Sunday, October 18, 2009

Cái Chết Của Ông Ngô Đình Cẩn - Như Phong

    Kính chuyển quý vị để thấy tội ác của Dương Văn Minh. Y quyết diệt cỏ tận gốc, sợ Ông Ngô Ðình Cẩn còn sống sẽ là một đại họa cho Y. Chính vì vậy mà chúng ta mất nước hôm nay!Tên Dương Văn Minh, tay sai ngoại bang, đã tung hoành phá tan đất nước. Y sẽ bị dân Việt muôn đời gớm ghiếc bởi do Y mà nước mất nhà tan, toàn dân đang quằn quại dưới gông cùm Cộng sản hôm nay chưa biết đến bao giờ mới thoát được.
    Xin cầu cho Linh hồn Goan Baotuixita Cụ Ngô Ðình Cẩn sớm về hưởng Nhan Thánh Chúa.

    Trân trọng.
    Thế Nguyễn


Như Phong

Khi được nói lời cuối cùng là tử tội có xin ân huệ gì không thì Ngô Đình Cẩn xin được quyền mặc quần trắng, áo dài đen vì ông muốn được chết trong bộ "quốc phục" Việt Nam. Hơn nữa ông Cẩn cũng muốn mặc bộ này đó là vì chiếc áo được thân mẫu may cho khi còn ở Huế.

Ngày hôm sau, đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn đã được chuyển đến tướng Dương Văn Minh là Quốc trưởng. Rồi Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình cũng gửi một lá thư tới Dương Văn Minh xin ân xá cho tử tội Ngô Đình Cẩn với lý do là Cẩn đang bị bệnh rất nặng, ngày sống chỉ đếm được trên đầu ngón tay cho nên không cần thiết phải hành quyết Cẩn. Nhưng tất cả đều bị Dương Văn Minh bác thẳng thừng. Tòa án báo cho thân nhân của gia đình Ngô Đình Cẩn là bà Ngô Đình Thị Hiệp, bà Ngô Đình Thị Hoàng (thường gọi là bà cả Lễ ...) là đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn đã bị Quốc trưởng bác bỏ. Ngô Đình Cẩn sẽ bị hành quyết vào lúc 17h ngày 9/5/1964 tại Khám Chí Hòa.
Trước làn sóng phản đối việc kết án tử hình Ngô Đình Cẩn ngày càng lan rộng trong giáo dân, chính quyền Dương Văn Minh - Nguyễn Khánh quyết thi hành án sớm.

Tại Sài Gòn, ngày giờ xử bắn Ngô Đình Cẩn được giữ rất kín. Có hai người được biết trước là luật sư Võ Văn Quan và linh mục Jean Baptiste Lê Văn Thí.

Ngày 8/5, linh mục Thí được vào gặp Ngô Đình Cẩn để làm lễ rước mình Thánh Chúa an ủi người sắp chết.



Khi ông Thí vừa vào, chào hỏi xong thì Ngô Đình Cẩn đã hỏi ngay: "Ngày mai, họ đem con đi bắn phải không cha?".

Linh mục Thí im lặng và khẽ gật đầu rồi hỏi lại: "Cậu có sợ không?".

Ngô Đình Cẩn gượng cười, trả lời khá bình thản: "Con không sợ chút mô hết cha à!".

Linh mục Thí hỏi tiếp: "Cậu có tha thứ cho những người đã làm khổ cậu và gia đình cậu không?".

Ngô Đình Cẩn nói lớn, và rành rẽ: "Con tha thứ".
Rồi Cẩn nói tiếp: "Con cũng mang tên Thánh là Jean Baptiste và cha cũng mang tên Thánh Jean Baptiste. Xin cha nhớ cầu nguyện cho con sớm lên Thiên đàng chầu Chúa và xin mọi người có đạo chứng kiến con chịu chết, xin đọc cho con một kinh lạy cha "Xin cho chúng tôi hàng ngày đủ dùng và tha tội cho chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi".

(Ngô Đình Cẩn là con út trong nhà nên hay được gọi là cậu Cẩn. Sau này khi TT Ngô Đình Diệm giành được quyền lực thì Ngô Đình Cẩn cũng được coi là nhân vật cực kỳ thế lực ở khu vực miền Trung, cho nên ai đến với Cẩn cũng không dám gọi tên mà chỉ gọi là ông Cậu).

Hôm sau, 10h trưa ngày 9/5, luật sư Võ Văn Quan vào thăm Ngô Đình Cẩn lần cuối cùng.

Sau này, ông Quan kể lại cho nhà báo Phan Kim Thịnh:

"Sáng sớm ngày 9/5, cháu Ngô Đình Cẩn là Trần Trung Dung vào thăm. Ông Cẩn nói chuyện một cách thản nhiên, không hề biểu lộ thái độ lo lắng, sợ sệt. Người cháu gái thì ngồi cạnh giường, khóc và nguyền rủa những kẻ phản phúc nhà họ Ngô. Nhưng ông Cẩn điềm tĩnh nói: "Không có gì đáng buồn mà phải khóc lóc. Làm chính trị là phải như thế. Cậu không có gì oán thán hết".

Khi gặp luật sư Quan, ông Cẩn cũng vẫn tỏ thái độ bình thản. Ông Quan cũng không hề biết là chính Ngô Đình Cẩn cũng đã biết rõ ngày giờ thi hành án. Lúc đầu, hai bên chỉ nói chuyện có tính chất xã giao nhưng rồi đột nhiên ông Cẩn tâm sự về thân thế của ông và tiết lộ một số câu chuyện bí mật. Lời nói của ông như là một sự trăn trối khiến luật sư Quan giật mình và thầm nghĩ: "Có lẽ ông Cẩn biết rồi".

Rồi Ngô Đình Cẩn chuyển sang giải bày những thủ đoạn chính trị của mình với giọng hùng hồn, hoạt bát, mạch lạc. Ngô Đình Cẩn cũng nhắc lại những cuộc tàn sát đẫm máu đối với những người Cộng sản khi Ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, và khẳng định làm chính trị thì phải chấp nhận thế thôi. Khi nói đến việc đàn áp những người Cộng sản, Ngô Đình Cẩn ngẩng cao đầu, mắt sáng long lanh, mặt đỏ bừng và nói như đếm từng tiếng.

Nhìn đồng hồ đã thấy gần 12h trưa, Ngô Đình Cẩn bảo: "Luật sư đưa cho tôi cái danh thiếp của ông".

Ông Quan ngạc nhiên không hiểu lúc này Ngô Đình Cẩn còn muốn có danh thiếp của mình để làm gì. Nhưng chiều ý, ông vẫn lấy danh thiếp đưa cho Ngô Đình Cẩn.

Ông Cẩn lấy bút viết vào phía sau danh thiếp: "Xin hết lòng đa tạ" và viết tên Ngô Đình Cẩn. Đưa lại danh thiếp cho luật sư, Ngô Đình Cẩn dịu giọng nói: "Tôi xin gửi lại chút này để cám ơn luật sư đã hết lòng biện hộ cho tôi".

Luật sư Quan bối rối: "Thật sự tôi có giúp được gì cho ông đâu, họ vẫn xử tối đa".

Ông Cẩn khẽ lắc đầu, gượng cười: "Vấn đề không phải ở đó. Viết mấy chữ này, tôi muốn tỏ lòng tri ân đối với người luật sư không từng quen biết, nhưng đã tận tình và can đảm nói lên giữa phiên tòa những gì tôi muốn nói".

Rồi Ngô Đình Cẩn lại bình tĩnh trò chuyện, lấy giấy cuốn thuốc lá theo kiểu sâu kèn, phì phèo hút, rồi lại têm trầu nhàn nhã nhai bỏm bẻm. Ông Quan đứng dậy cáo từ cố giữ nét mặt bình thường. Ngô Đình Cẩn bắt tay luật sư Quan rất chặt và rất lâu, đồng thời luồn bàn tay trái xuống gầm bàn, nhìn xuống đó ra hiệu. Ông Quan thấy bàn tay trái của Ngô Đình Cẩn xòe ra 5 ngón như thể báo hiệu rằng chiều nay vào lúc 5h ông sẽ bị hành quyết.

Sau này, mỗi khi nhớ lại vụ hành quyết Ngô Đình Cẩn, luật sư Quan vẫn tỏ thái độ kính trọng, khâm phục một con người biết cái chết đang đến với mình từng giờ, từng phút mà vẫn ngồi nói chuyện bình tĩnh hàng tiếng đồng hồ.

Cũng phải nói thêm rằng, sau ngày Ngô Đình Cẩn bị hành quyết đã có nhiều tin đồn rằng Ngô Đình Cẩn khi chết đi để lại rất nhiều của cải cho nhiều người thừa hưởng. Ngay chuyện Ngô Đình Cẩn bảo đại úy Nguyễn Văn Minh giao số vàng, đôla, kim loại quý cho tướng Đỗ Cao Trí giữ là "2 bao"... nhưng thực chất đó cũng chỉ là những lời đồn thổi vì chính đại úy Minh cũng không biết có bao nhiêu vàng và tướng Trí khi nhận túi vàng, valy tiền cũng không kiểm đếm.

Tuy nhiên, theo điều tra của các nhà báo về sau thì số bất động sản do Ngô Đình Cẩn giao cho người khác đứng tên không phải là ít. Năm 1989, tướng ngụy quyền Trần Văn Đôn có viết cuốn hồi ký "Việt Nam nhân chứng", và khi nói về cái chết của Ngô Đình Cẩn, ông ta viết như sau: "Vài tháng sau ngày chỉnh lý, tướng Nguyễn Khánh có phái đại tá Lâm Văn Phát thông qua bà Trần Trung Dung và nhờ chuyển lời nói với ông Cẩn rằng, hãy chuyển số tiền 6 triệu USD mà ông Cẩn có trong một ngân hàng Thụy Sĩ cho tướng Nguyễn Khánh. Đổi lại tướng Khánh sẽ cho một chiếc phi cơ đưa ông Cẩn đi Singapore. Bà Trần Trung Dung yêu cầu đừng ghi âm khi bà ấy vào khám hỏi ông Cẩn. Sau khi nghe bà Dung trình bày, Ngô Đình Cẩn không chịu giao số tiền đó cho ông Khánh, rồi hỏi bà Dung có cần lấy thì ông giao cho. Lúc đó bà Dung sợ liên lụy nên không dám nhận. Mấy ngày sau, nhân dịp một vị linh mục vào làm lễ cho ông Cẩn, ông đã ký giấy ủy quyền cho nhà dòng Cứu Thế số tiền đó. Giấy ủy quyền được để trong một cuốn kinh Thánh...".

Như vậy, xem ra sự kiện Ngô Đình Cẩn có mấy triệu đôla là có thể tin được. Nhưng thực sự chuyện Ngô Đình Cẩn chuyển 6 triệu đôla cho nhà thờ cũng có thể rất khó xảy ra, bởi lẽ với một số tiền lớn như vậy không thể cầm tờ giấy ủy quyền có mấy chữ rồi ký tên cho người khác đi lĩnh, đặc biệt đối với các ngân hàng nước ngoài. Ngay linh mục Lê Văn Thí cũng khẳng định là chẳng làm gì có số tiền đó.

Sáng 9/5, các nhà báo sau khi dự buổi hành quyết Phan Quang Đông tại Huế thì vội vàng ra máy bay về Sài Gòn.

Buổi tử hình Phan Quang Đông diễn ra rất ghê rợn. Vợ Phan Quang Đông đang bụng mang dạ chửa sắp đến tháng đẻ, đã ngất lịm ngay tại pháp trường khi chứng kiến cảnh chồng bị trói vào cọc ...

Sau khi làm các thủ tục về giấy tờ, Các nhà báo có mặt ở Bộ Thông tin từ lúc 14h. Và được đưa tất cả lên chiếc xe 18 chỗ đi vào Khám Chí Hòa. Tới cổng khám, ở trạm gác thứ nhất, nhân viên yêu cầu khám xét hành lý và thu giữ lại tất cả máy ảnh. Chụp ảnh buổi hành quyết chỉ có 3 người của Bộ Thông tin và nhân viên của an ninh quân đội. Sau đó các nhà báo được dẫn ra một sân rộng đầy cỏ cây hoang dại và có chôn sẵn một chiếc cột gỗ và trường bắn nằm gần một ngôi chùa nhỏ.
5h chiều, các thủ tục cho buổi hành quyết Ngô Đình Cẩn được bắt đầu tại phòng làm việc của trung tá Phạm Văn Luyện, Quản đốc Khám Chí Hòa. Những người có mặt tại đây là đại tá Trang Văn Chính, Giám đốc cảnh sát đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn; thiếu tá Nguyễn Văn Đức, Chưởng lý Tòa án quân sự; bà cả Lễ là chị ruột Ngô Đình Cẩn; luật sư Võ Văn Quan và một số người khác nữa. Đoàn người đến thẳng phòng giam của Ngô Đình Cẩn và lặng lẽ bước vào.

Nghe tiếng giày, Ngô Đình Cẩn đang nằm trên giường hé mắt nhìn rồi khép lại, miệng lầm rầm cầu nguyện cùng với một vị linh mục đứng cạnh giường đọc kinh. Bóng đèn điện từ trên trần nhà tỏa sáng một màu ánh sáng vàng vọt, thê lương. Thiếu tá Đức đến bên giường, đọc bản bác đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn. Khi Nguyễn Văn Đức đọc xong, luật sư Quan đến bên ông Cẩn nắm lấy hai bàn tay. Tay Ngô Đình Cẩn nóng hổi, mặt ửng hồng và rõ ràng đang sốt rất cao.

Luật sư Quan cố gượng nói: "Thôi ông cố vấn đừng quá đau buồn. Trên cõi đời này dù sớm hay muộn rồi ai cũng phải ra đi”.

Ngô Đình Cẩn điềm tĩnh: "Luật sư đừng có buồn cho tôi. Tôi đi theo mấy ông anh của tôi. Tôi trở về với Chúa. Tôi không sợ chết đâu. Nhưng tôi lo cho luật sư, lúc cãi cho tôi, luật sư có đụng chạm tới họ. Không biết luật sư ở lại có bị họ làm khó dễ hay không".

Luật sư Quan ứa nước mắt: "Không sao đâu, ông cố vấn đừng lo cho tôi. Xin cầu chúc ông cố vấn được vào nước Chúa".

Thủ tục tiếp theo là vị linh mục làm lễ và cầu nguyện cùng ông Cẩn. Khi được nói lời cuối cùng là tử tội có xin ân huệ gì không thì Ngô Đình Cẩn xin rằng được quyền mặc quần trắng, áo dài đen vì ông muốn được chết trong bộ "quốc phục" Việt Nam (ngày ấy chính quyền Ngô Đình Diệm quy định "quốc phục" của Việt Nam Cộng hòa là quần trắng, áo dài đen, đội khăn xếp). Hơn nữa ông Cẩn cũng muốn mặc bộ này đó là vì chiếc áo được thân mẫu may cho khi còn ở Huế. Rồi ông cũng nói với mọi người là ông tha thứ cho những người đã giết ông.

Yêu cầu của Ngô Đình Cẩn được đáp ứng, những viên cai ngục giúp ông thay quần áo. Rồi thiếu tá Nguyễn Văn Đức ra lệnh cho 2 nhân viên xốc nách dìu ông Cẩn ra khỏi phòng giam và xuống cầu thang. Vì Ngô Đình Cẩn không thể đi được, nên người ta phải đặt ông lên một chiếc băng ca và đẩy đi suốt hành lang này qua hành lang khác. Ra khỏi khu "lò bát quái", Ngô Đình Cẩn được chuyển sang một băng ca khác do 4 người cai ngục khiêng, chiếc băng ca được khiêng ra giữa sân có cắm một chiếc cọc thì cả đoàn người dừng lại ...

Thiếu tá Đức ra lệnh cho đám cai tù xốc nách đỡ Ngô Đình Cẩn dậy, dìu ra cột. Khi Cẩn được dìu tới cột gỗ thì một người lính trong đội hành quyết nói nhỏ với Cẩn là xin phép được trói hai tay ra đằng sau, hai tay được đặt lên một thanh ngang giống như cây thánh giá mục đích là để người bị tử hình không tụt được xuống. Một người lính cai ngục lấy chiếc khăn đen bịt mắt tử tội thì Ngô Đình Cẩn lắc đầu liên tục và nói: "Tôi không chịu bịt mắt. Tôi không sợ chết". Nhưng người ta vẫn buộc khăn vào một cách vụng về, vì vậy không chỉ bịt mắt mà bịt gần hết khuôn mặt ông Cẩn.
Đội hành quyết có 10 người và đội mũ lính quân cảnh có in 2 chữ MP, chia làm 2 hàng. Hàng trước 5 người quỳ, hàng sau 5 người đứng. Trong 10 người thì có 1 người được sử dụng khẩu súng mà trong đó lắp 1 viên đạn mã tử (không có đầu đạn mà chỉ bịt giấy). Đúng 18h20, phút hành quyết đã tới, Nguyễn Văn Đức giơ tay ra lệnh thi hành.

Viên sĩ quan chỉ huy đội hành quyết hô lớn: “Bắn!".

Một loạt súng nổ, Ngô Đình Cẩn giũ người xuống ngay lập tức. Máu từ trên ngực chảy loang xuống chiếc quần trắng. Ngay sau đó viên chỉ huy đội hành quyết chạy đến gí khẩu súng colt 12 ly vào tai Ngô Đình Cẩn và bắn phát ân huệ. Bác sĩ pháp y chạy ra dùng ống nghe gí vào ngực Ngô Đình Cẩn nghe ngóng, vạch mắt ra xem, rồi quay lại gật gật đầu ra ý là Ngô Đình Cẩn đã chết.

Trung tá Luyện, Quản đốc Khám Chí Hòa ra lệnh cho mấy viên cai ngục cởi trói hạ xác Ngô Đình Cẩn đặt vào băng ca rồi khiêng vào Khám Chí Hòa để khâm liệm và cho thân nhân nhận xác mang về chôn cất. Xác Ngô Đình Cẩn được đưa về an táng tại nghĩa trang chùa Phổ Quang, tức nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế gần sân bay Tân Sân Nhất.

Sở sĩ gia đình an táng Ngô Đình Cẩn tại đây là vì Thượng tọa Thích Chí Dũng là người thân quen với gia đình họ Ngô. Sau năm 1975, khi quy hoạch lại TP HCM nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế ở chùa Phổ Quang được di dời về Lái Thiêu. Mộ Ngô Đình Cẩn cũng được đưa về đó nằm cạnh mộ của thân mẫu và 2 người anh là Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu

Như Phong

Monday, October 5, 2009

Mũ Đỏ VNCH với Cờ Vàng tham dự diễn hành trên đại lộ Champs-Elysées


Mũ Đỏ VNCH với Cờ Vàng tham dự diễn hành trên đại lộ Champs-Elysées và đặt vòng hoa tại mộ bia chiến sĩ vô danh dưới chân Khải Hoàn Môn tại Paris hôm 03/10/2009 do hội Union Nationale des Parachutistes tổ chức để mừng ngày lễ St-Michel (29/09).


















Sunday, September 27, 2009

Kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 8 của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009) - Đỗ Văn Phúc


Ngày giỗ thứ 8 năm 2009




Nhớ về người Tư Lệnh cũ
Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009)

Trong các đơn vị thuộc vùng 3 Chiến thuật, Sư đoàn 5 Bộ binh là đại đơn vị trấn nhậm một trọng điểm có tầm sinh tử đối với thủ đô Sài Gòn nhất. Do đó, các cuộc binh biến không thể thiếu sự đóng góp của Sư đoàn 5 BB. Đại tá Nguyễn Văn Thiệu nhờ vào chức vụ Tư lệnh SĐ5BB mà đã được mời tham gia vào cuộc đảo chánh lật đổ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Từ các căn cứ ở Bình Dương, chỉ cách Sài Gòn không đầy 30 ki lô mét, các đơn vị mang số 5 đỏ giữa ngôi sao trắng đã được nhanh chóng điều động về thủ đô chiếm cứ các cơ quan trọng yếu của chế độ. Trong tấm ảnh chụp chung của các Tướng lãnh tham gia đảo chính, Đại Tá Thiệu lúc đó còn ngồi một cách khiêm tốn ở hàng sau giữa những ông tướng có vẻ hùng hổ, tự đắc. Khuôn mặt ông Thiệu ngày đó còn gầy guộc, nhưng đã thấy trong đôi mắt nét sắc sảo, hứa hẹn một bước tiến chính trị rộng mở trong tương lai.

Là một sĩ quan cấp úy nhỏ nhoi trong đội quân cả triệu người, thì hiểu biết được bao nhiêu mà dám viết về một Tổng thống, một Tổng Tư Lệnh Quân đội! Nhất là về cố Tổng thống Thiệu, người đã được công chúng và nhiều sử gia nhận xét thiếu công minh cho đến khi các tài liệu dần dần được giải mật và công bố để trả lại cho ông phần nào sự công bằng.

Lần đầu tiên tôi được gần ông nhất là ngày lễ mãn khoá của Khoá 1 Sĩ quan hiện dịch Chiến Tranh Chính Trị vào đầu tháng 5 năm 1969. Sau đại lễ huy hoàng tại vũ đình trường, các tân thiếu úy được đưa vào hội trường mới xây phía sau lưng toà nhà Bộ Chỉ Huy. Nơi đây, chúng tôi sắp hàng một để lần lược bước đến nhận quà do Tổng thống trao tận tay. Đó là một cây bút bi hiệu Parker, trên đó có in huy hiệu của Tổng Thống bằng kim nhũ và một cửa sổ nhỏ để mỗi lần bấm thì hiện ra theo thứ tự các dòng chữ biểu hiện ba mục tiêu mà chính phủ của ông đã đề ra: xây dựng dân chủ, giải quyết chiến tranh, và cải tạo xã hội.

Nhận xét đầu tiên khi đối mặt vị Tổng thống là ông có khuôn mặt nhỏ nhưng rất thông minh, đôi mắt sáng sắc sảo, và nụ cười rất thân tình, cởi mở. Nhờ đó, những tân thiếu úy đã không cảm thấy khoảng cách quá xa đối với người lãnh đạo cao nhất của quốc gia và quân đội. Ông đã dùng cơm với chúng tôi sau khi ban một huấn thị ngắn và đầy ý nghĩa của một người anh đối với các em vừa chuẩn bị bước vào cuộc chiến gian nguy.

Vì đường công danh chính trị của ông phát xuất từ Sư Đoàn 5 Bộ binh, nên mối quan tâm của ông đối với sư đoàn này cũng có phần đặc biệt ưu đãi. Các tư lịnh sư đoàn thường là những vị thân tín của Tổng thống Thiệu và rất có tương lai trong binh nghiệp. Sau khi ra trường tôi may mắn phục vụ sư đoàn này, và đã từng hãnh diện khi nhìn thấy tấm hình của vị cựu Tư lịnh Nguyễn Văn Thiệu treo trong các phòng họp cấp Sư đoàn và Trung đoàn. Ngoài cái biệt danh “Sư Đoàn Nùng” (vì là hậu thân của một đơn vị toàn người Nùng từ miền Thượng Du Bắc Việt chuyển vào sau hiệp định Geneve), người ta còn gọi chúng tôi là “lính ông Thiệu”.

Thuyên chuyển qua Không Quân cuối năm 1971, tôi không được vinh dự tham chiến trận An Lộc vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, nên không được có mặt công kênh Tổng thống khi ông đến chiến trường ủy lạo binh sĩ giữa lúc tiếng súng còn chưa dứt ở các đồn diền cao su quanh thị trấn An Lộc đổ nát. Chúng tôi quý ông ở điểm này. Là một nguyên thủ quốc gia, ông có quyền hưởng những ngày tết an toàn ở thủ đô trong không khí hạnh phúc của gia đình. Nhưng không có Tết nào mà ông không tìm đến với các đơn vị tiền đồn hẻo lánh. Trong bộ ka ki bốn túi bình dị, chiếc nón jockey đen có phù hiệu hai con rồng, Tổng thống Thiệu đã mang lại cho những người lính chiến chúng tôi niềm an ủi sâu xa thể hiện một mối quan tâm mà hiếm khi thấy được ở những vị lãnh đạo khác.

Tính bình dị của ông, lần nữa tôi được thấy khi ông đến thăm Căn Cứ 20 Chiến Thuật Không Quân ở Phan Rang. Hồi đó là gần cuối năm 1972, sau khi chúng tôi hoàn tất việc tiếp nhận căn cứ từ Không Lực Hoa Kỳ. Một đại đơn vị tân lập của Không Quân Việt Nam đang thành hình, đi vào ổn định để tích cực tham gia chiến đấu ở Vùng 2 Chiến thuật.

Tổng thống đã đến với chúng tôi, ăn tối với các sĩ quan tại Câu Lạc Bộ trên ngọn đồi nhìn ra hướng bờ biển Ninh Chữ. Không một chút quan cách, lễ nghi, ông đã tươi cười trò chuyện cùng chúng tôi trong hơn hai tiếng đồng hồ. Ông đã trao cho Căn cứ một món tiền nhỏ và dí dỏm: “Thường là cấp nhỏ hối lộ cấp trên! Bây giờ thì tôi hối lộ các anh”. Số là Tổng thống còn bà mẹ già đang ở trong căn nhà gần bờ biển. Hàng ngày, các phản lực cơ của Không đoàn 92 Chiến Thuật cất cánh thường bay qua phía làng của Tổng Thống. Tiếng gầm rú của động cơ quấy nhiễu không khí yên bình của bà cụ, làm bà sợ hãi. Ông Tổng Tư Lệnh phải hối lộ cho thuộc cấp để yêu cầu bay chệch một chút, né cái làng Ninh Chữ kia ra.

Miền Nam mất.

Người ta đổ lỗi cho nhau. Người chịu nhiều tai tiếng là Tổng thống Thiệu.

Dĩ nhiên, ông không thể tránh phần trách nhiệm nặng nề đã làm mất miền Nam mà hậu quả là Cộng sản đã đưa đẩy mười lăm triệu đồng bào vào hỏa ngục, gần ba trăm ngàn đồng đội vào các trại tù khắc nghiệt mà hậu quả có hàng chục ngàn đã chết cách này hay cách khác, cùng với cả triệu người liều thân vượt biển mà con số bỏ thây làm mồi cho cá lên đến hơn một nửa.

Ông cũng bị tai tiếng về tài sản miền Nam, điển hình là 16 tấn vàng mà thực tế là đã do tên phản bội Nguyễn Văn Hảo trao lại cho bọn Việt Cộng. Lưu vong ra nước ngoài, ông đã sống ẩn dật, không ồn ào phô trương mà âm thầm chịu đựng búa rìu dư luận. Có thể ông có tài sản lên đến bạc triệu đô la. Nhưng nó đáng kể vào đâu nếu so sánh với con số hàng tỷ đô là mà bọn Việt Cộng thủ đắc hiện nay ?

Tôi cầu xin vong linh cố Tổng Thống tha thứ vì chính tôi cũng đã có lần viết thiếu công bằng về ông khi nhìn sự thất bại của miền Nam theo cách nhìn hạn hẹp của mình. Làm lãnh tụ một nước nhỏ, hoàn toàn lệ thuộc về kinh viện và quân viện của ngoại bang, thì việc quyết định không thể nào tự chủ được. Tổng thống Diệm cũng vì yêu nước, kiên cường trước áp lực Mỹ mà bị thảm sát. Tổng thống Thiệu đã vẫy vùng mà không thoát được. Ông cũng đã từng chứng tỏ sự can đảm, cứng rắn đến độ căng thẳng với Mỹ trong thời gian chuẩn bị Hoà Đàm Paris. Ông cũng từng đối đầu với tên cáo già Henry Kissinger và đã bị tên Do Thái này gán cho những từ ngữ không đẹp. Tựu trung, ông đã chứng minh bản lãnh, lòng yêu nước, trí thông minh đáng để chúng ta khâm phục hơn là trách cứ. Sự thành bại của miền Nam hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của chúng ta.

Duy chỉ có một điều chúng tôi trách ông. Đó là việc dùng người của ông thiên về cảm tình, sự trung thành hơn là dựa trên khả năng. Tiếc thay cho những anh tài không được trọng dụng, mà thay vào đó là những tướng lãnh thiếu kinh nghiệm chiến đấu, một số thì đầy lòng tham. Hậu quả là nạn tham nhũng đã làm suy giảm tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam. Quân Lực VNCH có hơn trăm vị tướng mà con số vị trong sạch tài đức chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mà ngay họ cũng chẳng ngồi lâu hay được trọng dụng đúng với khả năng. Khi thành lập đảng Dân Chủ, Tổng Thống Thiệu đã vì an toàn chính trị của mình mà làm tan vỡ khối đại đoàn kết quốc gia giữa các đảng phái chính trị và tôn giáo. Những năm đấu thập niên 1970, khi tình hình quân sự rất khả quan, phải chi ông chú tâm vào cuộc chiến bài trừ tham nhũng, nâng đỡ đối lập, phát huy thêm tự do để tăng cường sức mạnh quần chúng thì có hy vọng cải thiện phần nào cách nhìn của người Mỹ và cuộc chiến đã không kết thúc theo chiều hướng bi đát như đã xảy ra năm 1975.
Nói gì đi nữa thì công và tôi của một vị Tổng thống phải chờ thêm thời gian để phán đoán. Những cuốn sách do các chính khách, báo giới cả Mỹ lẫn Việt viết ra sau này, những tài liệu được giải mật đã đem lại phần nào sự xét đoán công minh về vị Tổng thống thứ hai của chế độ Cộng Hoà Việt Nam.

Hôm nay, nhân ngày giỗ lần thứ 8 của cố Tổng Thống, tôi mua chai Chivas Regal (loại rượu mà ông thường dùng), rót ra một chung để kính mời người cựu Tư Lệnh Sư Đoàn. Tôi vẫn quý ông về lòng ái quốc và những đức tính hiếm hoi trong vai trò người lãnh đạo quốc gia và nhất là người Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Lực VNCH.

Chúng ta sẽ nhớ mãi câu nói của ông:
    ”Sống mà không có Tự do, thì coi như đã chết”
    (To live without freedom is to have already died.)
Austin, tháng 9, 2009
Kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 8 của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009)

Đỗ Văn Phúc
oooOooo

Bài điếu văn của cựu Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp đọc trước linh cửu Cố Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU ngày 5/10/2001
    Kính thưa Phu Nhân Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU và gia đình,
    Kính thưa các cấp cựu Tướng Lãnh,
    Kính thưa các vị Quan Khách.
Hôm nay tôi được chỉ định đại diện Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến đây để thành kính nghiêng mình trước linh cữu của cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và cũng là vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Trước sự mất mát lớn lao của gia đình, QLVNCH chúng tôi xin trân trọng chia buồn cùng phu nhân và tang quyến.
    Kính thưa Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU,

    Từ đâu đó chúng ta đã từng nghe những lời như sau:

    "Như ngọn gió, ta từ đâu tới ?
    Ai trả lời câu hỏi giùm ta.
    Cõi trần một thoáng vút qua,
    Dẫu trăm năm tuổi ... chỉ là giấc mơ !"
Giấc mơ nào thì cũng vô cùng ngắn ngủi, vì đời người như gió thoảng qua, và nơi kiếp phù sinh có ai sống mãi bao giờ.

Xuất thân từ khóa I Sĩ Quan Võ Bị Huế năm 1948. Tiếp theo chuỗi thời gian dài, Tổng Thống đã phục vụ dưới cờ qua khắp các chiến trường Trung Nam Bắc và qua các chức vụ từ Trung Ðội Trưởng, Ðại Ðội Trưởng, Tiểu Ðoàn Trưởng, Tư Lệnh Sư Ðoàn, Quân Ðoàn đến Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng, và cuối cùng là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia rồi Tổng Thống nền Ðệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa.

Ðã 3 lần phục vụ tại Trường Võ Bị Sĩ Quan Dalat. Vào năm 1951, Tổng Thống là Sĩ Quan Huấn Luyện Viên của Khóa 5 Võ Bị Dalat, một khóa nổi tiếng trong lịch sử của Trường, đã đào tạo ra nhiều vị Tư Lệnh Sư Ðoàn và Quân Ðoàn cho QLVNCH.

Hai lần sau đó Tổng Thống đã đảm nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng của Trường nầy vào các năm từ 1957 và 1958 tới 1960.

Trong chức vụ trên, Tổng Thống đã dày công xây dựng nền tảng cho Trường Võ Bị từ ngày đầu tiên của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa - Từ cải tổ chương trình huấn luyện liên quân cho đến các nghi thức, lễ phục, phù hiệu, trong đó có phần lễ Truy Ðiệu Tử Sĩ đã tạo nhiều cảm xúc lưu truyền đến ngày nay. Tổng Thống cũng tổ chức lại phần quan trọng trong chương trình Văn Hóa, kéo dài thời gian huấn luyện 4 năm đào tạo, các sinh viên Võ Bị ra trường có trình độ cấp Ðại Học để đảm nhiệm được những chức vụ chuyên môn ngoài lãnh vực quân sự.

Ngày 19 tháng 6 năm 1965, Tổng Thống đã cùng các Tướng Lãnh trong Hội Ðồng Quân Nhân đứng ra đảm nhiệm trách vụ lịch sử, lãnh đạo Quốc Gia sau một thời gian đất nước bị xáo trộn và khủng hoảng khắp nơi. Ðể lấy lại niềm tin cho Quốc dân và Quân Ðội, Hội Ðồng Quân Nhân dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống đã đưa ra quyết tâm:
    1. Tôn trọng tinh thần dân chủ và
    2. Quân Ðội phải triệt để phục vụ toàn dân.
Từng bước một, Tổng Thống cùng toàn thể Chính Phủ chấn chỉnh an ninh trật tự, nêu cao tinh thần Quân Ðội, thực hiện cuộc bầu cử Quốc Hội với Bản Hiến Pháp mở đầu cho giai đoạn dân chủ căn bản của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa.

Và từ đó ngày 19 tháng 6 cũng trở thành Ngày Quân Lực và ngày này đã gắn liền tên tuổi của Tổng Thống cùng các vị Tướng Lãnh đã can đảm ra nắm quyền lo việc đất nước lúc bấy giờ.

Trong thời gian lãnh đạo, Tổng Thống luôn luôn có mặt tại các chiến trường, đặc biệt trong các trận chiến lớn lao và khốc liệt để thăm viếng, ủy lạo, khuyến khích tinh thần các cấp quân dân chống lại quân thù.

Mặt trận An Lộc, Trị Thiên như dầu sôi lửa bỏng, cả thế giới cùng theo dõi lo ngại, Tổng Thống cũng đã đến tận nơi để chia sẻ nỗi hiểm nguy và khổ cực của quân dân.

Giai Ðoạn từ 1971 đến tháng 4-1975 là giai đoạn hết sức khó khăn cho vị lãnh đạo như Tổng Thống - Mặt trận dồn dập tiếng súng không dứt, ngày đêm Tổng Thống phải theo dõi chiến trường, mặt khác Tổng Thống phải liên tục đấu trí hòa đàm trước những áp lực và dối trá của Ðồng Minh đã không muốn cho chúng ta tham dự trực tiếp vào bàn thảo Hiệp Ðịnh Ba-Lê.

Từng giờ từng phút, lúc nào Tổng Thống cũng tỏ ra điềm tĩnh và can đảm ra sức tranh đấu quyết liệt cho quyền lợi và sự mất còn của quốc gia Việt Nam cho đến giây phút cuối cùng.

Nhưng than ôi!

Làm sao được khi mà tay của Tổng Thống cũng như của các Tướng Lãnh ngoài mặt trận đã bị trói chặt, khi mà vận nước đã đến hồi đen tối và khi mà lòng trời cũng đứng về phía mạnh và hình như Ngài cũng đã quyết định bắt buộc dân tộc Việt Nam phải trải qua một kiếp nạn không thể tránh khỏi thì từ Tổng Thống cho đến 17 triệu dân Miền Nam cũng đành cam số phận mà thôi.

Từ khi ra nước ngoài, Tổng Thống cũng không ngại miệng tiếng thị phi vẫn luôn luôn cố gắng gặp gỡ nhiều cấp và cũng đã có nhiều dịp tâm sự cùng các cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat cũng như các chiến hữu khác, để khuyên nhủ anh em cố gắng giữ vững niềm tin, Quân Lực VNCH cố gắng giải phóng đất nước và mong anh em đừng bao giờ bỏ cuộc.
    Kính thưa Tổng Thống,
25 năm tại đất người, Tổng Thống thường khuyên anh em đừng bỏ cuộc nhưng hôm nay Tổng Thống đã bỏ cuộc ra đi vĩnh viễn về nơi an nghỉ. Lần bỏ cuộc nầy không có ai có thể trách cứ Tổng Thống được cả - Nghĩa Tử - Nghĩa Tận.

Thật vậy, từ ngày mất nước Tổng Thống đã bị nhiều nguồn dư luận lên án gần như đôi lúc quá khắt khe trong 2 việc là: Tổng Thống đã bỏ chạy không ở lại chiến đấu cùng anh em như lời đã hứa và sau đó là không lo gì cho đồng bào tỵ nạn cả.

Hôm nay ở đây nhắc lại, chúng tôi không đủ tư cách luận công hay giải oan vì lịch sử về sau sẽ nhận xét công bằng hơn - lịch sử bao giờ cũng khách quan và công bằng. Nhưng dù gì công việc làm đã qua và tinh thần tranh đấu bất khuất của Tổng Thống đối với Quốc gia, đối với đất nước thì quả những nguồn dư luận kia có phần khắt khe và có phần nào oan uổng cho người có lòng.

Việc Tổng Thống ra đi hay ở lại, đã là một sự trả giá xong xuôi giữa Cộng sản và Ðồng minh của chúng ta rồi. Hơn nữa sự ra đi của Tổng Thống là một áp lực đe dọa lấy cớ nếu Tổng Thống không đi thì Miền Nam không thể nào giải quyết được; Và đó là điều kiện căn bản Cộng sản đòi hỏi nhiều năm trên bàn hội nghị, và đó cũng là màn bịp bợm mua bán của BẠN và THÙ.

Về việc đồng bào tỵ nạn, có thể một vài tờ báo ngoại quốc diễn đạt lệch lạc và sai hẳn ý nghĩ của Tổng Thống. Làn sóng người Việt tỵ nạn lên đến hằng triệu người, cả thế giới phải điên đầu góp tay cứu giúp còn chưa xong, làm sao Tổng Thống có thể làm gì được khi thân phận chính mình cũng đang là một người tỵ nạn không biết về đâu.
    Thưa Tổng Thống,
Trong sự mất mát lớn lao của đất nước qua 25 năm nay, chúng tôi biết Tổng Thống là người chịu đựng đau khổ âm thầm nhất, người chịu đắng cay nhiều nhất, nhưng Tổng Thống luôn luôn cố giữ yên lặng nuốt trôi tất cả buồn giận của thế nhân. Tất cả mọi người không ai bao giờ muốn mình có lỗi cả, chỉ việc đổ lỗi cho vị lãnh đạo là mình được yên tâm rồi ? Ðến ngay cả những kẻ mưu mô bán đứng miền Nam Việt Nam cho Cộng sản cũng đã tạo ra dư luận là QLVNCH là bất lực và tham nhũng để mất miền Nam!

Chúng tôi biết trong nhà Tổng Thống, đặc biệt trong phòng đọc sách bị cấm không một ai được vào để ở đó Tổng Thống đôi lúc giam mình, yên lặng suy nghĩ hằng ngày hằng đêm.

Cũng có những buổi chiều ngồi bên hồ vắng, Tổng Thống đã lặng đi hằng giờ trầm ngâm suy tưởng cho chính mình và cho đất nước rằng biết bao giờ được thanh bình và hơn 70 triệu dân thoát khỏi ách Cộng sản để có được tự do no ấm.
    Kính thưa Tổng Thống,
Thôi, từ xưa tới nay, dễ mấy ai vội đem sự thành bại luận anh hùng?

Tôi xin đọc vài vần thơ dưới đây của một cựu sinh viên Sĩ Quan Khóa 12 Võ Bị Dalat để tiễn đưa anh linh Tổng Thống cùng cánh Hoa Dù...bay về nơi vĩnh cửu - Nơi đó có hằng rừng Quốc và Quân kỳ - Nơi đó có những Hiệu kỳ của 4 Quân Ðoàn cùng toàn thể Hiệu kỳ của các Quân Binh Chủng, Nha Sở thuộc QLVNCH đang chờ chào đón Tổng Thống:
    "Chúng ta, trước như sau, vẫn Ðúng,
    Dưới trời xanh, sừng sững hiên ngang.

    Lời thề xưa ... vẫn rền vang:


    - Không nề gian khổ, chẳng màng lợi danh !
    Ai luận việc không thành, cứ xét.
    Mặc cho đời suy tính thiệt hơn.
    Chúng ta ... không có gì buồn,
    Tiếc chăng,
    Tiếc chăng chẳng được chiến trường phơi thây !"
Hôm nay tụ họp nơi đây, trên 11 vị Tướng Lãnh, hàng trăm Sĩ Quan các cấp từ các nơi đổ về đứng bên cạnh Tổng Thống, nhưng chưa hết, xin Tổng Thống lướt qua hàng trăm vòng hoa chung quanh, gần như đầy đủ tên tuổi các Tướng Lãnh đều về đây tiễn đưa Tổng Thống.

Chúng tôi cũng xin nguyện trước linh cữu của Tổng Thống vẫn luôn ghi tạc nhớ lời khuyên của Tổng Thống là Không bao giờ bỏ cuộc cho đến lúc toàn dân Việt Nam được giải phóng và tự do, no ấm. Nếu không làm được chúng tôi cũng xin bỏ mình theo Tổng Thống nơi đất người.

Một lần nữa, chúng tôi xin cầu nguyện linh hồn của cố Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU ra đi được an bình và được mọi sự che chở trong vòng tay đầy ân sủng của đấng Từ Bi Toàn Năng Cao Cả trên trời.
    Muôn vàn tiếc thương - Nghìn thu vĩnh biệt.
Phan Hòa Hiệp
oooOooo




















Friday, August 14, 2009

Thư gửi Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu

Thưa Quý vị Trưởng Thượng.
Thưa Quý vị,

1. Áp lực từ khối Công giáo (Xóm Mới, Hố Nai, Gia Kiệm và Ngã Ba Ông Tạ).
2. Áp lực từ Hoa Kỳ.
3. Áp lực từ Hội đồng Quân lực.

Ngày 19.06.1965:
Chính phủ Dân sự Phan Khắc Sửu/Phan Huy Quát bị buộc giải tán trao chính quyền VNCH lại cho Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.

Ngày 11.03.1966:
Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh Quân đoàn I kiêm Tư lệnh Vùng I Chiến thuật bị triệu hồi về SàiGòn tước binh quyền, cách chức và bị quản thúc bởi Quân cảnh Mỹ, "Biến Động Miền Trung " bùng nổ.

Giữa hai thời điểm trên, ngày 01.12.1966:
Trung tướng Nguyễn Chánh Thi gửi đến Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu một Lá Thư.

Chúng tôi kính chuyển đến Quý vị tường lãm.
Đồng thời thỉnh ý Quý vị về nội dung Lá Thư có là căn nguyên tác động đến "Biến Động Miền Trung" tức "Vùng I Chiến thuật VNCH" do Tư lệnh Quân đoàn I Trung tướng Nguyễn Chánh Thi nắm binh quyền và trấn giữ.

Kính.
Nhóm LýTrầnLêNguyễn/Paris
____________ _________ _________ _________ _________ ______

Việt Nam Cộng Hòa
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Đà Nẵng, KBC 4109 ngày 01 tháng 12 năm 1965
    Trung tướng Nguyễn Chánh Thi
    Tư lệnh Quân Đoàn I kiêm Tư lệnh Vùng I Chiến Thuật

    Kính gởi Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu
    Chủ tịch Ủy ban lãnh đạo Quốc gia
Là một phần tử trong khối quốc dân Việt Nam, nhưng đồng thời là một quân nhân, tôi nhận thấy có bổn phận và trách nhiệm phải đề đạt lên Trung Tướng và Chính phủ những ý kiến của tôi, cũng là của đại đa số anh em cộng sự viên của chúng tôi tại Vùng I Chiến thuật, để góp phần vào công cuộc mà Trung tướng và Chính phủ theo đuổi.

Kính thưa Trung tướng,

Là một quân nhân bản tính bộc trực, tôi không dám đi sâu vào lãnh vực chính trị. Nhưng khi nghĩ đến dân tộc Việt Nam chúng ta đã sống 20 năm nay trong máu lửa và nước mắt, cái cảnh hàng vạn sinh mạng ngã gục trên khắp các chiến trường mà cuộc chiến tranh xâm lược gây nên không những chưa có cơ chấm dứt mà mỗi ngày càng khốc liệt, ác hại hơn, tôi xin được bạo dạn trình lên Trung tướng những ý kiến, nhận xét thô thiển mà tôi nghĩ là có thể góp phần xây dựng vào công cuộc Chống Cộng Cứu Nước hiện đang vào giai đoạn cực kỳ cam go và nguy hiểm.

Tại quốc nội, tình hình chiến sự ngày càng khẩn trương, chiến trường ngày càng trở nên ác liệt, khốc hại, các trận đánh lớn trong mấy tháng gần đây ở Vạn Tượng, Đức Cơ, Plei Me, Chu Prong, I Brang, Ba Lòng, Thạch Trụ, Tuy An v.v... là những sự kiện hiển nhiên. Nhất là trong trận Plei Me tôi được hân hạnh thừa lệnh chính phủ đến tận nơi quan sát trận địa, cổ võ binh sĩ, tôi nhận thấy rằng mặc dù bị tổn thất nhân mạng quá nhiều, bọn Việt Cộng vẫn tỏ ra ngoan cố, tiếp tục đẩy mạnh cuộc xâm nhập võ trang và tăng phần hoạt động phá hoại, liều mạng bám sát các chiến trường lớn, bất chấp cả những thiệt hại kinh khủng nhất mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh đã gây ra cho chúng.

Như Trung tướng đã rõ, theo cung từ của các tù binh bắt được trong mấy trận đánh lớn vừa qua, cũng như theo sự xác nhận của cơ quan tình báo bạn, số lượng cán bộ chính trị, quân đội chính
quy và vũ khí nặng đủ loại nguyên lai từ Bắc Việt và các nước thuộc khối Cộng Sản xâm nhập vào Miền Nam mỗi ngày mỗi nhiều hơn. Sự gia tăng xâm nhập này xảy ra đúng vào thời kỳ không những các cuộc oanh tạc của Không lực Việt Nam và Hoa Kỳ đã vượt quá xa giới hạn "trả đũa", đúng vào thời kỳ mà chiến sự ở Việt Nam được xếp vào hàng đầu trong các mối bâng khoăn,
bận tâm quan trọng của thế giới. Thái độ chịu trận liều lĩnh này của Cộng sản thật ra nằm trong kế hoạch do đế quốc Trung Cộng thúc đẩy, với mưu định thâm hiểm nhằm làm điên trí và ác hóa
cuộc chiến hiện tại, cốt sao tác động được trong các dân tộc trên thế giới, nhất là các dân tộc Đồng Minh, cái tâm trạng uể oải, chán nản, để dẫn đến một thái độ hiếu hòa tiêu cực, nếu không
nói là một thái độ đầu hàng.

Một mặt, trong kế hoạch phong tỏa của chúng, bọn Cộng sản tăng cường phá hoại cầu cống, trục lộ, làm gián đoạn và tê liệt các huyết mạch giao thông chính yếu. Sự chuyển lưu nông phẩm, sản
vật giữa vùng quê và thành thị tại nhiều nơi đã hoàn toàn bị ngưng trệ.

Một mặt khác, sự phồn thịnh giả tạo tại các thị trấn do mãi lực quá cao của khối đông đảo quân nhân Đồng Minh đã làm cho vật giá tăng vọt một cách đáng sợ.

Thêm vào đó, trong mặt trận kinh tế này, bọn gian thương Hoa kiều vô hình chung góp sức với Việt Cộng lũng đoạn thị trường, làm suy nhược và tiêu hao năng lực tài nguyên quốc gia, làm cho
đời sống người dân Việt Nam đã từ lâu bị khốn đốn bởi chiến tranh nay phải lâm vào tình trạng kiệt quệ, bi đát.

Một thiểu số gian manh đầu cơ được hưởng lợi trong lúc mức tiêu dùng của quần chúng bị giảm sút đến hai phần ba, nhất là đối với giới Quân nhân, chỉ trông vào đồng lương, đã phải sống một
cách chật vật, khó khăn.

Trong khi đó, trên lĩnh vực quốc tế, ngoài những hành lang ngoại giao, người ta đã đề ra vô số biện pháp để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Các nhà lãnh đạo, các chính khách của hầu hết các
quốc gia trên thế giới đi lại tấp nập từ phía này sang phía khác, rộn rịp tiếp xúc, cốt thăm dò những điều kiện để tiến đến bàn hội nghị.

Người ta đã tiên liệu một Hội nghị Genève kiểu mới, có thể là một tấn bi hài kịch như đã xảy ra năm 1954, một hình thức phản bội trắng trợn như kiểu Cộng sản đối với chiến sĩ kháng chiến, như kiểu Thực dân Pháp đối với những người Quốc gia chống Cộng.

Hiệp định Genève 1954 chỉ là văn kiện đoạn mại Miền Bắc VN cho đế quốc Cộng sản, để bọn chúng căn cứ vào đó xuất phát kế hoạch xích hóa toàn quốc và toàn bộ Đông Nam Á, hay xa hơn
nữa.

Tại bàn hội nghị bấy giờ, thành phần chính phủ VN chỉ là một hình thức ước lệ không hơn không kém, đóng vai trò một chứng nhân đau khổ, nhục nhã, một kẻ bị đặt trước một sự đã rồi, giờ
chỉ còn cầm dao tự cắt ruột mình làm hai.

Quá khứ đã làm cho chúng ta uất hận đến cực điểm khi nghĩ đến thái độ vị kỷ, bạc nhược và bất nhân của Thực dân Pháp với Chính quyền Quốc gia lúc đó, và chúng ta cũng đang bị dẫn dắt
vào vết xe cũ của bọn Thực dân tham tàn và bọn Cộng sản hiếu chiến.

Không có gì chua xót bằng, đối với một dân tộc như dân tộc anh dũng của chúng ta khi chịu để cho người ngoại quốc, những kẻ bàng quan, vì lợi ích riêng của họ hơn là lý tưởng Tự do hoặc
tinh thần nghĩa hiệp, quyết định vận mạng đất nước chúng ta.

Không có gì tủi hổ với tiền nhân bằng khi thế hệ này phải gánh chịu trách nhiệm về sự sỉ nhục đó.

Tôi thành khẩn tin rằng, hơn ai hết, Trung tướng Chủ tịch đã nhận thức điều đó, vì lẽ nhiều lần Trung tướng đã tuyên bố mạnh mẽ chống lại mọi cuộc điều đình, thương thuyết với Cộng sản
trong khi chúng ta là kẻ chiến đấu tự vệ (Thông điệp của Trung tướng Chủ tịch ngày 09.09.1965 gửi Quân nhân toàn quốc.)

Qua các cuộc du thuyết của các chính khách trên thế giới, chúng ta có cảm tưởng người ta đang mặc cả với nhau về nền Hòa bình Tự do cho xứ này theo quyền lợi riêng tư của người ta, mà không cần đếm xỉa đến vai trò của chính các nhà lãnh đạo, của chính phủ và quần chúng Việt Nam. Máu của người Việt Nam đã đổ quá nhiều rồi, vì vậy chúng ta là những vai chính chứ đâu phải là những kẻ phụ diễn, đánh thuê giết mướn cho chiêu bài này hay chiêu bài khác.

Quân Dân Miền NamViệt Nam đứng về phía Thế giới Tự do vì nghĩ rằng những giá trị tinh thần và lý tưởng ở phía này xứng đáng để chúng ta cùng sống chết, chứ nhất định chúng ta không
phải và không thể để bị xem như là một toán quân Lê Dương chỉ biết đánh nhau thuê vì đồng tiền và vô lý tưởng.

Tôi thiển nghĩ hiện tại qua hai chục năm binh lửa, không dân tộc nào trên thế giới ước mong Hòa bình bằng dân tộc Việt Nam, và trong khối dân tộc này không ai khao khát hòa bình hơn là người chiến sĩ chúng ta. Nhưng chúng ta nhất định chỉ chấp nhận nền Hòa bình trong Tự do và Danh dự, bởi vì chính những điểm đó mà bao chiến hữu quả cảm của chúng ta, kẻ cả những chiến hữu Đồng minh ở xa từ ngàn vạn dặm đến đây, đã hy sinh, đang và sẽ tiếp tục hy sinh những gì quý báu của đời họ.

Kẻ nào phủ nhận những điều này, kẻ đó còn tàn nhẫn hơn Cộng sản !

Vì mục đích Hòa bình và Tự do của Dân tộc, chúng ta sẵn sàng đến bàn hội nghị? Nhưng người chiến sĩ Quốc gia sẽ đến bàn hội nghị với uy thế toàn vẹn do quyền chủ động của mình mà có, vì
rằng trước sau chúng ta vẫn chiến đấu, chiến đấu để tự vệ một cách chính đáng.

Chúng ta có chính nghĩa, chúng ta có quyền đặt điều kiện cho đối phương, vì chính Cộng sản mới là bọn xâm lược. Nhưng trong hiện tình này, nếu chúng ta chấp nhận điều đình hoặc thương
thuyết với Cộng sản, tức là chúng ta chấp nhận đầu hàng Cộng sản và chịu làm nô lệ cho bọn quỷ đỏ bán nước.

Vì thế chúng phải làm sao để đánh bật bọn Cộng sản ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Tự Do, vì chính chúng đích thực là thủ phạm trong cuộc chiến tranh xâm lược hiện tại. Chúng đã điều động Quân đội từ Miền Bắc vào, cố tình chiếm nốt phần đất tự do này, thì không lý gì chúng ta và các bạn Đồng minh đã chiến đấu tự vệ và bảo vệ nền Tự do Dân chủ, lại phải đến bàn hội nghị với bọn phá hoại và cướp nước.

Chúng ta không thể thụ động nữa, phải có một hành động thật cương quyết và thích đáng, một đòn chí tử đánh vào trung tâm đầu não của bộ máy chiến tranh Cộng sản, hầu buộc chúng nếu
không muốn bị tiêu diệt toàn diện thì phải hủy bỏ kế hoạch xâm lược của chúng, ít ra chúng phải rút toàn bộ lực lượng vũ trang và chính trị của chúng ra khỏi Miền Nam Việt Nam. Đây không
phải là chỉ là điều kiện tiên quyết cho một cuộc hội nghị, mà chính là điều kiện sống còn của chúng.

Trong quan niệm chủ quyền quốc gia, các thân hữu Đồng minh không thể vì sự giúp đỡ và uy lực mà có thể ép buộc chúng ta trở nên những vệ tinh thuần thục xoay quanh những đường lối, chủ
trương của họ, trong khi họ nhân danh những người bạn đến giúp ta.

Về phần chúng ta, chúng ta chiếm cho kỳ được cái thế chủ động trong chiến cuộc này, để bọn Cộng sản phải thấy rõ chúng ta là đối tượng chính của chúng. Nhận định rõ điều then chốt này, nên trong trận Plei Me, nhất là trận Chu Prong vừa qua. Trung tướng đã cho lệnh Lữ đoàn Nhảy dù xông ngay vào vòng chiến. Hành động này đã chứng tỏ cho thế giới và các chiến hữu Đồng minh thấy rõ vai trò chủ động chiến trường vẫn là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Nhưng nếu chỉ giới hạn trong lãnh thổ qua phân hiện nay cũng chưa đủ, chúng ta phải giành cái thế chủ động toàn vẹn, làm thế nào để địch thủ của ta không có hậu tuyến hầu hầu xây dựng cơ
sở, dồn chúng đến cái hoàn cảnh buộc phải xin điều đình với chúng ta, chứ không phải là chúng ta an phận chờ lúc góp mặt trong cuộc hội nghị thương thảo việc mua bán giữa các chính khách quốc tế với nhau, đem chiêu bài Việt Nam làm con vật hy sinh cho sự tranh chấp quốc tế.

Kính thưa Trung tướng,

Vấn đề căn bản được đặt ra là làm sao cho Cộng sản thấy rằng chính chúng ta cũng gây nguy cơ cho chúng. Chúng muốn yên lành, muốn ngừng chiến, phải trực tiếp xin điều đình với chúng ta
trước đã. Để đạt được uy thế đó, hiện tại không có cách gì khác hơn là:

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA PHẢI ĐỔ BỘ LÊN MIỀN BẮC

Hành động này sẽ là một phản ứng sấm sét về phương diện chính trị lẫn quân sự, nói lên sự thực đáng hãnh diện là chính chúng ta định đoạt lấy số phận đất nước.

Hơn nữa, hành động đó còn là một dịp hãn hữu, là một cơ hội giúp cho bà con ruột thịt đau khổ của chúng ta ngoài ấy, đã chán ghét cùng cực chế độ Cộng sản, vùng lên đạp đổ ngụy quyền đảng trị độc tài, tạo sức vạn năng để có thể chỉ trong một thời gian ngắn, thanh toán được xâm lăng của đế quốc Trung Cộng hiếu chiến, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc bất khuất này.

Riêng phần quân nhân các cấp thuộc Quân Đoàn I sẽ vô cùng phấn khởi và hãnh diện được Trung tướng chỉ định làm bộ phận tiên phong trong cuộc hành quân Bắc phạt này. Chúng tôi sẽ sẵn sàng có mặt vào bất cứ lúc nào, tại bất cứ nơi đâu bên kia giới tuyến ngay sau khi nhận được mệnh lệnh của Trung tướng Chủ tịch và của Chính phủ.

Chúng tôi tin rằng Quân đoàn Bắc tiến sẽ được các đồng bào ruột thịt ngoài ấy hân hoan vui sướng đón chào như những thiên thần giải phóng đến cứu nguy họ.

Ta có những lý lẽ để tin rằng, trong ngục tù Cộng sản, giờ đây họ trông chờ chúng ta như nắng hạn trông cơn mưa rào, chúng ta sẽ là những thiên thần đến cứu vớt họ.

Một lần nữa tôi tin rằng, khi tiếp nhận đề nghị này, hẳn Trung tướng đã thông cảm và đã biết rõ.
Chúng ta không phải là những kẻ hiếu chiến, mà đây chỉ là kế sách để vãn hồi hữu hiệu, mau chóng nền Hòa bình, Tự do và Thống nhất trường cửu cho xứ sở.

Thêm một nhận xét nữa qua cuộc giao tranh lớn vừa xảy ra tại Tuy Hòa và Tuy An, bọn Việt Cộng có vẻ muốn tránh né hoặc cố tình giảm thiểu những đụng độ với Quân Lực VNCH, trong khi đó hầu như bọn chúng đã phải sử dụng toàn bộ lực lượng trong các trận xung kích với quân đội Đồng Minh như Plei Me, Chu Prong v.v... cốt gây cho lực lượng Đồng Minh một vài tổn thất,
bất chấp những sự thiệt hại kinh khủng dành cho bọn chúng.

Nếu điều ước đoán trên có phần nào đúng, thì thật bọn Cộng sản hiện đang áp dụng một chiến thuật mới, cực kỳ nguy hiểm nếu được thực hiện, vì đây chính là một thủ đoạn chính trị xảo quyệt và hữu hiệu trong việc chuyển hướng đối tượng chiến đấu của Cộng sản từ Quân lực VNCH qua phía Đồng Minh, rồi thì mưu lược này thành tựu, lúc đó quân dân và chế độ Miền Nam chúng ta sẽ trở thành phó sản thứ yếu của một thế lực quốc tế.

Loại đòn ngầm này thật thâm độc vì nó dễ rất dễ đánh lừa dư luận và dễ gây xúc động trong thâm tâm hiếu hòa của các dân tộc văn minh trên thế giới.Vì cuộc chiến tranh xâm lược phá hoại của Cộng sản, với bản chất tàn bạo, thô bỉ, sẽ bỗng dưng được thánh hóa dưới hình thức một cuộc chiến tranh giải phóng đánh đuổi ngoại nhân.

Dựa trên ước đoán đó, ngay tại Vùng I Chiến thuật, chúng tôi đã chỉ thị cho các đơn vị luôn luôn phải giành thế chủ động cho mọi chiến trường, kể cả trách nhiệm bảo vệ các căn cứ quân sự của
Đồng Minh. Chúng tôi chỉ xin yểm trợ bởi các lực lượng Đồng Minh khi xét ra cần thiết. Chiến dịch Ngũ Hoành Sơn nhằm thiết lập vòng đai bảo vệ an ninh xa cho căn cứ Không quân Đà Nẵng, và cuộc tấn công ồ ạt của Việt Cộng tại Thạch Trụ vừa qua là những chứng minh cụ thể cho sự quan tâm đó.

Kính thưa Trung tướng,

Đứng trước tình thế ngày một nghiêm trọng, những âm mưu có tính cách vị kỷ đã manh nha trong hậu trường chính trị quốc tế.

Số phận dân tộc chúng ta, một dân tộc kiêu hùng ngự trị trên dãy giang sơn cẩm tú này suốt bốn ngàn năm văn hiến, đang bị đe dọa vì một viễn ảnh hòa bình tạm thời và giả tạo để rồi rơi vào
ách nô lệ muôn đời của đế quốc Đỏ. Trước nguy cơ đó, chúng tôi thật tâm lo sợ sự phản bội lịch sử lại tái diễn.

Ở phương vị chỉ huy quân sự tại vùng giới tuyến chúng tôi mạo muội và bộc trực trình lên Trung tướng ý kiến trên đây với tất cả lòng nhiệt thành lo lắng đến tiền đồ an nguy, hưng phế của xứ
sở Việt Nam thân yêu này.

Kính mong Trung tướng thẩm định và gấp rút đặt vấn đề với các Đồng Minh của chúng ta, ngõ hầu chiến thắng được Cộng sản trên mọi lãnh vực, duy trì được giá trị tôn quý cho tinh thần
truyền thống quật khởi của Dân tộc.

Vạn nhất chúng ta không thành công chăng nữa, hành động này vốn cần thiết hơn bao giờ hết để góp phần hoàn bị thiên hùng sử của giống dòng Lạc Việt.

Vài lời tâm huyết, đạo đạt lên Trung tướng Chủ tịch duyệt định.


Trân trọng.
Trung tướng Nguyễn Chánh Thi.

Saturday, August 8, 2009

Những Hình Ảnh Một Thời Chinh Chiến Của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa



Ước mong những bức ảnh này giúp cho những vị từng khoác áo Chiến Binh Việt Nam Cộng Hòa, cho những người đã từng trải qua thời chiến chinh như một phần đời sẽ hồi tưởng lại những ngày xưa thân ái đó.

Những bức ảnh được đưa vào không theo thứ tự thời gian như một ký ức đã trổ nên hỗn loạn sau ngày "đổ vỡ toàn diện" (chữ dùng của Phan Nhật Nam)





Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH





Những ngày xưa thân ái . . .



















































Quân đổ vào biển lửa, dân rời xa quỷ đỏ, gặp nhau ở đây biết mai có còn gặp lại ?







Những ngày xưa thân ái ...


























Chinh chiến đã đi qua ... Những hình ảnh người Lính Việt Nam Cộng Hòa còn mãi với thời gian






























Bìa báo TIME số tháng 3-1975
Một vài hình ảnh của
Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt
Nơi đào tạo những Sĩ Quan ưu tú của QLVNCH
Trường của những người trai chọn binh nghiệp là lẽ sống, là lý tưởng


































Khóa Huấn Nhục trước khi trở thành tân binh VBQG
(Trắc định ý chí, nhẫn nại và thể lực. Nếu không vượt qua được sẽ bị loại)
























Nhảy Dù vào La Vang- Quảng Trị 1972






Thăm chồng ngay tại chiến hào




Biệt Động Quân bảo vệ Thủ Đô Sài Gòn Mậu Thân 1968

Những hình ảnh về binh chủng Pháo Binh QLVNCH



















Tướng Ngô Quang Trưởng










Người lính Biệt Động Quân dù bị thương nặng vẫn nắm chắc súng trong tay sẵn sàng đáp trả VC trong trận Đồng Xoài 11/06/1965


















Một đời khoác áo lính Cộng Hòa, một đời cho Nước Non




Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam


Người hùng tử thủ An Lộc, Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (TLSĐ5/BB) bắt tay Đại tá Tư Lệnh Phó SĐND
tại chiến trường An Lộc Hè 1972


Người ở lại Charlie, Trung tá Nguyễn Đình Bảo (đeo kính) tại mặt trận Damber tháng 8/1971








Tr.T. Bảo tại Ban Tham Mưu Hành Quân LĐ 3 Nhảy Dù Damber,Kampuchea tháng 8/1971


Đại tướng Đỗ Cao Trí


Ngũ Hổ Tướng Quân


Tướng Nhảy Dù Hồ Trung Hậu. Hè Đỏ Lửa 1972




Thiếu tá Nhảy Dù Võ Trọng Em




Nhảy Dù bảo vệ Sài Gòn, Xuân Máu Lửa Mậu Thân 1968


Đổ quân vào chốn tử sinh


Nhảy Dù nghỉ chân tại Chiến Khu D


Bạn bè ai còn ai mất sau mỗi chuyến lên đường ?




Y sĩ Dù tải thương tại chiến trường


Nhảy Dù trước Thánh Đường La Vang, Quảng Trị , Hè 1972









Jean Larteguy, nhà báo Pháp có mặt tại miền Nam Việt Nam trong cơn hấp hối của Saigon ghi lại như sau khi tới thăm một đơn vị Dù cố thủ tại Saigon ngày 28/04/1975:

“ . . . Họ không buồn rầu, và không tuyệt vọng. Họ điều động như thể đang dự một cuộc thao dượt. Đôi lúc họ còn cười với nhau, và liệng cho nhau những chai Coca-Cola Họ không nuôi một ảo tưởng về số phận của họ, về kết quả của trận đánh tối hậu nầy . Nhưng tôi có cảm tưởng là họ nhất định chiến đấu tới cùng, và sẽ tự chôn mình trong những đổ nát của Saigon.
Và những binh sĩ tuyệt vời nầy vẫn còn có được các cấp chỉ huy ở bên họ trong giờ phút sinh tử này Một trong các cấp ấy là một Đại tá. Tôi hỏi ông ta xem tình hình ra sao , ông trả lời:

- Chúng tôi sẽ chiến đấu, và chúng tôi sẽ là những người chiến đấu tới giây phút cuối cùng. Ông hãy nói cho thế giới biết rằng chúng tôi chết không phải vì Thiệu, vì Hương hay vì Minh. . .”

Lartéguy cũng được thấy tận mắt các sinh viên Trường Võ Bị Đà Lạt, lực lượng trừ bị chót của QLVNCH, tiến ra trận địa
"Và trong những bộ đồng phục mới, giày chùi xi bóng láng, các sinh viên anh dũng của Trường Võ Bị Đà Lạt đã đi vào chỗ chết. Chỉ còn thiếu có cái mũ diễn hành và đôi bao tay trắng".

Một đồng nghiệp của Lartéguy là Raoul Coutard đã thu được cảnh xuất quân bi tráng ngay vào máy quay phim và cố nén xúc động để hỏi các sinh viên sĩ quan:

- Các anh có biết là sắp bị giết chết không ?
Một thiếu úy trả lời:
- Chúng tôi biết chứ.
- Vì sao ?
- Tại vì chúng tôi không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản.

Sau đó Jean Larteguy trở về Pháp, và đã làm cho cả thế giới ngạc nhiên với những gì ông viết ra về những người lính VNCH
Người lính VNCH trấn giữ Thủ Đô Sài Gòn Xuân Máu Lửa Mậu Thân 1968





















































Cố Đô Huế Mậu Thân 1968