêm an toàn, chúng tôi cũng tự đóng những chiếc “Xe Trâu” để chở đồ thăm nuôi cho các vị sĩ quan đang bị tù đầy.

Tình Huynh Đệ Chi Binh của chúng tôi là như thế đó.

Những thân nhân của các vị này được chúng tôi giúp đỡ, cũng đã nghĩ ra cách đền đáp chúng tôi, họ đã tự hỏi chúng tôi:

“Các anh có muốn viết thư về cho gia đình hay không? Chúng tôi sẽ đem về tận nơi cho thân nhân các anh!”

Câu nói đầy tình nghĩa này đã làm cho chúng tôi thật cảm động. Chúng tôi cũng muốn như vậy, nhưng không dám nói ra, vì biết rằng đường xá xa xôi, không dễ gì tới nơi được. Hơn nữa, gia đình chúng tôi không biết có còn ở chỗ cũ hay không? Đã hơn mười năm qua rồi, chúng tôi ra đi vì nhiệm vụ bí mật, không hề nói ra nửa lời cho gia đình vợ con biết. Nay thời thế đã đổi thay, vật đã đổi, sao đã dời, làm thế nào để biết người vợ của mình có còn chờ đợi mình hay không?

Tôi đã suy nghĩ, thôi thì cứ để giòng đời trôi qua đi. Khi nào được trở lại nhà hẵng hay.

Nhưng một số anh em khác cũng đã viết thư về cho gia đình. Đã có một số vợ con của Biệt Kích ra thăm chồng. Tôi cũng được tin của gia đình, do một thân nhân của bạn bè tự đi tìm dùm, nhưng là một tin không vui: Gia đình tôi đã dời đi đâu không ai tìm được. Trước mặt mọi người, tôi không buồn, vì đã đoán biết được thế sự như vậy, nhưng mỗi khi ngồi một mình, tôi buồn muốn khóc.

Vào một ngày của năm 1982, tôi được bọn VC kêu lên báo tin được trả tự do. Tôi đứng lặng người một lúc rồi mới cám ơn để trở về thu xếp đồ đạc.

Tôi trở về Tam Hiệp Biên Hòa sống những ngày còn lại. Tôi đã may mắn gặp lại vợ con tôi , gầy lại cuộc sống gia đình và làm đủ mọi công việc để mưu sinh. Cha xứ và mọi người trong họ đạo hết lòng giúp đỡ tôi trong cuộc sống hàng ngày, nhưng bọn công an luôn luôn làm khó dễ tôi.

Cuối cùng, tôi chịu không nổi, phài tìm đường vượt biên. Tôi và đứa con trai út tìm đường bộ, đi từ Việt Nam qua Căm Bốt rồi tới Thái Lan, vào năm 1986.

Khi phái đoàn Mỹ phỏng vấn tôi, hỏi tôi có muốn qua Mỹ hay không? Tôi đã trả lời:

“Người Mỹ không tốt với chúng tôi, tôi không qua Mỹ đâu.

Tôi chọn Úc, và đã sống một cuộc sống tự do, bình thản cho tới hôm nay, cho tới mãn đời của tôi.

Tại xứ Úc xa xôi nhưng yên lành này, có tổng cộng 4 biệt kích quân. Anh Tứ đã chết vì bệnh cách đây vài năm, còn lại 3 người, chúng tôi vẫn thường liên lạc với nhau. Chúng tôi cũng đã nhận được “Huy Chương Danh Dự” và số tiền bồi thưởng của chính phủ Mỹ.
    NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!
Nguyễn Khắp Nơi



Thursday, June 11, 2009

Ý Nghĩa Ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa - Phạm Phong Dinh


Phạm Phong Dinh

Ngày 20.7.1954 đánh dấu ngày quốc hận thứ nhất của dân tộc Việt Nam, sau khi cộng sản Bắc Việt cùng với thực dân Pháp ký kết Hiệp định Genève chia đôi đất nước, lấy vĩ tuyến thứ 17 chạy ngang con sông Bến Hải làm ranh giới Bắc Nam. Ðó cũng là ngày đánh dấu cuộc di cư từ bỏ chế độ cộng sản lần thứ nhất của người Việt với gần một triệu dân miền Bắc gồng gánh bồng bế nhau tìm đủ mọi cách để được đáp tàu vào vùng đất miền Nam tự do, nơi đó nước Việt Nam Cộng Hòa non trẻ đang chập chững những bước đầu tiên trong cộng đồng chính trị thế giới.

Giữa bối cảnh một nửa đất nước oằn oại rên siết trong gông cùm cộng sản, trong bóng đêm của dối trá và tội ác, một nửa nước còn lại vừa phải đối phó với quân cộng sản còn nằm mai phục trong các chiến khu cũ thời Pháp và đương đầu với những vấn đề ổn định nội bộ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, danh xưng lúc đó là Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam, tiếp nhận di sản nghèo nàn và lạc hậu do phía quân đội Pháp hồi hương bàn giao lại, đảm nhận trọng trách nặng nề bảo quốc an dân. Ngày 1.7.1955 Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam chính thức hình thành, đánh dấu ngày khai sinh một quân lực non trẻ mà đã dám chiến đấu chống lại cả một đại khối cộng sản quốc tế hung hãn tràn xuống từ phương Bắc. Tên tội đồ dân tộc, kẻ giết hàng triệu người mà miệng vẫn cười Hồ Chí Minh, một cán bộ cao cấp của cộng sản quốc tế, cúi đầu làm chó săn nhận vũ khí và thực hiện sách lược “Dùng người Việt giết người Việt” của quan thầy Nga Sô và Trung Cộng, vơ vét thanh thiếu niên miền Bắc đẩy vào miền Nam bắn dùng bọn thổ phỉ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thực hiện sách lược “Dùng người Miền Nam giết người Miền Nam” tàn sát chính đồng bào ruột thịt của mình.

Dưới thời của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa, sau khi ông chính thức làm Tổng Thống sau cuộc Trưng Cầu Dân Ý 1955, Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam được cải danh thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với xác quyết quân đội sẽ được phát triển và tối tân hóa thành một đạo quân mạnh để đập tan bất cứ một cuộc xâm lược nào từ phương Bắc. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong suốt lịch sử 20 năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, tuy có những lúc thăng trầm nghiêng ngửa, có những lúc thiệt hại nặng nề, nhưng những người chiến binh dũng cảm Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, không chấp nhận chế độ cộng sản, quyết đánh cho đến hơi thở và giọt máu cuối cùng. Từ ngày 1.11.1963, sau khi một nhóm tướng lãnh đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm, đất nước và quân đội Việt Nam Cộng Hòa bị suy yếu trầm trọng vì tình trạng chỉnh lý tranh giành quyền lực liên miên giữa các tướng lãnh. Cộng Sản Bắc Việt nương cơ hội này lăm le tràn xuống đánh dứt điểm miền Nam. Hồi tưởng lại hoàn cảnh đất nước thật đen tối trước ngày 19.6.1965, vận mệnh của nước Việt Nam Cộng Hòa như sợi chỉ mỏng manh treo nghìn cân trước làn sóng xâm nhập đã bắt đầu ồ ạt với hàng trăm ngàn quân chính qui Bắc Việt đã có mặt ở Miền Nam.

Về chính trị, tình hình đầy xáo trộn và bất ổn. Những cuộc xuống đường dưới sự khích động của những phần tử cộng sản nằm vùng và trà trộn liên miên xảy ra, mà hậu quả hiển nhiên và tức thì là sự rối loạn, khẩn trương của xã hội, dân chúng lúc nào cũng lo âu trước thời cuộc hỗn độn. Cộng sản nhân đó gia tăng những hoạt động tuyên truyền, phá hoại, lũng đoạn hàng ngũ những người Quốc Gia. Ở nông thôn thì Việt cộng gia tăng khủng bố dân chúng, bắt cóc, thủ tiêu và ám sát dã man những viên chức xã ấp tận tụy với chính nghĩa quốc gia, thậm chí những người dân vô tội dù chỉ tỏ chút ngần ngừ hay biểu lộ thái độ không hợp tác, ủng hộ, là đã có thể bị Việt cộng tuyên án tử hình và hạ sát. Bầu không khí sợ hãi, chết chóc bao trùm khắp miền nông thôn, nhất là ở những cùng xa xôi hẻo lánh mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chưa thể thiết lập nền an ninh vững chắc.


Về mặt quân sự, lợi dụng lúc giao thời, chính phủ dân sự Việt Nam Cộng Hòa không có khả năng tập họp được sức mạnh của quân đội, cộng sản liên tục cho binh đội xâm nhập Miền Nam, chuyển dạng thái chiến tranh xâm lược từ du kích chiến sang vận động chiến, mở những trận đánh lớn để thử thách sức mạnh và ý chí chiến đấu của quân dân Việt Nam Cộng Hòa, điễn hình là những trận đánh Bình Giả và Ðồng Xoài cuối năm 1964 và giữa năm 1965. Trong bối cảnh chính tình nhiễu nhương, quân đội không được lãnh đạo và chỉ huy thích đáng, đã đưa đến thiệt hại rất nặng cho quân ta trong hai trận đánh này, mà chỉ trông cậy vào trái tim nồng nàn tình đất nước tình đồng bào và chính thân xác của các anh, người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mới có thể cắn răng ngăn chống được cơn sóng dữ cộng sản đã mấp mé gần ngưỡng cửa Sài Gòn.

Về mặt kinh tế, vì chiến tranh tàn phá, đất đai bị bỏ hoang, do đó mức sản xuất sút kém, đời sống dân chúng lệ thuộc vào ngoại viện. Một đất nước từng xuất cảng gạo mà phải nuốt nước mắt nhận những hạt gạo gọi là viện trợ của nước ngoài. Trong khi đó cộng sản luôn tìm cơ hội cắt đứt đường tiếp tế giữa nông thôn và thành thị, làm cho mức sinh hoạt của xã hội ngày càng đắt đỏ và rất khó kiểm soát, gian thương lộng hành trắng trợn. Người dân ở thành thị khốn khổ vì nạn vật giá gia tăng hàng ngày bao nhiêu, thì người dân ở nông thôn càng oằn nặng dưới sự khủng bố và bóc lột ghê rợn của cộng sản bấy nhiêu. Ðóng góp nuôi quân, thuế khóa nặng nề, dân công, sưu địch, con em bị bắt buộc cầm súng trong vùng cộng sản kiểm soát đã là nguyên nhân thúc đẩy đồng bào liều chết bỏ chạy ra vùng quốc gia để được quân đội bảo vệ và chính quyền giúp đỡ.

Hoàn cảnh bi đát của Việt Nam Cộng Hòa trước ngày 19.6.1965 là như vậy. Ðất nước đã bước đến mấp mé bên bờ vực thẳm, chỉ một bước nữa thôi, quân dân Miền Nam rất có thể sẽ nằm dưới sự thống trị của cộng sản Hà Nội. Nhưng những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ cho phép điều đó xảy ra. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một tập thể duy nhất có tổ chức chặt chẽ và tinh thần kỷ luật cao, không thể chần chờ trước cơn quốc biến, nên đã đứng ra nhận chịu trên vai trách nhiệm nặng nề cứu nguy đất nước và dân tộc. Cho đến gần giữa năm 1965, Hội Ðồng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã loại bỏ được những thế lực phân chia sức mạnh quân đội, cùng chia xẻ trách nhiệm lãnh đạo và điều hành guồng máy quốc gia. Nhưng để tỏ rõ thiện chí và quyết tâm kiến tạo nền dân chủ cho Miền Nam, ngày 5.5.1965, Hội Ðồng Quân Lực đã quyết định trao quyền lãnh đạo đấ nước lại cho chính phủ dân sự, cụ Phan Khắc Sửu được mời làm Quốc Trưởng, Bác sĩ Phan Huy Quát làm Thủ Tướng. Nhưng cũng chỉ hơn một tháng sau, ngày 11.6.1965, chính phủ dân sự do cụ Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng nhận định rằng tình hình đất nước đã đến lúc lâm nguy nếu người quốc gia không mạnh mẽ hành động và tìm ra một con đường tức thời nào đó. Con đường đó, sau những cân nhắc, chính là sức mạnh của Quân Ðội. Chính phủ Phan Khắc Sửu quyết định trao trả quyền lãnh đạo đất nước lại cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bằng tuyên cáo chính thức như sau:
TUYÊN CÁO
CỦA QUỐC TRƯỞNG
CHỦ TỊCH HỘI ÐỒNG QUỐC GIA LẬP PHÁP VÀ
THỦ TƯỚNG CHÁNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA
    Sau khi duyệt lại tình trạng ngày càng một khẩn trương của đất nước, sau khi đã xét lại và xác nhận rằng: những cơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế, sau khi đã hội ý cùng toàn thể tướng lãnh Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa tại Phủ Thủ Tướng ngày 11.6.1965, chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết Ðịnh số 8 ngày 5.5.1965, Tuyên Cáo số 7 ngày 5.5.1965, Quyết Ðịnh số 5 ngày 16.2.1965, Quyết Ðịnh số 6 ngày 17.2.1965 và Quyết Ðịnh số 4 ngày 16.2.1965.

    Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1.11.1963.

    Làm tại Sài Gòn ngày 11.6.1965

    Phan Khắc Sửu
    Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa

    Phan Huy Quát

    Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa

    Phạm Xuân Chiểu

    Chủ Tịch Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp

Ngày 12.6.1965, trong một buổi họp quy tụ tất cả những tướng lãnh đang nắm những trọng trách trong Quân Ðội từ cấp Tổng Tham Mưu Trưởng, Tư Lệnh bốn Vùng Chiến Thuật cho đến các Tư Lệnh Quân Binh Chủng, Hội Ðồng Quân Lực đã đề cử Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đảm nhận chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (tương đương Tổng Thống), Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảm nhận chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tương đương Thủ Tướng), thông qua quyết định như sau:



QUYẾT ÐỊNH
THÀNH LẬP ỦY BAN LÃNH ÐẠO QUỐC GIA

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

- Sau khi nghiên cứu Bản Tuyên Cáo Chung của Quốc Trưởng, Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp và Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 11.6.1965 trao trả trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

- Chiếu biên bản Ðại Hội Ðồng các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày 12.6.1965.

Các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Tư Lệnh các vùng chiến thuật và quân binh chủng đã quyết định:
    Quyết Ðịnh:

    Ðiều 1. Thành lập một ủy ban lãnh đạo của Quân Lực mệnh danh là Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia.

    Ðiều 2. Thành phần của Ủy Ban nói trên gồm có : một Chủ Tịch, một Tổng Thơ Ký, một Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp, Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.

    Ðiều 3. Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia thay mặt toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa điều khiển Quốc Gia.

    Ðiều 4. Hoàn toàn tín nhiệm và chỉ định:

    A. Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

    B. Tổng Thư Ký : Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu.

    C. Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ.

    Ðiều 5. Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu Quốc Gia cùng thành lập một Nội Các Chiến Tranh.

    Sài Gòn, ngày 14 tháng 6 năm 1965

    Toàn thể các Tướng Lãnh và Tư Lệnh Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Ðó là ngày đánh dấu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đứng lên gánh vác hai trách nhiệm lớn: bảo vệ nền tự do độc lập của Việt Nam Cộng Hòa, làm tiền đồn ngăn chống làn sóng cộng sản và xây dựng một đất nước lạc hậu nghèo khó vì chiến tranh triền miên với mục đích tiến lên thành một quốc gia phú cường, ngẫng cao đầu sánh vai với cộng đồng thế giới. Ngày 19.6.1965 thành phần Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương trong một buổi lễ ra mắt được tổ chức long trọng ở Thủ Ðô Sài Gòn, đã tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm lèo lái quốc gia và làm thành phần tiền phương của quân dân Việt Nam Cộng Hòa chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ đất nước. Từ thời điểm đó, ngày 19.6 được đánh dấu như là một cái mốc lịch sử, một chương mới của cuộc chiến đấu chống đại khối cộng sản quốc tế của quân dân Miền Nam, mà Quân Lực Việt Nam Cộng hòa là thành phần gồng gánh trách nhiệm lãnh đạo đất nước, xây dựng nền độc lập, tự do và dân chủ, bình định những mầm móng nằm vùng bạo loạn, ở tiền tuyến thì chỉ huy quân đội ngăn chống cơn sóng xâm lăng cuồng sát của đạo quân hiếu chiến cộng sản Bắc Việt. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu sau khi đắc cử Tổng Thống đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa trong tháng 11.1967 vẫn tiếp tục cho tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm hàng năm ngày Quân Lực 19.6 với những cuộc diễn binh của tất cả các đơn vị và quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để biểu dương sức mạnh và ý chí quật khởi của dân tộc Việt Nam chống xâm lược cộng sản từ phương Bắc.

(Ngày 19.1.2004, cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, người từng một thời lái máy bay oanh tạc những cơ sở tàng trữ vật chất dành cho cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam ở Miền Bắc, người từng tuyên bố tử thủ Miền Nam trong những ngày cuối cùng của tháng 4.1975 ở Thủ Ðô Sài Gòn, đã tự động lìa bỏ hàng ngũ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nộp đơn xin cộng sản Hà Nội khoan hồng cho ông ta được phép về Việt Nam. Nguyễn Cao Kỳ đã nhục nhã quỳ gối viết những hàng chữ ô uế trong lá đơn xin chiếu khán vào Việt Nam, thể theo những điều kiện của cộng sản Hà Nội. Kỳ đã kính cẩn và khép nép ký cái tên tầm thường của mình dưới huy hiệu cờ máu của cộng sản, mặc nhiên chối bỏ cái quá khứ oanh liệt được làm người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ giờ phút đó, Nguyễn Cao Kỳ, con người một thời từng thốt lời ngạo nghễ với giặc cộng và cả với đồng minh, giờ đây đã nhận chịu sự “khoan hồng, nhân đạo” của giặc một cách tuyệt đối và vô điều kiện. Còn nhớ ngày xưa trong những lần Bắc phạt trở về, chỗ ngực chiếc áo bay màu đen của ông Kỳ vàng óng Lá Quốc Kỳ Vàng mà ông rất hãnh diện mang trên đó, thì ngay nay Kỳ đã cúc cung cúi đầu quy phục lá cờ đỏ, biểu tượng của diệt chủng và diệt dân tộc của cộng sản Hà Nội, bằng một thái độ rất ươn hèn rất không tương xứng với vị thế của một người cựu Tướng chỉ huy toàn Miền Nam. Với ảo tưởng rằng sẽ nhận được những cái hôn thắm tình “hữu nghị” và rất “anh em” của bọn cộng sản Hà Nội, Kỳ xênh xang áo gấm về nước. Thật ô nhục, với thân phận là người cao nhất nước của năm 1965 trong cương vị Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, thì đáng lẽ ít nhất gã thủ tướng của bạo quyền Hà Nội là Phan Văn Khải sẽ ra tận cầu thang máy bay hôn lên cái trán bóng mỡ và lên hai đôi gò má dầy da của Kỳđể tỏ rõ tinh thần “hòa giải hòa hợp” giữa riêng bọn chúng và chỉ mỗi bọn chúng với nhau, thế mà chỉ lèo tèo có một gã gọi là chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc và một gã thành ủy Sài Gòn.

Cộng sản thường có lối đặt chữ rất mù mờ bất thành câu. Mặt Trận Tổ Quốc là mặt trận gì, nếu phải đặt cho tròn câu với đầy đủ danh từ và động từ, thì phải là Mặt Trận Tổ Quốc Ðứng Lên hay Ngồi Xuống hoặc Giải Phóng gì đó, Mặt Trận Tổ Quốc khơi khơi là thế nào ? Như vậy người ta thấy ngay nó là một cái mặt trận không làm gì cả, không ra gì cả, từ đó suy ra rằng gã chủ tịch chỉ là một cái con người rơm lúc lắc theo những cơn gió ngoài đồng. Ðưa một cái hình nộm hữu danh vô thực, vô quyền và không giữ vị trí tối cao nào trong hệ thống tổ chức cộng sản, Hà Nội đã trịch thượng gởi một cái thông điệp đến Nguyễn Cao Kỳ, mà chúng ta có thể hiểu như sau: “Nông Ðức Mạnh, Phan Văn Khải và Trần Ðức Lương sẽ không bao giờ hạ mình xuống ngang hàng với gã hàng thần lơ láo Nguyễn Cao Kỳ, dù là chỉ để ban cho một cái vỗ vai khen ngợi, thì đừng có mà mơ tưởng đến những cái hôn của chúng và đôi cánh tay giang ra ôm ấp trong tư thế “hòa hợp hòa giải”. Lại càng khó có thể được ngồi gác chân trong những bộ salon đắt tiền ở Bắc Bộ Phủ bàn chuyện đại sự với cộng sản”. Ðó là một cách làm nhục đối phương một cách khá là trắng trợn và rõ ràng của Hà Nội, Nguyễn Cao Kỳ đủ thông minh để biết điều đó và đủ hèn để cúi đầu im lặng leo lên máy bay trở về Mỹ quốc, không kèn và không trống.

Từ nay, những nhà viết sử đã có thể thêm vào đằng sau những Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, Mạc Ðăng Dung, Lê Chiêu Thống cái tên Nguyễn Cao Kỳ. Còn đối với bè lũ cộng sản Hà Nội:

Chừng nào mà chúng chưa tự trói mình quỳ gối cúi xin dân tộc tha thứ cho những tội ác tày trời của chúng.

Ngày nào mà nhân phẩm người phụ nữ còn bị chà đạp, hàng trăm ngàn cô gái còn bị bán khắp thế giới làm nô lệ tình dục.

Chừng nào mà hàng triệu trẻ em nghèo còn thất học và vẫn lang thang khắp đầu đường xó chợ.

Ngày nào mà người công nhân Việt Nam còn bị bọn chủ ngoại quốc hành hạ, xúc phạm danh dự và thân thể.

Chừng nào mà những nghĩa trang của những tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn bị san bằng và hủy diệt, những người chiến sĩ thương phế Việt Nam Cộng Hòa còn bị chà đạp nhân phẩm và bị bỏ rơi ngoài lề xã hội.

Ngày nào mà dân tộc Việt Nam không được hoàn toàn tự do bày tỏ chính kiến khác biệt, niềm tin tôn giáo, tín đồ và những nhà lãnh đạo tôn giáo còn bị bách hại, giam cầm.

Và trên tất cả, chừng nào mà dân tộc Việt Nam vẫn chưa được cho sống như con người đúng nghĩa với những quyền lợi căn bản.

Thì ngày ấy cộng sản Hà Nội đừng có ảo tưởng mơ mộng cái gọi là hòa hợp hòa giải. Chúng chỉ có hai chọn lựa. Thứ nhất, tự nguyện trao trả đất nước lại cho dân tộc để có thể được cứu xét tha thứ. Thứ hai, dọn mình chờ ngày toàn dân đứng lên lật đổ chúng, lúc đó, xin được báo trước và cảnh cáo cho chúng biết, đến sắt thép cũng phải nát tan thành tro bụi dưới cơn thịnh nộ của trời và người).

Với sự trợ giúp của các nước Ðồng Minh, trong đó phần đóng góp chính yếu đến từ Hoa Kỳ từ sau năm 1954, QLVNCH đã dần lớn mạnh, không những đủ khả năng chận đứng đà xâm lăng cuồng bạo của binh đội cộng sản Bắc Việt, mà còn đánh cho bọn chúng tan tành thành từng mảnh vụn trong những chiến thắng lừng danh thế giới như Mậu Thân 1968, chiến dịch hành quân sang Kampuchea đập nát những hang ổ kho tàng tiếp liệu cộng quân năm 1970. Trong cuộc hành quân sang Hạ Lào, chiến dịch Lam Sơn 719, mặc dù bị báo chí và truyền thông Hoa Kỳ cũng như nằm vùng cộng sản tiết lộ bí mật, QLVNCH ngay từ đầu đã ở trong thế hạ phong nhưng vẫn đánh thiệt hại rất nặng lực lượng cộng quân. Chiến thắng lừng lẫy nhất mà đã làm cho toàn thế giới phải cúi đầu ngưỡng phục, kể cả giới truyền thông báo chí phản chiến và thân cộng cũng phải xấu hổ gục đầu công nhận tính chất xâm lược rõ ràng của cộng sản Hà Nội và tinh thần chiến đấu dũng mãnh của QLVNCH. Ðó là cuộc chiến Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972. QLVNCH đã để lại trong lịch sử Việt Nam trang sử chiến đấu chói lọi nhất, thiêu cháy huyền thoại Ðiện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp. Sau cơn thảm bại mùa hè 1972 nhục nhã, Giáp bị cách chức.

QLVNCH chiến đấu trong nỗi cô đơn cay cực mà chưa từng có một đội quân nào trên thế giới đã trải qua hoàn cảnh ngặt nghèo tương tự. Vừa phải đổ máu xương ngăn chống cộng sản ở phía trước mặt mà còn phải hứng chịu những vết đâm lút sâu của những thế lực bạn bè từ phía sau lưng và sự hững hờ từ phía hậu phương. Người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa bị trói tay không cho đánh, mặc dù chỉ chiến đấu để tự vệ, bảo vệ làng xóm. Chính họ đã hy sinh mạng sống để cho dân tộc được sống và được hạnh phúc. Sự dàn xếp của những thế lực cộng sản quốc tế và tư bản đã đưa đến ngày tang thương 30.4.1975, QLVNCH một lần nữa bị buộc phải hoàn toàn buông súng. Bọn cộng sản tiểu nhân đắc chí ngổ ngáo tiến vào chiếm lấy Việt Nam Cộng Hòa, ngông nghênh tuyên bố đại thắng, thực hiện sách lược sĩ nhục lăng mạ và đày ải những người chiến binh QLVNCH và vợ con gia đình của họ. Nhưng thật sự có phải cộng sản Bắc Việt đã chiến thắng hay không ? Sau hơn một phần tư thế kỷ kể từ ngày 30.4.1975, giờ đây mọi góc cạnh của sự thật đã được phơi bày dưới ánh sáng của mặt trời. Chúng ta khẳng định mạnh mẽ QLVNCH không hề thua và cộng sản không hề thắng trong trận chiến đấu cuối cùng ngày 30.4.1975. Sự thắng thua chỉ được phân định khi hai lực lượng cùng đối mặt chiến đấu giữa hai chiến tuyến. Hai võ sĩ so găng trên võ đài, một võ sĩ bị trói tay chân và với sự đồng tình của ban trọng tài đã bị võ sĩ kia đánh đập rồi tự đưa tay tuyên bố chiến thắng và tha hồ lăng mạ sĩ nhục đối phương. Cuộc thắng thua còn chưa được phân định khi viên đạn cuối cùng còn chưa được bắn ra khỏi nòng súng.

Giờ đây, sau gần ba mươi năm chứng kiến những tội ác ghê tởm hãi hùng của cộng sản Hà Nội bủa lên đầu chính dân tộc của chúng, công luận thế giới đã khẳng định chế độ cộng sản là một cái quái thai kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại và cần phải hủy diệt nó. Ngọn gió đã đổi chiều thuận lợi cho QLVNCH. Hệ thống truyền thông và báo chí ngoại quốc từng một thời ngày xưa góp tay bôi nhọ làm nhục người chiến sĩ VNCH, ngày nay đã hồi phục danh dự cho QLVNCH, biểu dương tinh thần chiến đấu và chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa. Cuối cùng thì những giá trị nhân bản thực sự của người lính Việt Nam Cộng Hòa đã được thế giới thừa nhận và tôn vinh. Những nắm xương khô đang mục rã theo với thời gian nghiệt ngã của 300 ngàn tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nằm câm nín u uất dưới những nghĩa trang hoang phế điêu tàn, hay ở những chống rừng sâu núi thẳm, cùng với nửa triệu chiến sĩ thương phế mà phần lớn còn sống lây lất và khắc khoải bên kia bờ Thái Bình Dương, tất cả những người anh hùng vĩ đại đó giờ đây đã được tôn vinh. Ðiều mà những người còn sống, những người còn lành lặn thân xác phải làm là sẽ cùng nhau tìm cách cắm lên bia mộ các anh những nén hương của lòng tri ân với những giọt nước mắt tiếc thương, cùng nhau gởi về cho các anh thương phế chút lòng của những người đồng đội mà ngày xưa từng kiêu hãnh đứng chung dưới lá Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để các anh còn tiếp tục nuôi dưỡng một niềm tin. Rồi sẽ có một ngày, cơn thịnh nộ của đất trời và của toàn dân tộc Việt Nam sẽ như con sóng thần biển Ðông cuốn xô đi những tàn tích của cái ác.

Chúng ta cũng nghiêng mình trước Bức Tường Ðá Ðen ở Washington D.C, tri ân hơn 58,000 chiến sĩ Hoa Kỳ trận vong, những người bạn đã từng sát cánh chia sẽ nỗi cơ cực và chết chóc của chiến tranh với người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì nền tự do của đất nước Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta tri ân và vinh danh 300,000 chiến binh thương phế Hoa Kỳ đã bỏ lại một phần thân thể của các anh trên một đất nước thật quá xa xôi để trở về nhận chịu sự thờ ơ lãnh đạm của chính người dân Mỹ, cùng mang mễn những chứng bệnh tinh thần trầm kha. Giờ đây thì anh linh của tất cả những người lính trận vong Hoa Kỳ và Việt Nam đã có thể đi về phía cõi vĩnh hằng với lòng thanh thản, những chiến sĩ thương binh Hoa Kỳ và Việt Nam đã có thể thể ngẫng cao đầu cười nửa miệng trên những đống gạch đổ nát ngỗn ngang của bức tường thành Bá Linh và những mảnh vụn của cái quái thai chủ nghĩa cộng sản. Chính là các anh, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và người lính Quân Lực Hoa Kỳ đã là nỗ lực chánh hủy diệt cái ác mệnh danh là chủ nghĩa cộng sản đó. Chúng ta có thể xác quyết một điều là, ngày nào mà người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn tập họp, đoàn kết đứng chung dưới lá Quốc Kỳ và Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, thì ngày đó cộng sản Hà Nội còn rất run sợ, ngày ăn không thấy ngon, đêm ngủ không được yên giấc. Chúng phải hiểu một điều đơn giản nhưng rất thật là, cho dù chúng có nặn cái bộ óc “trí tuệ” của loài Vượn đến thế nào để cho ra bao nhiêu cái nghị quyết nhắm vào người Việt hải ngoại và Tập Thể người lính QLVNCH, thì cũng sẽ hoàn toàn không ăn được cái giải gì, giống như những cú đánh mất hút vào cõi hư vô. Chúng chỉ thắng được chúng ta ngày 30.4.1975, khi chúng ta bị buộc phải buông súng mà thôi. Ba mươi năm trước, cộng sản Hà Nội cậy có súng AK để đánh đập, hạ nhục, giết chóc những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không còn vũ khí trong những trại tù khắc nghiệt và dã man của chúng. Ngày nay, ba mươi bốn năm sau, tuy rằng trong tay người lính chúng ta không còn cây súng M 16, nhưng chúng ta có rất nhiều sức mạnh mà cộng sản Hà Nội hằng run sợ.

Thứ nhất, sự phẫn nộ của người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hàng trăm ngàn người lính đã ra được đến bến bờ tự do, dù họ không còn vũ khí, nhưng mỗi trái tim bất khuất của các anh chính là thứ vũ khí sắc bén nhất và hữu hiệu nhất, những trái tim đó đã kết nên thành một bức tường cứng rắn. Ba mươi năm nay, cộng sản đã hằng bắn phá vào bức tường ấy, chỉ để thấy rằng chúng đã một lần nữa chiến bại. Tập Thể Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn luôn là lực lượng duy nhất đối kháng và ngăn chống cực lực mọi cuộc tấn công của cộng sản, dù là bằng bất cứ hình thức nào.

Thứ hai, cuộc chiến đấu bằng cây viết của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cộng sản từng tuyên án: “Một nhà văn “ngụy” bằng mười sư đoàn tác chiến”. Ngày nay, cây viết của những người lính đã trở thành cây súng M 16 bắn những giọt mực ngạo nghễ và thách thức vào mặt cộng sản Hà Nội, ngòi bút xé toang bức màn đen tối của giả dối và tàn bạo để đưa ra trước công luận thế giới và lịch sử sự thật về cuộc chiến tranh xâm lược của cộng sản quốc tế lên Miền Nam và cuộc chiến đấu bảo quốc kiệt liệt của quân dân Miền Nam.

Thứ ba, chiến thắng vẻ vang chấn động cả thế giới của người Việt hải ngoại qua sự kiện vừa kỳ lạ lẫn kỳ diệu: Lá Quốc Kỳ Vàng Ðại Nghĩa Ba Sọc Ðỏ hiện nay đã phất phới, ngạo nghễ tung bay ở nhiều tiểu bang, quận hạt, thành phố và trong nhiều trường đại học khắp nước Mỹ. Ðó há chẳng phải là một dấu hiệu, một sự thừa nhận chân thành của người Mỹ, rằng chỉ có Lá Cờ Vàng Việt Nam mới là biểu tượng của chính khí dân tộc Việt Nam, là biểu trưng của cuộc chiến đấu quật cường của một dân tộc nhỏ bé chỉ có gần 18 triệu người mà đã anh dũng ngăn chống một đại khối cộng sản quốc tế với dân số hơn 1 tỉ người. Không chỉ ở Hoa Kỳ, mà gần như trên toàn thế giới, Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ của Việt Nam Cộng Hòa vẫn hằng năm tung bay trên cột cờ thị chính của những thành phố lớn trong ngày 30.4. Ðó há chẳng phải là sự ghê tởm và chối bỏ chủ thuyết cộng sản và lá cờ máu tanh hôi của bè bọn cộng sản Hà Nội của lương tâm thế giới hay sao.



Ngày Quân Lực 19.6 năm nay có nhiều ý nghĩa quan trọng. Nó đánh dấu sự bắt đầu hồi sinh của QLVNCH và của niềm tin chính nghĩa quốc qua cuộc đọ sức gay go giữa cái Thiện và cái Ác. Ngày tàn của bọn cộng sản Hà Nội không còn bao xa nữa. Bên trong cái vỏ bọc hào nhoáng phù du hiện tại mà bọn cộng sản tô vẻ ở quê nhà, chỉ là một cái ruột rỗng tuếch mục nát chờ giờ sụp đổ. Với sự tập họp của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được thể hiện qua sự đoàn kết cao độ trong Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại, kết hợp với những phong trào đấu tranh đòi quyền sống, quyền làm người và quyền tự do tín ngưỡng ngày càng sôi sục ở quốc ngoại và quốc nội, dân tộc Việt Nam có quyền hy vọng sẽ có nhiều chiến thắng khác liên tục và lừng lẫy hơn, để cuối cùng lật đổ được bè lũ bạo quyền Hà Nội.

Anh linh của tiền nhân, của những vị thần tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long, các Trung Ðoàn Trưởng, Tiểu Ðoàn Trưởng, sĩ quan và các chiến sĩ Vị Quốc Vong Thân xin hãy hiển linh thương xót phù trì cho dân tộc Việt Nam và QLVNCH có được nhiều sức mạnh đứng lên lật đổ bạo quyền cộng sản, đem ánh sáng công chính và hạnh phúc trở lại trên khắp mọi miền đất nước, ném bọn chúng vào cõi sâu thẳm tối tăm nhất và đời đời của địa ngục.

    Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm
    Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm
Phạm Phong Dinh