Monday, December 14, 2009

NHỚ LẠI CHIẾN TRƯỜNG XƯA: ĐỒNG XOÀI - BÙ NA - Đỗ Văn Phúc

Đỗ Văn Phúc

Quốc lộ 13 từ Sài Gòn qua Bình Dương, An Lộc, đến Lộc Ninh. Đến căn cứ Alpha là tiền đồn cuối cùng của Sư Đoàn 5 BB thì vượt biên giới Việt Miên đến thị xã Snuol thuộc tỉnh Kratie. Qua khỏi thị xã Bình Dương chừng cây số, đường 13 tách một nhánh tại Ngã Tư Sở Sao để thành Liên Tỉnh Lộ 13 [1]. Từ đây đi qua các quận Phú Giáo, Đồng Xoài đến ngã ba Bù Noi thì rẽ làm hai. Qua tây thì đến Phước Bình, tỉnh lỵ của Phước Long; sang đông thì chạy lên Ban Mê Thuột.

Đồng Xoài, quận lỵ của Đôn Luân, chỉ cách Sài Gòn 88 cây số. Nơi đây có một trại Dân Sự Chiến Đấu với một toán Lực Lương Đặc Biệt Việt Nam và nhóm Cố vấn Mỹ. Quân số chừng một tiểu đoàn. Ngày 9 tháng 6, 1965, đã khởi sự một trận chiến đẫm máu khi hai Trung Đoàn VC 292 và 293 và một đơn vị thuộc Công Trường 9 Cộng quân đánh bất ngờ vào quân lỵ và vây khốn quân tiếp viện gồm một tiểu đoàn Bộ Binh[2], Tiểu Đoàn 7 Dù và Tiều Đoàn 42 Biệt Động Quân. Sau mười ngày ác chiến trong thế cài răng lược, quân địch mới rút khỏi quận lỵ để lại 350 xác chết. Mức tổn của ta tương đối cao. Lần đầu tiên kể từ khi đổ quân tham chiến, quân Mỹ chịu tổn thất cao nhất với 7 tử trận, 12 mất tích và 15 bị thương.

Trên con đường huyết mạch đi Phước Long xuyên qua khu rừng nguyên sinh, chỉ có lác đác vài sóc Thương. Đường thì không được sử dụng thường xuyên. Đoạn đường đi Ban Mê Thuột thì coi như bỏ phế luôn. Bom đạn cày nát mặt đường nhưng không hề được tu sửa. Cây cỏ từ hai bên đã mọc lan qua mặt đường lởm chởm những đất đá và miểng đạn. Chỉ có xe làm be và lâu lâu có xe đò tháp tùng sau những chuyến mở đường của Bộ Binh để cho đoàn công voa chở tiếp tế cho Phước Long. Thời gian này, Hoa Kỳ bắt đầu xử dụng thuốc khai quang mở rộng khoảng trống từ con lộ vào thêm chừng 50 mét mỗi bên. Cây be được thợ rừng đốn ngã để nằm rải rác ở bìa rừng đã được Việt Cộng lợi dụng làm công sự để phục kích các đoàn xe của ta. Nằm an toàn dưới những súc gỗ có đường kính cả mét, thì chẳng có loại đạn thẳng hay vòng cầu nào tiêu diệt được chúng.

Gần cuối năm 1969, Tiểu Đoàn 4/8 được lệnh tăng phái cho Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh để hành quân mở đường từ Đồng Xoài đến Phước Bình, trên một quảng đường dài chừng hơn 50 cây số. Mỗi đại đội bộ binh cùng một chi đoàn thiết giáp chịu trách nhiệm hơn 15 cây số. Đại đội 16 do Trung Úy Nguyễn Quang Lộc chỉ huy và Chi Đoàn 1 Chiến Xa chịu trách nhiệm khúc giữa, từ Bunard trở lên hướng Bắc đến gần ngã ba Bù Noi. Đặc biệt tại Sư Đoàn 5, vào đầu tháng 5, 1969, được bổ sung 39 tân sĩ quan mới ra trường từ Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt; mỗi đại đội có 2 Đại đội phó: một hành quân và một CTCT. Anh hành quân thì được ấn định trong bảng cấp số đàng hoàng; còn anh lo về CTCT thì Bộ Tổng Tham Mưu chưa ghi vào cấp số. Phúc lúc đó là Thiếu Úy Đại đội Phó CTCT bên cạnh Thiếu Úy Hoàng Ngọc Việt đang thụ huấn gì đó ở Sài Gòn. Các Trung Đội Trưởng 1, 2, 3, và 4 (vũ khí nặng) tuần tự là các Chuẩn Úy Nguyễn Văn Mâu, Lô Đức Tân, Nguyễn Văn (?) Phương, và Trung sĩ Nhất người Nùng Vòng A Pẩu. Cũng thời điểm này, Mỹ còn duy trì ban Cố vấn ở cấp Tiểu đoàn, các cố vấn có khi lặn lội theo đại đội hành quân để liên lạc xin phi pháo yểm trợ khi cần. Đi theo Đại đội 16 là một Đại Úy Mỹ còn trẻ, xuất thân trừ bị Fort Benning, có quân vụ chưa tới 4 năm. Người phụ tá mang máy PRC-25 là Trung sĩ nhất Davidson, người da đen cao lớn vui tính. Anh Đại Úy Mỹ sặc mùi kỳ thị, tự cao. Khi nói đến chương trình học 4 năm của trường Võ bị Đà Lạt mà sau khi tốt nghiệp, phải mất thêm hơn ba năm mới lên Đại Úy; anh ta chỉ vào cái đầu nói rằng vì người Việt Nam có cái óc nhỏ, nên học hiểu chậm. Các sĩ quan trong Tiểu đoàn ghét anh này, nên mỗi khi anh ta theo đại đội nào, thì các Đại Đội Trưởng làm ngơ, chẳng cung cấp người phụ mang đồ, bắt anh ta tự đào hố cá nhân, tự làm lều mà ngủ. Khi di hành, dù anh ta than mệt, đuối sức, đại đội vẫn không cho lệnh nghỉ mà bắt anh ta phải ráng lết theo. Sau này, thấm biết điều đó, anh ta có vẻ dịu giọng lại.

Chúng tôi đóng quân trên ngọn đồi 289 gần một sóc Thượng ở Bù Nard nơi đã có trại A-344 Lực Lượng Đặc Biệt từ lâu. Ngọn đồi nhìn xuống một con suối nhỏ, nơi các cô gái Thượng chiều chiều ra tắm giặt. Hình như dân Thượng ở đây thuộc sắc tộc Stieng mà người Việt ta gọi hỗn là “mọi cà răng căng tai”. Tất cả dân Stieng, từ nhỏ đã dùng đá để mài hai hàm răng cho đến tận lợi; và xỏ lỗ hai giái tai rồi dùng những miếng gỗ tròn xuyên qua cho đến lúc nó rộng ra toang hoác. Trong cuốn phim “King Salomon’s Mines” do nữ tài từ Deborah Kerr và Steward Granger đóng cách đây hơn 60 năm, chúng ta thấy người dẫn đường da đen đã lôi ra từ cái lỗ khoét rộng ở dái tai một cái hộp tròn, trong đó đựng kim chỉ. Đủ biết cái lỗ này nó rộng ra sao. Đặc biệt, các cô gái Stieng đều để trần. Lính tráng chúng tôi rất khoái vào sóc để nhìn lúc các cô đứng giã gạo, hai bầu ngực săn chắc rung lên rung xuống nhịp nhàng hấp dẫn.

Lúc đầu, các cô chưa biết đến đôi kính mát. Thấy ai đeo kính mát, thì tưởng họ không thấy gì. Vì thế, khi xuống suối tắm, các cô cởi tuốt tuồn tuột và nô đùa tự nhiên trong khi đám lính đeo kính cứ ngồi thoải mái dựa gốc cây mà ngắm một cách thích thú. Sau này, thì các cô kéo nhau đi xa hơn trên thượng nguồn. Chúng tôi phải cấm lính ra suối vì sợ du kích Việt Cộng mon men bắn sẻ.

Cạnh bên sóc Thượng là một điểm dinh điền lập ra từ thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm quy tụ chừng trăm dân gốc đâu đó từ các tỉnh miền Trung. Những gia đình này không uống nước suối, có lẽ sợ bị bệnh sốt rét. Mỗi gia đình chứa nước mưa trong hàng chục cái chum lớn xếp thành hàng phía vách sau nhà. Về mặt tình báo, thì chúng tôi cũng có sự nghi ngờ đám dân dinh điền này có quan hệ với du kích, hoặc do huyết thống, hoặc vì bị khủng bố. Vì thế, Thiếu Úy Phúc luôn luôn nhắc nhở, ngăn ngừa binh sĩ vào xóm tán tỉnh các cô gái trẻ. Việc một vài quân nhân quen biết với các cô thợ may, ra xóm chơi rồi chiều tối không thấy về đơn vị thường xảy ra khi chúng tôi đóng quân ở các khu An Điền, Mỹ Thạnh, Ấp Nhà Việt dưới Bình Dương. Hôm sau, những chàng trai đa tình này chỉ còn là cái xác không hồn bị treo ngược đầu hay bằm nát phơi ngoài lộ.

Dù có đoàn công voa hay không, thì mỗi ngày các đơn vị phải đi mở đường từ tờ mờ sáng và chỉ trở về lúc trời chập choạng tối. Khi mặt trời còn ẩn nấp đâu đó cuối chân rừng, các xe thiết giáp đã gầm rú lên rồi chuyển bánh ra con lộ. Bộ binh đi theo đội hình hàng dọc trước và sau xe. Những ngày đầu thì còn dùng máy dò mìn rà theo mép lộ. Đi như thế thì cả ngày trời chưa hết khoảng đường trách nhiệm. Vì thế, chỉ rà những nơi nào có dấu hiệu khả nghi; còn ra thì leo lên xe chạy chầm chậm vừa quan sát mặt đường vừa chĩa súng vào ven rừng phòng vệ. Cứ cách 4, 5 cây số, để lại một trung đội giữ đường. Phúc luân phiên đi theo các trung đội để làm quen với lính.

Lúc này đang cuối thu, trời vào đông se lạnh. Một ca nhôm cà phê nấu vội bên đường chia nhau mấy thầy trò. Binh Nhất Nguyễn Văn Muôn, theo làm tà lọt cho Phúc từ mấy tháng nay có tài vừa di hành vừa nấu nước. Chỉ cần một cục C-4 bằng ngón tay út là đủ nấu sôi một lon gô nước. Ngoài Binh 1 Muôn, Phúc còn được thêm một Lao công Đào binh để mang đồ ngủ cho anh. Ông này tên Nguyên, cũng khá lớn tuổi, trước thuộc Điạ Phương Quân. Nguyên người gốc Bùi Chu, nên nói rất ngọng. “Để tôi rọn rường cho thiếu úy. Để tôi da nấy con rao …” Lao công đào binh là một hình thức tù khổ sai, phải mang vác đạn dược, làm các việc rất nặng nhọc ngoài chiến trường. Đến tối, phải ngủ quây quần trong hàng rào concertina có lính gác. Có người trước đây là Hạ sĩ quan, thậm chí có cả sĩ quan. Họ phải mặc áo quần nhà binh cũ, xé mất cổ áo, và trên lưng, trước ngực có viết nghệch ngoạc 4 chữ tắt LCĐB bằng sơn đỏ. Tội nghiệp, không may trúng đạn chết hay bị thương, họ chẳng hưởng được chút phúc lợi nào.

Phúc có xin phép Trung Úy Lộc để chọn được một toán gồm 6 Lao Công Đào Binh gốc các binh chủng Dù, Biệt Động và giao cho Trung Sĩ 1 Khai làm Trưởng Toán. Họ được trang bị AK-47 lấy được của địch và được huấn luyện để thành toán xung kích của đại đội với lời hứa hẹn sẽ giảm thời gian thụ án cho họ. Toán này đi theo Phúc lúc hành quân như một toán cận vệ. Trung Úy Lộc nghe đâu sắp được thuyên chuyển về Tiểu Khu Gia Định, nên cũng có phần thiếu tích cực trong đơn vị. Mọi sự đều giao cho Phúc lo liệu. Nhiều lần giữa trưa, ông giao quyền cho Phúc rồi kéo tên tà lọt đi bộ về Bù Nard chờ xe tiếp tế lên bày bàn nhậu nhẹt. Tuy nhiên, Trung Úy Lộc đối với Phúc khá tốt dù mới làm việc với nhau mấy tháng từ ngày Phúc về đơn vị. Không hiểu tại sao các sĩ quan dưới quyền không ưa ông ta. Đặc biệt là Chuẩn Úy Lô Đức Tân. Mỗi lần Lộc nói chuyện trước hàng quân, thế nào Tân cũng nháy mắt cho Phúc ngầm ra dấu. Hồi tháng bảy, hành quân Phú Hoà Đông, ông Tân làm sao đó, bị Lộc mắng: ”ông chỉ huy như con C.!”. Tân cười nhạt, ghé tai Phúc thì thầm: “Đ.M., Con C. làm sao biết chỉ huy nhỉ?”. Tân người Nùng, đi từ Hạ sĩ quan lên, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và rất gan dạ. Sau này, Tân về làm Trưởng ban 1 Trung đoàn thời Đại Tá Bùi Trạch Dần, đã giúp xoá cho Phúc lệnh phạt trọng cấm do Đại Tá Lưu Yểm, Tỉnh Trưởng Phước Long ký vì tính bướng bỉnh khi hành quân tăng phái cho Tiểu Khu.

Đến trưa, xé túi cơm sấy ra, lấy nước đổ vào ngang lằn đỏ. Anh nào siêng thì nấu chút nước nóng, lười thì cứ nước bi đông cho vào. Bóp bóp chừng năm phút là ăn được. Ngày hai túi cơm sấy ăn với 2 hộp thịt heo ba lát của Mỹ. Đó là tiêu chuẩn hành quân của nhiều đơn vị bộ binh hồi đó. Tuy nhiên, lính vẫn quen mùi vị quê hương là con khô sặc hơn. Sau này, khoảng giữa năm 1970, Cục Quân Tiếp Vụ có sản xuất thí nghiệm hai loại đồ hộp cho hành quân. Một là thịt heo kho; hai là gà kho. Ăn rất hợp khẩu vị, nhờ vị mặn của nước mắm và trái ớt khô kèm theo.

Phúc ăn cơm chung với Chuẩn Úy Mâu xong thì Muôn đã giăng cái võng dưới một gốc cây cao; ông Nguyên thì ngồi dưới chân võng kể chuyện đời mình. Trung Sĩ Khai thì dẫn toán Lao Công vào sâu trong rừng, chia nhau canh gác. Các chiến xa thì trấn giữ ở hai đầu, cũng chĩa nòng đại bác và đại liên 50 chênh chếch vào bìa rừng.

- Thiếu Úy biết, tôi đi lính từ hồi 17 tuổi, theo Bảo Chính Đoàn. Cũng đánh nhau với Việt Minh mấy năm trời chứ kém ai. Sau 54, vào Nam, họ chuyển qua Bảo An rồi thành Địa Phương Quân.

- Địa Phương Quân thì tương đối an toàn, gần nhà. Đào ngũ làm chi mà ra nông nỗi này?

- Tôi có mấy thằng con trai bỏ học đi lang thang theo bạn bè. Lần về phép, lo tìm cách giải quyết việc nhà, ở thêm mươi, mười lăm ngày. Thế là đơn vị báo cáo đào ngũ. Chứ già như tôi, chỉ ráng thêm vài năm là về. Ai ngu gì mà đào ngũ cho khổ thân.

- Ráng chịu đựng thôi. Nếu có dịp, tôi sẽ xin giảm án cho ông.

Chuyện hai bên tao ngộ chiến xảy ra vài lần. Thường buổi chiều, sau khi rút quân, đại đội để lại một Tiểu đội nằm lại ở gần căn cứ để làm an ninh xa cho đơn vị.

Một khuya nọ, từ cái loa của máy PRC-25 nội bộ có tiếng thì thầm

- 61, đây 11. Nghe rõ trả lời?

- 11, 61 nghe 5/5.

- 11 xin zulu, nghe nhiều tiếng động, rất nhiều, rất gần.

Trung Úy Lộc cho lệnh rút và báo cáo lên Tiểu Đoàn cũng như gọi các Trung Đội ứng chiến.

Chừng hơn nửa giờ sau, từ phía Bắc căn cứ có nhiều tiếng súng dòn dã, chốc chốc nghe tiếng nổ lớn của lựu đạn.

- 61, 11 gọi

- Nghe

- Đụng rồi, đêm tối quá, không thấy gì, không biết ai bạn, ai thù.

- Romeo về ngay. Cho biết sơ khởi?

Tiếng máy nghe không rõ, vì giọng nói vừa thì thầm vừa đứt quảng. Nhưng qua ống nghe, có nhều tiếng la hét, tiếng đạn liên hồi. Toán kích đã về đến ngoài hàng rào phòng thủ. Trung Úy Lộc và Phúc cùng chạy ra.

- Thẩm quyền, chúng nó đông lắm.

- Đông là bao nhiêu?

- Chắc cả trăm đứa. Tụi nó rượt theo, vừa ngáng chân, vừa vật lộn. Loạn cả lên nên tụi tôi chẳng kiểm soát gì được.

- Bây giờ điểm quân số xem thiếu thằng nào?

Lộc gọi Trung Úy Chi Đoàn Trưởng Chiến Xa xin cho vài xe để đi tìm binh sĩ thất lạc. Hai chiếc M-113 nổ máy di chuyển ra cổng. Phúc chỉ huy Trung đội 1 tháp tùng. Vừa ra khỏi căn cứ chừng trăm thước, đã tìm thấy lác đác các binh sĩ đang hớt ha hớt hãi chạy về. Quân sĩ phóng lên trái sáng, soi rọi cả một khoảng trống. Đó là một khoanh rẫy khô của người Thượng vừa cắt hái xong. Các cây con bị chặt chừa khoảng 5 tấc cách mặt đất là nguyên nhân mà lính vấp té và báo cáo rằng họ bị địch ngáng chân. Tìm một lúc thì gom đủ quân số, và thấy một xác địch nằm co quắp trên mặt đất cạnh cây súng AK-47. Anh ta mặc quân phục chính quy miền Bắc, áo quần xanh màu lá mạ. Phúc lục trong túi áo trên và tìm thấy một căn cước mang tên Đoàn Văn Son, quê Bắc Ninh. Không thấy Trung Úy Lộc nói gì để giải quyết cái xác tên Việt Cộng, vì sau các cuộc chạm súng trong rừng thì phe ta chỉ lo tải chuyển thi hài chiến hữu mình; còn với xác địch thì chẳng ai lo chôn cất, để lại giữa rừng phó mặc cho trời đất.

Hôm sau, khi đoàn xe tăng mở đường đi được chừng 200 mét, binh sĩ phát giác ra cái xác Đoàn Văn Son đã được dân Thượng đem ra bỏ bên ven đường vẫn trong tư thế như đêm qua: hai cánh tay giơ cao trên đầu, hai chân co quắp. Nhưng lần này thì xác đã cứng đơ và tái trắng, khác hẳn cái xác còn mềm và chút hồng hào đêm qua.

Đoàn quân qua lại mỗi ngày trên đường, quan sát sự thay đổi của một xác người từ lúc mới chết cho đến khi căng mọng lên, da thịt tái bầm, đôi mắt lồi ra, hai môi căng lên đen bóng; rồi nước vàng bắt đầu chảy ra, phần thì thấm vào áo quần tạo thành những vùng thẫm đen, khô cứng, phần thì loang ra ngoài mặt đất. Nhờ ánh nắng nên phần thân thể lộ ra bên ngoài áo quần khô lại, lớp da trở nên cứng và bên trong thì rỗng vì thịt đã rã tan thành nước và bị giòi bọ đục khoét. Phần bên trong lớp áo quần thì chỉ còn xương, khô dần theo ngày tháng. Mùi xác chết là một mùi kinh khủng nhất. Cách xa cả cây số, mùi này theo hướng gió bay vào mũi thì dù có xoa loại dầu gì cũng chỉ làm tăng thêm nồng độ của sự kinh hoàng. Các xe thiết giáp phải xẻ đường trong rừng để tránh đi gần xác chết. Nhìn thân xác con người tiêu hủy như thế, mới thấy thấm thía cái mong manh phi lý của đời người: Các người là cát bụi, rồi sẽ trở về với cát bụi.

Cho đến khoảng 20 ngày sau, thì chẳng còn mùi hôi thối nữa, mà chỉ là một bộ xương được bọc trong bộ áo quần thùng thình từ màu xanh là mạ, nay đã trở nên nâu đen. Đại đội cho lính gom chút thi hài còn lại đem vào chôn bên ven rừng, chẳng bia mộ gì cả.

Hành quân trong rừng, chúng tôi thỉnh thoảng vẫn thấy những bộ xương đã khô trắng hoặc bên đường, hoặc nằm sâu dưới đáy các hố bom B-52. Những cán binh “Sinh Bắc Tử Nam” khi ra đi vào Nam có ngờ đâu phơi xác trong vùng rừng sâu mà gia đình chắc chẳng bao giờ có thể tìm ra. Ai lo cho họ đây? Đồng chí của họ không lo được thì mong chi đối phương?

Phúc cũng có lần cưa một miếng xương ống tay nhặt đâu đó, xỏ vào dây thẻ bài đeo trước ngực. Đêm về, nhìn khúc xương trắng mà thấy bất nhẫn, tự hỏi: “Mình làm điều này có đúng không?”

Những người lính cấp nhỏ miền Nam khi ra đi chiến đấu không biết đến lòng căm thù. Họ thi hành một nghĩa vụ. Họ chưa phân biệt được cái chính nghĩa tự do và cái phi nghĩa của bạo tàn. Trước mắt họ là một chế độ, một hạnh phúc gia đình nhỏ nhoi cần bảo vệ. Vì vậy, họ cư xử với kẻ thù sa cơ rất nhân đạo. Nhưng dần dà, nhìn những cái chết của đồng đội sau khi lọt vào tay kẻ thù, thì họ trở nên dứt khoát hơn, nhưng vẫn chưa đến độ tàn nhẫn như kẻ thù. Một lý do đơn giản là vì họ có tín ngưỡng, tin vào luật đạo, luật nhân quả và nền đạo đức ngàn năm thấm sâu trong dòng máu Việt Nam. Phúc thì hiểu về Cộng Sản nhiều qua hai năm được dạy về chính trị ở quân trường, và mối oan cừu của người con mất cha mà anh chưa hề thấy mặt. Tuy nhiên, anh vẫn không xem người lính Việt Cộng là đối tượng để anh trả mối thù nhà.

Trận tao ngộ chiến vừa qua tuy ở mức độ quá nhỏ để phải quan tâm. Nhưng nó như một dấu hiệu báo trước những sóng gió tàn bạo sắp xảy ra. Chiến trường vẫn có những hiện tượng như thế. Rừng Phước Long bạt ngàn là nơi ẩn núp lý tưởng cho các đại đơn vị Cộng quân. Họ có thể bôn tập cấp trung đoàn một cách lẹ làng để mở cuộc tấn công chớp nhoáng vào các căn cứ, tiền đồn, điểm đóng quân của ta rồi rút an toàn vào rừng sâu trước khi quân tăng viện đến kịp.

Một ngày như mọi ngày.

Xe đò từ Sài Gòn đi Phước Long vẫn thỉnh thoảng đi qua vào lúc xế trưa, lúc mà quân mở đường đã yên vị. Phúc thường cho lính ra đón xe đò xin báo mới để biết tin tức hậu phương và đọc truyện giải trí. Hành khách cũng thương lính, luôn luôn cho những ổ bánh mì thịt thơm dòn, hoặc những chai nước ngọt. Đám dân làm be thì lâu lâu tặng cho các sĩ quan chai rượu với một lời yêu cầu là không xin bắn pháo binh bừa bãi vào khu khai thác gỗ. Thực ra, các sĩ quan ai cũng biết các xưởng mộc ở Đồng Xoài là cơ sở làm ăn của các quan to súng ngắn chóp bu ở Quân Đoàn 3. Bố anh nào dám gây rắc rối. Biết điều thì thỉnh thoảng dân be cho một khúc cẩm lai thật đẹp. Xưởng mộc cưa thành các lát mỏng rồi dùng xe GMC tiếp tế chở về Sài Gòn làm các bộ sa lông tủ bàn gia dụng … Loạng quạng thì …. Đi đâu nữa? ở đơn vị bộ binh là đã ra đến tận hết gian nan rồi! Nhưng dù sao đối với người lính hiện dịch thì vẫn còn con đường tiến thân binh nghiệp chứ.

Gần 10 giờ sáng, khi chiếc xe M-41 chở toán lính của Trung Độí 1 vừa chạy qua một khúc quẹo gắt, thì hai tiếng nổ vang lên dữ dội

Oành! Oàng!

Chiếc M-41 trúng đạn. Một trái B-41 bắn vào xích phía trái; quả đạn thứ hai trúng ngay pháo tháp làm những người lính văng bắn ra ven đường. Cũng may là quanh pháo tháp lúc đó chỉ có bốn người bám vào. Người Trung Sĩ thiết giáp, Trưởng xa, và một lính bộ binh chết ngay tại chỗ, những anh khác thì bị thương đang cố nhịn đau lết vào ẩn cạnh các bờ đất để dược y tá băng bó.

Tiếng súng AK và trọng liên thi nhau nổ dòn. Đạn cày tung toé khắp nơi trong lúc chiếc xe thứ hai vừa trờ tới. Quân sĩ nhảy nhanh xuống xe tìm nơi bố trí để kháng cự. Cùng một lúc thì có tiếng súng phía sau. Thế là cả đội hình lọt vào ổ phục kích trên một tuyến dài chứng nửa cây số.

Phúc và toán cận vệ LCĐB nhảy kịp, nấp sau một mô đất cách Trung Úy Lộc chừng 20 thước. Nhưng thế đất phía trước là một gờ cao hơn mặt đường hai mét. Cách đó không xa là các súc gỗ be lớn mà Việt Cộng khoét hố bên dưới chong súng ra bắn vào quân ta. Súng địch bắn rát áp đảo một lúc thì có vẻ rời rạc, chờ xem động tịnh của ta. Thiết giáp xoay nòng bắn vừa đại bác vừa đại liên 50 vào các điểm khả nghi để lính bộ binh mò mẫm bò lên. Họ không tiến xa được vì trống trải quá. Cứ dợm đứng lên là đạn bên trong vãi ra. Thêm vài anh bị thương nhưng không nặng lắm.

Cố vấn Mỹ đang bò lên bên cạnh. Lộc quay qua hỏi:

- Cho phi yểm ngay được không?

- Ông muốn ưu tiên vào đâu?

Lộc lật bản đồ, chấm vài toạ độ dọc theo mé rừng

- Bắn vào đây trước. Tôi cho quân lui ra rồi bắn theo hướng này, kéo dài trên cả tuyến.

- Tôi gọi pháo tầm xa của Big Red One [3] đây.

Không đến mười lăm phút sau, hàng trăm quả đạn bắt đầu dội xối xả vào đội hình địch. Đây phải là pháo 155 ly, vì bắn từ một căn cứ hoả lực Mỹ ở Phú Giáo. Đạn nổ từ xa rút lại gần. Từ trong rừng rải dài ra đến bìa rừng và sau cùng là dọc theo con lộ; chỉ cách bộ binh chúng tôi chừng 50 mét. Nắm mọp dưới lòng đường mà vẫn thấy toàn thân như bật lên mỗi lần có tiếng nổ. Khi cố vấn Mỹ loan báo dứt pháo yểm. Trung Úy Lộc ra hiệu cho Chuẩn Úy Mâu dẫn trung đội tiến lên. Người khinh binh đầu tiên vừa nhổm dậy thì một tràng AK bắn dòn dã quật anh ta ngã ngửa ra sau. Phúc bò lên vạch một lỗ trống ngay bụi cây, cố quan sát về phía súng nổ. Mâu lanh trí, cho một người lính máng chiếc nón sắt lên một khúc củi, nhô lên nhô xuống vài lần. Một loạt đạn lại vang lên. Chốt địch không xa mặt đường. Chúng nó nằm dưới một súc be lớn nơi mà các trái đạn pháo đã không bắn vào vì sợ quá gần quân bạn. Phúc chạy lom khom trởi lại, leo lên một chiếc chiến xa:

- Ông nhắm vào cây gỗ kia, chừng 2/3 từ bên trái, bắn cho một phát sát đất giùm.

- Miểng đạn có thể văng ngược lại trúng bộ binh đấy.

- Không sao. Một hai trái càng tốt.

Trong khi xạ thủ đại liên bắn xối xả vào để ngăn địch ngóc đầu dậy, anh pháo thủ xoay nòng, nhắm vào đúng điểm vừa chỉ.

Ấm!

Cả súc be rung lên, đất đá miểng đạn tung toé bay rào rào qua đầu. Phúc thẩy thêm một quả lựu đạn rồi vẫy tay cho toán cảm tử cùng nhào lên.

Xoay ngang cây M-16, một tay nắm chắc “gỗ” [4] che nòng, tay kia bấm cò; Phúc chạy ào vào ngay chốt địch. Ba tên vừa đứng dậy, đưa hai tay lên trời, nhưng đạn đã ra khỏi nòng bắn văng phần sọ phía trên của một tên địch. Hai tên còn lại chưa kịp nhảy lên tẩu thoát cũng hứng nguyên những loạt đạn của đám cảm từ LCĐB. Bên sườn phải, Trung Đội 1 cũng đã xung phong cố chiếm lĩnh trận địa nhưng bị khựng lại vì còn một số địch cố thủ dưới các gốc be mà đạn pháo chỉ đủ sức làm trầy trụa một phần bên trên. Vài binh sĩ ngã xuống, những người còn lại phải bò từng mét theo các thân cây la liệt trên đất; dò dẫm quan sát từng chút một để định vị trí ẩn núp của địch. Phúc trườn nhanh vào một gốc be và may mắn không dính đạn.

Sau cả tiếng đồng hồ mà không tiến thêm được bao nhiêu; Trung Úy Lộc quyết định cho lui lại để xin phi yểm.

- Ông Phúc nói thằng Mũi dài [5] cho Cobra lên bắn rốc két mới ăn chắc. Nếu cần cho bom napalm bắn cháy gỗ mới hun hết mấy con chuột này. Cứ giằng co thế này đến chiều chưa giải toả được đâu.

- Sao ông không kêu mấy con cua sắt lên? Mấy chả cứ rập rình sau lưng mình không hà.

- Cua mình chịu B-41 [6] không nổi đâu.

- Nó mình đồng da sắt mà chịu không nổi; còn xương thịt lính mình chắc cứng hơn?

Những đức tính cần thiết của người chỉ huy ngoài mặt trận là bản lĩnh, dứt khoát và can trường. Khi lâm trận, những người lính nhìn vào cấp chỉ huy của mình để có được lòng tin trước hiểm nguy rằng mọi việc sẽ tốt đẹp. Họ gửi gắm sinh mạng của mình vào chỉ huy và nghĩ rằng nơi nào gần người chỉ huy là an toàn nhất. Vì thế, dù phân vân, chưa biết phải làm gì; người chỉ huy cũng phải biểu lộ một thái độ dứt khoát; không bao giờ được phép nói rằng: “tôi không biết” trước mặt binh sĩ. Có ai trên đời mà không cảm thấy run sợ trước cái chết? Nhưng người can đảm là người biết che đậy, chế ngự sự sợ hãi. Trong thực tế, khói đạn, mùi thuốc súng cũng góp phần làm cho người ta hăng lên mà quên đi trong phút chốc sự sợ hãi. Đây là trận đánh có tầm vóc đầu tiên mà Phúc phải đương đầu kể từ ngày ra đơn vị. Phút giây này, không còn thì giờ nghĩ ngợi cho cá nhân, gia đình; mà trước mắt là những người lính đang nhìn vào, chờ đợi những quyết định dứt khoát của mình như một tấm gương để họ vững tin mà tiến lên.

Phúc nói với cố vấn Mỹ đề nghị của Đại Đội Trưởng, xin trực thăng Cobra bắn vào các chốt địch cũng như phản lực ném bom vào rừng đề phòng địch tập trung quân để tấn công.

Hai phi tuần Cobra thay nhau bắn rất chính xác theo hướng dẫn của bộ binh. Từng súc gỗ bật tung lên để lộ những toán địch cho bộ binh tưới đủ các loại đạn vào.

Khi phi cơ rời vùng, quân sĩ hai Trung Đội 1 và 2 xung phong lên với sự yểm trợ của thiết giáp. Một số địch sống sót vọt ra khỏi hố tháo chạy vào phía rừng chỉ để hứng bom từ các phản lực cơ F-4 của Hạm đội 7. Phúc đứng trên một cây be lớn, nhìn xuống bên này thì thấy mấy đôi chân lòi ra và còn giật giật trong khi phía bên kia của cây be thì những chiếc đầu chỉ còn loang lỗ óc và máu. Lôi xác chúng ra thì thấy những thân hình tương đối tròn trịa, trắng trẻo. Chúng mặc quân phục chính quy Bắc Việt; Có đứa nón tai bèo, có đứa nón cối. Trong túi áo có người còn sót lại lá thư tình của bạn gái hay vợ từ một địa danh miền Bắc kèm theo một tấm ảnh nhỏ chừng hai lóng tay của một cô gái quê mộc mạc nào đó. Phúc cho thu hết tất cả những tài liệu cá nhân này để chuyển về ban 2 Trung Đoàn khai thác.

Lúc đó đã quá trưa, nhưng không ai thấy đói. Lính tráng đang hăm hở đi thu nhặt chiến lợi phẩm và đếm xác địch.

Trung Úy Lộc ra lệnh cho Trung Đội 2 tản sâu vào trong rừng làm an ninh xa. Những thân cây đang cháy đổ nhựa khét lẹt cùng mùi thịt nướng. Toán quân y lo băng bó cho thương binh, chờ trực thăng đến bốc đi. Trung đội 3 không chạm súng thì được lệnh di chuyển đến thay thế cho Trung độ 1 rút ra nghỉ ngơi ngoài mặt lộ.

Vài chiếc xe đò đã liều mạng chạy qua khoảng đường vừa có chiến cuộc. Tài xế dừng nhanh trong chốc lát để trên xe ném xuống cho binh sĩ những thức ăn có sẵn trong tay. Muôn đem đến cho Phúc một khúc bánh mì kẹp chả và chai xá xị. Với hai bàn tay đầy bụi đất và dính cả máu thù, Phúc cầm lấy miếng bánh mì nhai ngon lành. Anh Cố vấn Mỹ cũng lết đến bên cạnh, nói những lời khen ngợi.

Trung sĩ Khai đưa bốn ngón tay ra dấu:

- He kills four VC; I kill two. (Ông ấy giết 4 tên Việt Cộng, tôi giết 2 tên)

- You are number One! How many VC killed in total? (Các anh ngon lành nhất. Có bao nhiên VC bị giết?)

- We are counting. Don’t know yet. Must be hundreds. (Đang đếm, chưa rõ. Nhưng có thể cả trăm)

- Including VC killed by artillery and air strike? (Tính luôn bọn bị phi pháo bắn chết?)

- Sure. (Chứ sao)

Chưa tới hai tuần sau, Đại Đội 14 do Trung Úy Lê Văn Bôn chỉ huy cũng bị phục kích gần Bù Noi trên một tuyến dài hơn và quân địch đông đảo hơn gấp bội. Cả Thiết đoàn và Tiểu đoàn phải tăng viện giải cứu. Phi pháo được xử dụng cật lực từ mờ sáng cho đến trưa, thiêu cháy cả khu rừng để đánh bật quân địch.

Ba tuần trước Tết Âm Lịch, Phúc bị trúng thương cũng trong một trận phục kích. Đạn xuyên qua giây nịt đạn, nịt quần và khoét một lỗ gọn gàng bằng đầu đũa ở bụng. Nhanh đến độ Phúc không hề cảm nhận rằng mình bị bắn cho đến khi nằm sấp xuống tránh loạt pháo thì mới thấy lành lạnh. Kéo trật chiếc quần trận xuống, Phúc chỉ thấy màu xám của lớp ruột bên trong đang đùn ra, không một giọt máu. Muôn thấy vậy hoảng hốt la lên:

- Thẩm quyền bị rắn cắn. Y tá đâu, tải thương ngay.

Muôn cứ loanh quanh, mếu máo:

- Ông Thầy ơi. Ông đừng đi nghe

- Đi đâu mà đi, mày? Chỉ mới gãi ngứa thôi.

Kinh nghiệm ngoài chiến trường cho thấy những người bị thương tuy máu me dầm dề mà lại không nguy hiểm tính mạng. Còn những người bị các vết thương không thấy máu, tỉnh táo như không có gì, lại rất dễ ra đi. Y tá Đại đội xem vết thương rồi trấn an:

- Thẩm quyền an tâm, nhờ cái dây TAB [7] nó cản bớt, nên đạn không vào sâu. Trúng bụng thường xuất huyết nội, nhưng không nguy hiểm nếu tải thương nhanh.

Nghĩa, hiệu thính viên Đại Đội nhanh nhẩu báo về Tiểu Đoàn và cùng lúc kêu Cố Vấn Mỹ xin trực thăng.

Mười phút sau, Phúc đã nằm trên băng ca do hai người lính Mỹ lúp xúp chuyển từ Trực thăng vào phòng mổ của Bệnh viện 3 Dã Chiến giữa lúc Việt Cộng đang nả hàng loạt đạn hoả tiễn 122 ly pháo kích vào các dãy nhà tiền chế của Bệnh Viện.

Trong giây phút mơ màng giữa chết và sống, đôi mắt mệt mỏi của Phúc nhìn thấy lờ mờ hàng chục khuôn mặt các bác sĩ và y tá vớí các đôi mắt xanh đang cúi xuống và những mũi kim lụi vào mạch máu cườm tay. Rồi Phúc thiếp đi vào hôn mê để hôm sau, khi tỉnh dậy thấy mình nằm trong một căn phòng mát lạnh, cả hai tay, hai chân bị cột vào thành chiếc giuờng nệm trắng toát; trên bụng dày cộm lên một đống gạc và đặc biệt, bên cạnh là một cô ý tá Mỹ xinh đẹp đang ngồi thấm nước chiếc khăn cũng trắng tinh để lau mặt mũi và cả thân thể tồng ngồng của anh.

Đỗ Văn Phúc

[1] Có một khúc rẽ chuyển thành Quốc Lộ 14

[2] Đồng Xoài nằm trong vùng trách nhiệm của Sư Đoàn 5 BB. Nhưng sách báo Hoa Kỳ nêu ra tin tức khác nhau về đơn vị Bộ Binh; khi thì Sư Đoàn 7, khi thì Sư Đoàn 5.

[3] Biệt danh của Sư Đoàn 1 BB Hoa Kỳ.

[4] Phần che nòng và báng súng của M-16 làm bằng hợp chất nhựa.

[5] Ám chỉ mấy anh cố vấn Mỹ.

[6] Súng phóng hoả tiễn RPG-7, dùng loại đạn B-41 nổ toả nhiệt độ cao đủ làm chảy lớp thép của xe thiết giáp để một ngòi nổ phụ xuyên vào trong gây sát thương, trong khi B-40 chỉ làm trầy trụa bên ngoài.

[7] Giây nịt lớn, dùng đeo các bao đựng đạn, bi đông, dao găm, súng lục. Thường gọi là Pistol Belt.

Wednesday, November 4, 2009

Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm



Suy Tôn Ngô Tổng Thống

Ai bao năm từng in gót nơi quê người
Cứu đất nước thề tranh đấu cho tự do
Người cương quyết chống cộng
Bài phong kiến bóc lột
Diệt thực dân đang rắt gieo tàn phá

Bao công lao hồn sông núi ghi muôn đời
Gương hy sinh ngàn muôn tiếng không hề phai
Toàn dân quyết kết đoàn cùng chung sức với người
Thề đồng tâm xây đắp cho ngày mai

Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Xin thượng đế ban phước lành cho người

Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống
Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm
Toàn dân Việt Nam quyết theo Ngô Tổng Thống
Chung đắp xây nền thống nhất sơn hà





Sunday, November 1, 2009

CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NỀN ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA

    TÀI LIỆU LỊCH SỬ - CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ NỀN ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG HÒA

Ls Nguyễn Văn Chức

Hồi 4:30 trưa thứ sáu, mùng 1/11/1963, nghĩa là khoảng 3 giờ sau khi tiếng súng đảo chánh bắt đầu nổ, TT Diệm gọi điện thoại cho đại sứ Lodge. Và đây là nôị dung cuộc nói chuyện lần cuôí cùng giữa vị Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam vơí viên đại sứ Mỹ.

Tổng thống Diệm: Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ tin tức để có thể trả lời câu hỏi của ngài. Tôi có nghe thấy những tiếng súng nổ, nhưng không biết rõ thực hư. Vả lại bây giờ là 4:30 sáng tại Hoa Thịnh Đốn và chính quyền Mỹ có lẽ không thể đưa ra một ý kiến về vấn đề này.

Tổng thống Diệm: Nhưng chắc chắn ngài cũng có những ý niệm đại khái về vấn đề này. Dù sao, tôi cũng là một vị quốc trưởng. Tôi đã cố gắng làm bổn phận trên tất cả.

Đại sứ Lodge: Dĩ nhiên ngài đã làm bổn phận của ngài. Như tôi đã nói với ngài lần đầu tiên sáng hôm nay, tôi khâm phục sự can đảm của ngài và khâm phục sự đóng góp to lớn của ngài đối với quê hương của ngài. Không ai có thể lấy đi cái công của ngài đối với tất cả những gì ngài đã làm. Nhưng bây giờ tôi lo ngại cho sự an toàn bản thân của ngài. Tôi được báo cáo rằng những kẻ đảm trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho ngài và em ngài bình yên đi ra ngoại quốc nếu ngài từ chức. Ngài có nghe thấy nói điều đó không?

Tổng thống Diệm: Không (ngừng một lúc, TT Diệm nói tiếp) ngài có số điện thoại của tôi.

Đại sứ Lodge: Vâng. Nếu tôi có thể làm được điều gì cho sự an toàn bản thân của ngài, thì xin ngài cứ gọi tôi.

Tổng thống Diệm: Tôi đang tìm cách lập lại trật tự.

Về cuộc nói chuyện nói trên giữa TT Diệm và đại sứ Lodge chúng ta chỉ cần ghi nhận ba điểm sau đây:

Thứ nhất: cái bất lương của đại sứ Lodge. Ông đã dối trá khi nói với TT Diệm: "Tôi nghĩ rằng tôi không được thông báo đầy đủ tin tức để có thể trả lời câu hỏi của ngài. Tôi có nghe thấy tiếng súng nổ, nhưng không rõ thực hư".

Thứ hai: cái ngu dấu đầu hở đuôi của nhà ngoại giao được coi là thượng thặng của Mỹ. Thật vậy, ở câu trên, đại sứ Lodge vừa nói với TT Diệm rằng ông chỉ nghe thấy tiếng súng nổ, mà không rõ thực hư. Thì ngay câu dưới ông lại nói với TT Diệm rằng: "Tôi được báo cáo rằng những kẻ đảm trách những việc đang xảy ra đề nghị để cho ngài và em ngài đi ra ngoại quốc nếu ngài từ chức".

Thứ ba: cái khí phách của TT Diệm. Đến phút chót, và trong cơn nguy khốn, trước mặt ngoại bang, ông vẫn giữ được thể thống của một người lãnh đạo quốc gia, và tư cách của vị tổng thống một quốc gia có chủ quyền. Ông không hạ mình xuống xin ân huệ của ngoại bang. Như tổng thống Marcos của Phi Luật Tân đã hạ mình xuống xin ân huệ của Mỹ, ngày 25/2/1986.

Hồi 5:30 chiều 1/11, tức là khoảng một giờ sau cuộc điện đàm giữa TT Diệm và đại sứ Lodge, trung tướng Dung văn Minh gọi điện thoại cho ông Diệm và đòi ông Diệm phải đầu hàng. Ông Diệm từ chối không muốn nói chuyện với tướng Minh.

Hai giờ sau, tức là khoảng 7:30, tướng Minh lại gọi cho ông Diệm, ông Diệm lại từ chối không nói chuyện. Tướng Minh rất tức giận về thái độ khinh bỉ của ông Diệm.

Khoảng 8 giờ chiều, tướng Minh ra lệnh tấn công vào dinh Gia Long. Người được chọn để thi hành cuộc tấn công là đại tá Nguyễn văn Thiệu, một sĩ quan công giáo, lúc đó chỉ huy sư đoàn 5 bộ binh.

Một điều mà nhóm đảo chánh đã không ngờ đến, là khoảng 8 giờ chiều hôm đó, anh em ông Diệm đã lên một chiếc xe hơi màu đen do ông Cao Xuân Vỹ lái, bí mật ra khoải dinh Gia Long và đến tạm trú tại nhà Hoa kiều Mã Tuyên.

Vào lúc 3 giờ sáng ngày 2/11, đại tá Thiệu mở nhiều đợt tấn công với thiết giáp và pháo binh vào dinh Gia Long. Nhưng các cuộc tấn công ấy đã bị đẩy lui. Những quân nhân trung thành với ông Diệm đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, mặc dù thua sút về quân số, vũ khí, mặc dù không được tiếp tế và mặc dù ở trong tình thế tuyệt vọng. Cuối cùng, nhóm đảo chánh đã phải cầu cứu trung tá Nguyễn cao Kỳ cho phi cơ phóng pháo lên bắn phá thành Cộng Hòa để hỗ trợ quân đảo chánh và áp đảo tinh thần những binh sĩ phòng thủ dinh Gia Long.

Hồi 5 giờ sáng ngày 2/11, binh sĩ trong dinh Gia Long kéo cờ trắng đầu hàng, sau khi được lệnh bằng điện thoại của ông Diệm.

Hồi 6:45, ông Diệm lại gọi điện thoại. Người nghe điện thoại là thiếu tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Diệm cho tướng Khiêm biết ông và ông Nhu hiện đang ẩn náu tại nhà thờ cha Tam, Chợ Lớn, và yêu cầu đem xe đến đưa về bộ Tổng Tham Mưu gặp các tướng lãnh. Tướng Dương văn Minh bèn cử thiếu tướng Mai hữu Xuân, đại tá Nguyễn văn Quang, đại tá Dương ngọc Lắm, thiếu tá Dương hiếu Nghĩa và đại úy Nguyễn văn Nhung đem xe thiết giáp đi rước những kẻ đầu hàng về bộ tổng tham mưu. Đoàn xe rời bộ tổng tham mưu hồi 7:30. Tướng Đôn cho sửa soạn một căn phòng cho anh em ông Diệm, và mời bác sỉ Đinh Xuân Minh đến "săn sóc cho Cụ".

Những gì xảy ra sau đó, đã được sách vở báo chí cũng như lịch sử ghi chép đầy đủ. (xin quý vị đọc bài "Bọn Ác Ôn Côn Đồ" của Tú Gàn vừa post lên Net để biết rõ chi tiết diễn tiến .... bọn côn đồ phản loạn kia đã làm gì đối với anh em TT Diệm trên đường về từ nhà thờ cha Tam trở về tổng tham mưu?)

Khoảng 8:30, chiếc xe thiết giáp về đổ tại sân tổng tham mưu với hai xác chết trên sàn xe. TT Diệm đã bị bắn đàng sau ót, ông Nhu bị bắn ở lưng và bị đâm nhiều nhát dao trên ngực. Hai tay các nạn nhận đều bị trói quặt ra đàng sau lưng.

Cuộc đảo chánh 1963 đã kết thúc bằng cái chết của ông Diệm và em ông, Nhu.

CHÁNH NGHĨA DÂN TỘC

Người ta đã suy nghĩ và đã viết nhiều về cái chết đó.

Có người cho là quả báo nhãn tiền: ông Diệm đã phạm tội ác đối với quốc gia dân tộc, ông Diệm phải đền tội. Đó là cái nhìn của những kẻ ghét ông Diệm.

Có người lại nghiêm khắc phê phán nhóm tướng lãnh đảo chánh là mọi rợ, Ông Diệm đã ra đầu hàng, với sự thỏa thuận của các tướng lãnh. Ông Diệm phải được đối xử như một kẻ đã đầu hàng. Nếu nhóm tướng lãnh đảo chánh không coi ông Diệm là một tổng thống đầu hàng, thì ít nhất cũng nên có cái mã thượng và phẩm cách của người quân nhân "thắng trận" để đối xử với một hàng binh. Cùng lắm, họ có thể đưa ông Diệm ra trước tòa án để công lý tùy nghi định tội. Tại sao lại phải giết một cách lén lút và hèn hạ như vậy? Đó là cái nhìn của số đông, cái số đông gồm những kẻ thương mến ông Diệm, cũng như những kẻ không thương mến nhưng không thù ghét ông Diệm.

Nhưng, lịch sử có cái nhìn riêng của nó. Cái chết của ông Diệm là một sự cần thiết. Nó mang ý nghĩa trọn vẹn của một phủ định và một xác định. Nó phủ nhận và thẳng tay xóa bỏ gía trị lịch sử và gía trị dân tộc của biến cố 1963, đồng thời xác định bản chất đích thực của biến cố ấy, trước dân tộc và lịch sử. Thật vậy:

Biến cố ngày 1/11/1963 đã từng được tôn vinh là một cuộc vùng lên của nhân dân miền Nam và của cái gọi là "đại bộ phận của dân tộc VN". Vùng lên để lật đổ một bạo quyền.

Nhân dân vùng lên, vì anh em ông Diệm là "những kẻ đại tội làm hư uế chánh nghĩa dân tộc và làm suy nhược sức mạnh của miền Nam".

Nhân dân vùng lên, vì Ngô Đình Diệm "phong kiến như vua, độc tài như cộng sản".

Nhân dân vùng lên, vì chế độ Ngô Đình Diệm là "một chế độ dùng bạo lực thay chính trị, dùng khủng bố thay vì giáo dục".

Nhân dân vùng lên, vì Ngô Đình Diệm "độc tài dộc tôn độc đảng", và vì "suốt chín năm nhà Ngô và đảng Cần Lao ngự trị tại miền Nam, ngoại trừ một thiểu số thống trị với tất cả đặt quyền đặc lợi, còn thì nhân dân phải sống khổ nhục sợ hãi không khác gì nhân dân miền Bắc đã sống dưới chế độ Tần Thủy Hoàng của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản".

Nhân dân vùng lên, vì "chín năm cai trị là chín năm bạo trị, 15 triệu đồng bào là gần 15 triệu nạn nhân, quân đội và phong trào đấu tranh của Phật giáo chỉ là những lực lượng có duyên và phương tiện để thi hành bản án mà gần 15 triệu đã tuyên án từ 9 năm qua".

Nhân dân vùng lên, vì bạo quyền Ngô Đình Diệm "đã tiến hành những chính sách tai hại không phải cho một người mà cho cả một dân tộc", đã "dùng bạo lực để hủy diệt một tôn giáo chỉ biết có tình thương" "đã dùng gian trá để đem nữa phần đất còn lại của dân tộc bán đứng cho CS miền Bắc"...

Trên đây là những nét chính, tổng qúat hóa tội ác của họ Ngô và được liệt kê trong quyển VNMLQHT (trang 279, 232, 303, 305, 317, 330, 791, 793 ...) Vì những tội ác ấy, nhân dân đã phải vùng lên.

Đó không phải là luận điệu của riêng ông Đỗ Mậu, mà còn là luận điệu của cả cái tập đoàn đứng sau lưng ông ĐM, cũng là cái tập đoàn từng mệnh danh là "đại bộ phận của dân tộc".

Trong những tháng ngày sau đảo chánh, luận điệu trên dã trở thành chân lý của những kẻ làm đảo chánh, cũng như của những kẻ hoan hô đảo chánh. Các tướng Tôn Thất Đính, Dương văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Đặng văn Quang, Lê văn Kim, Mai hữu Xuân, Trần văn Đôn, Đỗ Mậu ....vv... đã "anh dũng" đưa ra những lời tuyên bố lịch sử: "quân đội lãnh sứ mạng của nhân dân, đứng lên lật đổ Ngô Đình Diệm, vì chế độ Ngô Đình Diệm độc tài phản dân hại nước, và vì anh em họ Ngô bắt tay với Hà Nội để dâng hiến miền Nam cho cộng sản".

Bản tuyên cáo chính thức của hội đồng quân nhân cách mạng đọc ngày 2/11 cũng đã mở đầu bằng câu: "cuộc cách mạng của toàn dân, thành công trong vinh quang, đã chấm dứt một chế độ độc tài, tàn bạo, bất lực .... Đứng trước sự thối nát của chính quyền Ngô đình Diệm, quân đội đã nhận thức sự cần thiết phải giải thóat đồng bào để tiến tới một chế độ dân chủ thực sự, nên quân đội, dưới sự lãnh đạo của hội đồng quân nhân cách mạng, đã cương quyết vùng lên ...."

Bản tuyên cáo của chánh phủ lâm thời VNCH cũng cùng một luận điệu đó. Và bản hiến ước tạm thời của chính quyền "cách mạng" cũng đã mở đầu bằng lời ca tụng "cuộc cách mạng chống độc tài đã hoàn toàn thành công với truyền thống hy sinh phục vụ tổ quốc của quân đội VNCH để dành lại cho dân tộc nền dân chủ tự do ..."

Nói tóm lại, Ngô Đình Diệm là một tên trọng tội, một tên đại gian đại ác, một tên phản dân hại nước, một kẻ Toan bán đứng miền Nam cho CS. Quyền lợi của quốc gia VN, và sự sống còn của dân tộc VN đòi hỏi rằng tên đại gian đại ác ấy phải bị lật đổ và đền tội trước quốc dân.

Đó là chính nghĩa được khoác lên vai biến cố ngày 1/11/1963.

Câu hỏi được đặt ra: đã có chính nghĩa dân tộc sáng ngời như vậy tại sao "cách mạng" 1963 lại phải lén lút và hèn hạ cho người ám sát tổng thống Diệm trên chiếc xe thiết giáp di chuyển từ nhà thờ cha Tam về bộ tổng tham mưu? Tại sao không đường đường chính chính đem tên tội đồ Ngô Đình Diệm ra trước tòa, dù là tòa án nhân dân - để xét xử và sau khi tòa tuyên án, hành quyết tên tội đồ trước khi mặt trời mọc? Tại sao lại phải hành động lén lút và đê tiện nhưng những kẻ đâm thuê chém mướn?

Chánh nghĩa dân tộc của cách mạng để đâu? Liêm sỉ của cách mạng để đâu?

Khí phách của các tướng lãnh để đâu?

LIÊM SỈ CÁCH MẠNG

Hồi 8:30 ngày 2/11/63, chiếc xe thiết giáp từ nhà thờ cha Tam trở về đỗ tại sân bộ tổng tham mưu.

Khi nhìn thấy hai xác chết bê bết máu của anh em ông Diệm, các tướng đảo chánh đã hoảng hốt cực độ. Trong cơn hốt hoảng đó, họ đã tuyên bố với báo chí rằng anh em ông Diệm đã tự sát. Nhưng ngay sau đó, Lucien Conein nhắc cho họ biết rằng anh em ông Diệm là người công giáo, vì vậy lời giải thích "anh em ông Diệm tự sát" sẽ chẳng được ai tin và chỉ càng gieo thêm nghi ngờ. Các tướng lãnh bèn đổi giọng và tuyên bố với báo chí rằng "đó là một cuộc tự sát vì rủi ro". Luận điện này đã trở thành lập trường chính thức của hội đồng quân nhân cách mạng và của chính quyền cách mạng.

Hiển nhiên, các tướng đảo chánh đã nói dối. Nhưng vấn đề đặt ra: tại sao họ phải nói dối? Tại sao họ phải cúi mặt không dám nhìn sự thật và phải che dấu sự thật?

Tướng Dương văn Minh là kẻ đã ra lệnh cho đàn em giết ông Diệm để trừ hậu họa. Nhưng sau khi ông Diệm chết, tướng Minh không dám nhìn nhận sự thật. Tướng Minh không phải là kẻ chiến bại, mà là kẻ chiến thắng ông Diệm, đồng thời là chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng và người hùng của cách mạng. Tại sao tướng Minh lại phải nói dối? Tại sao lại phải hèn hạ?

Chưa hết. Tướng Dương văn Minh chẳng những không dám nhìn nhận hành động của mình, mà còn tìm cách chối tội và đổ lỗi cho người khác.

Trong cuốn Les Guerres du Viet am và Our Endless Wars, trung tướng Trần văn Đôn đã viết như sau: "Big Minh không bao giờ nhận trách nhiệm về vụ cố sát anh em ông Diệm. Mỗi khi vấn đề được nêu ra, ông ta lại tìm cách lôi kéo tôi vàọ Trong thời gian bị lưu đày tại Vọng Các, big Minh đã thanh minh với một linh mục công giáo rằng ông không có trách nhiệm gì về vụ giết ông Diệm, big Minh còn khuyên linh mục, nếu muốn biết rõ câu chuyện, thì nên đến hỏi tôi" (Our Endless Wars, trang 113).

Tướng Dương văn Minh, lãnh tụ cuôc vùng dậy của nhân dân VN và của cái gọi là đại bộ phận dân tộc VN, đã phạm hai cái hèn.

Ông Diệm đã ra đầu hàng, đã được các tướng lãnh chấp nhận cho đầu hàng, và đã được các tướng lãnh cử người đưa xe đến chở về đại bản doanh của cuôc đảo chánh. Nhưng tướng Minh đã lén lút cho bộ hạ giết anh em ông Diệm trên xe thiết giáp. Đó là cái hèn thứ nhất.

Sau khi đã cho người ám sát ông Diệm, tướng Minh đã không dám nhìn nhận hành động của mình. Đó là cái hèn thứ hai.

Cái hèn của tướng Minh cũng là cái hèn của nhóm tướng lãnh ngày 1/11/63, những kẻ không có chánh nghĩa hoặc biết rằng mình không có chánh nghĩa, hoặc nghi ngờ về chánh nghĩa của mình. Bởi vì: nếu họ có chánh nghĩa, nếu quả thật họ đã vì dân vì nước tự động đứng lên để diệt trừ một đai họa cho dân tộc, nếu qủa thât họ đã quân đội và cái "đại bộ phận của dân tộc" đã vùng lên lật đổ một bạo quyền để cứu lấy tổ quốc VN, thì việc giết ông Diệm phải được coi là một hành vi chánh đáng hợp tình hợp lý hợp lòng dân và hợp lịch sử. Và những kẻ đã ra tay giết ông Diệm có quyền tự hào về hành vi đó.

Còn gì chánh đáng hơn là thay mặt nhân dân diệt trừ một tên phản quốc, và diệt trừ mọi mầm mống phản loạn sau này? Diệt trừ bằng thủ đoạn giết lén tuy không đường đường chính chính như diệt trừ bằng một bản án tử hình của tòa án, nhưng xét cho kỹ, cũng không có gì đáng hổ thẹn. Cách mạng nào mà không đổ máu? Cách mạng nào mà không giết? Mà giết thì đã sao? Nhất là giết một tên "đại gian đại ác, tội đồ của dân tộc".

Thế thì tại sao lại phải nói dối, tại sao phải chối tội và tìm cách đổ tội cho người khác?

Câu trả lời là: những kẻ đó không có chánh nghĩa. Vì vậy phải hèn hạ, phải giết lén, phải nói dối, phải chối tội và đổ tội lẫn cho nhau.

KHÍ PHÁCH TƯỚNG LÃNH

Tại sao các tướng lãnh không có được cái khí phách tối thiểu và tinh thần liên đới trách nhiệm để tuyên bố rằng: ông Diệm có tội với dân tộc, cách mạng đã giết ông để trừ hậu họa. Nếu không được cái khí phách tối thiểu đó, thì ít nhất cũng phải có được cái liêm sĩ tối thiểu để nói sự thật với quốc dân. Nói rằng: ông Diệm đã bị giết ngoài ý muốn và ngoài dự liệu của các tướng đảo chánh.

Tại sao lại lừa bịp quốc dân và sống sượng nói dối rằng người chết đã tự sát?

Là vì: họ không có chánh nghĩa, không kết hợp và hành động vì chánh nghĩa, vì vậy đã phải nói dối, nói quanh, chối tội và đổ tội lẫn cho nhau. Thật là mỉa mai: người sống sợ người chết, và kẻ thắng trận sợ kẻ bại trận. Đúng là một lũ đầy tớ giết chủ như trung tướng Nguyễn chánh Thi đã nhận định một cách sâu sắc. Và giết chủ rồi, lũ đầy tớ nhìn nhau, lo sợ.

Vẫn chưa hết. Trong cuốn Our Endless War và Les Guerres du Vietnam, tướng Trần văn Đôn còn viết rằng: "trưa mùng 2/11, xác hai anh em ông Diệm được di chuyển về bệnh viện Saint Paul . Sáng hôm sau, ông Minh và tôi đến viếng thăm ông bà Trần Trung Dung tại nhà. Bà Dung là cháu ruột ông Diệm. Ông Minh nói với bà Dung: chúng tôi đến đây không phải chia buồn. Chúng tôi hy vọng bà hiểu cho rằng cái chết của ông Diệm và ông Nhu đã xảy ra như là một sự ngẫu nhiên đáng tiếc lúc cuộc đảo chánh đang tiến hành. Chúng tôi rất buồn, nhưng bây giờ sự viêc đã xảy ra, chúng tôi không thể làm gì được nữa. Chúng tôi mong bà thu xếp lo viêc chôn cất" (Our Endless War, trang 111).

Một lần nữa, tướng Dương văn Minh lại nói dối, lại chối tội. Lúc này ông không còn là trung tướng Dương văn Minh nữa, mà là đại tướng Dương văn Minh, chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng, quốc trưởng của nước VN, và "người hùng" của dân tộc. Ông không chối tội trước quốc dân, trước báo chí, hoặc trước đám đông, mà chối tội trước người cháu gái cua ông Diệm.

Tướng Minh nói rằng cái chết của anh em ông Diệm đã xảy ra như một sự tình cờ ngẫu nhiên. Sự dối trá thật là trắng trợn. Cái chết của anh em ông Diệm đã không xảy ra như một sự tình cờ, mà đã xảy ra theo kế hoạch của tướng Minh và với mệnh lệnh của tướng Minh.

Tướng Minh còn nói rằng "cái chết ấy đã xảy ra trong lúc cuộc đảo chánh đang tiến hành". Tướng Minh lại nói dối. Anh em ông Diệm đã bị giết trên chiếc xe thiết giáp do chính các tướng lãnh đảo chánh gửi đến để đón ông về bộ tổng tham mưu. Lúc đó, cuộc đảo chánh đã chấm dứt. Chấm dứt từ lâu. Lúc đó các tướng đảo chánh đã bắt đầu ăn mừng "cách mạng thành công" và bắt đầu chia tiền.

THẰNG HÈN VÀ THẰNG NÓI LÁO

Năm 1971 là năm bầu cử tổng thống nhiệm kỳ hai. Đại tướng Dương văn Minh nạp đơn ứng cử. Vấn đề giết ông Diệm lại được đặt ra. Một quyển sách mang tên "Làm Thế Nào Để Giết Một Tổng Thống" xuất hiện. Báo chí lai khơi đống tro của lịch sử, và những người trong cuộc đã có dịp lên tiếng về cái chết của ông Diệm.

Ứng cử viên tổng thống Dương văn Minh, trong nhiều cuộc phỏng vấn, tuyên bố rằng ông Thiệu phải chịu trách nhiệm về cái chết của anh em ông Diệm trong cuộc đảo chánh 1963. Ứng cử viên Dương văn Minh nói: "Thiệu, lúc đó một đại tá tham gia cuộc đảo chánh, đã không đem quân vào dinh tổng thống đúng thời điểm để ngăn chặn Ngô Đình Diệm trốn thoát". Theo ông Minh, nếu anh em ông Diệm bị bắt giữ ngay trong dinh Gia Long, họ đã không bị giết. (Tài liệu ngày 20/7/71 về VN tại thư viện quốc hội Mỹ ghi như sau: "Minh said Thieu, then a colonel who had participated in the coup, had failed to bring his troops to the presidential palace in time to prevent Diem trom escaping. Minh held that if Diem and his brother had been taken into custody at the palace they would not have been murdered”).

Ứng cử viên đương kim tổng thống Nguyễn văn Thiệu, khi thấy tướng Minh liên can mình vào vụ ám sát ông Diệm, đã chửi tướng Minh là thằng hèn và thằng nói láo.

Ông Thiệu nói: "lúc đó ông được tướng Trần thiện Khiêm, bây giờ là thủ tướng cho biết Dương văn Minh đã nói với ông ta (tức Trần thiện Khiêm) rằng: đảo chánh phiền phức và khó khăn quá, chi bằng áp dụng phương thức dễ nhất, là ám sát Diệm". (tài liệu ngày 20/7/71 ghi như sau: Thieu called Minh a coward and a liar when linking him to the Diem assassination. .. Thieu said at the time he had been informed by gen. Tran thien Khiem, now premier, that Minh had told him the coup was so complicated and difficult that the easiest way is to assassinate Diem).

Hồ sơ lưu trữ tại thư viện quốc hội Hoa Kỳ ngày 20 và 21/7/71 có ghi rõ những lời nói trên của đại tứơng Dương văn Minh, kèm theo lời của đương kim tổng thống VN Nguyễn văn Thiệu gọi cựu quốc trưởng VN Dương văn Minh, chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng, là "thằng hèn và thằng nói láo".

Tướng Nguyễn văn Thiệu chửi tướng Dương văn Minh là thằng hèn và thằng nói láo. Lời chửi sâu sắc và xác đáng này cũng có thể dùng để nói về toàn thể hội đồng quân nhân cách mạng 1963, trong đó có tướng Thiệu, trong vụ ám sát ông Diệm va giải thích cái chết của ông Diệm.

Quả thật ông Diệm đã được phục thù trước lịch sử. Bởi chính cái gian dối hèn hạ của những kẻ đã lật đổ và giết ông. Kẻ thắng trận phải run phải sợ cúi mặt trước kẻ bại trận. Và đổ tội lẫn cho nhau, nguyền rủa lẫn nhau.

Ông Diệm đã được phục thù trước lịch sử. Chính cái gian dối hèn hạ của những kẻ giết ông đã phơi bày thực chất của nhóm người làm đảo chánh và phơi bày cái ý nghĩa đích thực của biến cố 1963. Một nhóm người không có chính nghĩa. Một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ xướng và để phục vụ mưu đồ của ngoại bang. Một "lũ đầy tớ giết chủ" như lời nhận định của tướng Nguyễn Chánh Thi Một vụ "giết mướn", như lời phê phán của nhà văn quân đội Nguyễn Đạt Thịnh.

BA TRIỆU ĐỒNG (VN) CỦA CIA

Như đã trình bày ở chương 6 về cuộc đảo chánh, ngày 30/10/1963 tức là hai ngày trước khi cuộc đảo chánh bùng nổ, đại sứ Lodge đã gửi về tòa Bạch Ốc một công điện gồm 13 điểm. Điểm 11, đại sứ Lodge đề cập đến lời yêu cầu của các tướng đảo chánh muốn có một số tiền để "mua chuộc phe chống đối".

Theo các tài liệu còn lưu trữ tại thư viện quốc hội Mỹ, thì hôm đảo chánh Lucien Conein đã đến bộ ổng tham mưu trao một gói bạc ba triệu bạc VN ($3,000,000 đồng) cho tướng Trần văn Đôn, gọi là để "mua chuộc phe chống đối nếu cần".

Trong quyển VNMLQHT, ông Đỗ Mậu cũng viết: "Conein bèn mặc quân phục mang theo một khẩu 375 Magnum và một gói tiền độ 3 triệu đồng bạc rồi đến bộ tổng tham mưu". Nhưng ông ĐM không biết rõ mục đích và số phận của số tiền đó. Vì vậy, ông viết tiếp: "cũng cần nói rõ rằng số tiền ba triệu đồng VN do Conein mang đến đã không được một tướng lãnh nào hay biết trừ tướng Đôn. Tướng Đôn không bao giờ trình bày cho hội đồng tướng lãnh biết có nhận số tiền đó của Conein hay không, và nếu có thì đã xử dụng vào việc gì". (trang 816).

Trong quyển Việt Nam Nhân Chứng, tứơng Đôn nhình nhận có đươc Conein trao cho số bạc ba triệu, và ông đã "tặng cho các bạn", chứ không bỏ vào túi. Ông viết: "Đúng 1:30 trưa, ông Conein vào có mang theo một máy truyền tin đặc biệt để liên lạc vơi đại sứ Mỹ và một bao tiền ba triệu bạc VN. Đảo chánh vừa thành công, trong không khí rộn ràng đó, tôi có tặng cho các gạn một số tiền ủy lạo binh sĩ đơn vị mà không đòi làm biên nhận đầy đủ. Đến năm 1971, tôi ra lệnh cho thiếu tá Đặng văn Hoa tìm lục lai các biên nhận về việc ghi số tiền ba triệu bạc của Conein, thì th/tá Đặng văn Hoa làm tờ trình và một số các biên nhận. Tôi xin đính kèm theo đây để chứng minh. Tôi không tổ chức đảo chánh để kiếm số bạc như vậỵ Vì lúc đó mấy triệu bạc VN đối với tôi không phải là số tiền mà tôi khao khát". (VN Nhân Chứng, TVD, trang 211).

Viết như vậy, tướng Đôn đã muốn thanh minh cho sự trong sạch của ông. Nhưng ông đã làm một công việc thừa thãi. Bởi lẽ: không ai kết tội tướng Đôn nhận tiền của Mỹ để bỏ vào túi riêng. Người ta kết tội các tướng đảo chánh đã làm nhơ nhuốc cuộc đảo chánh, và làm nhơ nhuốc Quân Lực VNCH. Người ta kết tội các tướng lãnh đã xử sự như những tay sai của Mỹ, trong vụ lật đổ ông Diệm năm 1963.

Chúng ta hãy đọc kỹ phiếu đệ trình của th/tá Hoa, được tướng Đôn công bố và đính kèm trong phần phụ lục của quyển VN Nhân Chứng của ông, để có một ý niệm.

Phiếu đệ trình, ngày 14 tháng 8 năm 1971

Trích yếu: Về số bạc ba triệu đồng của ông Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày Cách mạng 1/11/63.
    Kính thưa trung tướng,

    Số bạc 3 triệu đồng của ông Conein cho mượn thì đã được trung tướng chỉ thị cấp cho những người sau đây:

    Ngày 1/11/63, T/T/TMT Trần thiện Khiêm nhận ............ .......... ........500, 000 $
    (do đại tá Đặng văn Quang làm biên nhận)

    Ngày 1/11/63, T/T Tôn Thất Đính tư lệnh quân đoàn 3 nhận ............ ...500,000 $
    (do đại úy Phạm viết Hùng nhận)

    Ngày 10/11/63, TT Tôn thất Đính có nhân thêm ............ .......... ......... 100,000 $

    Ngày 4/11/63, tặng sư đoàn 5 ............ ......... ......... .......... ......... ....50,000 $
    (do đại tá Nguyễn văn Thiệu nhận)

    Ngày 5/11/63, tặng liên đoàn thủy quân lục chiến của đại tá Lê nguyên Khang ..100,00$ (do đại úy Quế nhận)

    Ngày 5/11/63, đại tá Trần ngọc Huyến thị trưởng Đàlạt nhận........... ....100,000 $

    Ngày 9/11/63, thiếu tá Phan hòa Hiệp trường thiết giáp nhận ............ ...100,000$

    Ngày 19/11/63, đại úy Đào ngọc Diệp câu lạc bộ tổng tham mưu nhận...100,000$

    Tổng cộng.......... ......... ......... ......... ......... ......... .......... ......... ..1,550,000$
Tất cả số tiền 1,550,000 $ trên đây đều có biên nhận (đính kèm). Như vậy còn lại 1,450,000 $, trung tướng cũng tặng cho anh em nhưng không có chữ ký biên nhận. Nếu tôi nhớ không lầm thì trung tướng đã tặng cho các ông sau đây:
    Trung tướng Dương văn Minh
    Trung tướng Lê văn Kin
    Trung tướng Tôn thất Đính
    Thiếu tướng Nguyễn hữu Có
    Thiếu tướng Trần ngọc Tám
    Trung tướng Nguyễn Khánh
    Trung tướng Nguyễn cao Trí

    Ngày 14 tháng 8 năm 1971
    Ký tên
    Hoa
Đọc phiếu trình trên đây, người ta thấy rõ số tiền ba triệu đã được tuớng Đôn chia ra làm haị Một nửa "tặng" cho các đơn vị đảo chánh gọi là tiền ủy lạọ Một nữa "tặng" cho các bạn !

Trong những người nhận tiền "ủy lạo", tướng Trần thiện Khiêm, tham mưu trưởng QLVNCH, nhận 500,000$. Tướng Tôn thất Đính, tư lệnh quân đoàn 3 kiêm tổng trấn Saigon-Gia Định, nhận 600,000$. Số còn lại chia cho sư đoàn 5, liên đoàn thủy quân lục chiến, trường thiết giáp, câu lạc bộ tổng tham mưu và đại tá thị trưởng Dalat, Trần ngoc Huyến.

Trong những người được "tặng" tiền, có các tướng Dương văn Minh, Lê văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn hữu Có, Trần văn Tám, Nguyễn Khánh, Đỗ cao Trí (riêng tướng Dương văn Minh còn được hưởng số bạc 6 ngàn Mỹ kim lấy được trong chiếc cặp của TT Diệm).

Nói tóm lại: tất cả tướng tá có quân hoặc có công tham dự và cuộc đảo chánh, đều được "ủy lạo" hoặc "tặng tiền". Nói cách khác: cuộc đảo chánh năm 1963 đã được ủy lạo và tưởng thưởng (tặng). Và đây là điều quan trọng: cuộc đảo chánh năm 1963 đã được ủy lạo và tưởng thưởng bằng tiền của CIA, do đích thân CIA đưa đến.

Vấn dề đặt ra: các tướng đảo chánh đã xin tiền, hay chính người Mỹ đã tự động đem đến?

Theo như công điện ngày 30/10/63 của của đ/s Lodge gửi cho cố vấn an ninh tòa Bạch Ốc thì các tướng đảo chánh đã "yêu cầu" được có một số tiền để dùng vào việc mua chuộc phe chống đối, nếu cần. Điểm 11 của công điện viết như sau: "As to requests from the Generals, they may well have need of funds at the last movnent with which to buy off potential opposition". Tạm hiểu như sau: Theo lời yêu cầu của các tướng lãnh, họ có thể cần một số tiền vào phút chót để mua chuộc (những kẻ) chống đối có thể xuất hiện.

Tức là: các tướng lãnh đảo chánh đã xin tiền. Và xin tiền với danh nghĩa để mua chuộc phe chống đối (các sĩ quan còn trung thành với ông Diệm).

Theo những cuốn hồi ký của tướng Đôn (Our Endless War, Les Guerres du Vietnam, và Nhân Chứng VN), thì cuộc đảo chánh năm 1963 là một "vấn đề hoàn toàn nội bộ của VN". Tướng Đôn đã vô tình hay hữu ý không biết đến nội dung bức công điện của đại sứ Lodge về vấn đề các tướng đảo chánh đã xin tiền. Ông mô tả Lucien Conein như một bà phước tự động đem tiền đến cho các tướng xử dụng. Trong cả hai trường hợp (các tướng xin tiền, hoặc Conein tự động đem tiền đến), việc cung cấp số bạc ba triệu đã được chính quyền Mỹ sắp đặt và quyết định trước. Rất có thể các tướng đảo chánh đã xin, cũng rất có thể các tướng lãnh đã không xin. Nhưng trong cả hai trường hợp, họ đã ngửa tay ra nhận !

Hành động ngửa tay nhận tiền của các tướng đảo chánh đã làm nhơ nhuốc cuộc đảo chánh. Họ đã làm nhục chính họ, điều đó không quan hệ. Họ đã sỉ nhục Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ..!!

Phiếu đệ trình phát tiền do tướng Đôn công bố có nhiều điều làm cho người ta phải thắc mắc.

1. Trích yếu của phiếu trình có ghi: "về số bạc ba triệu bạc của ông Conein cho mượn để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1/11/63.

Trước hết, số bạc ba triệu đồng (VN) đã do chính quyền Mỹ cung cấp, chứ không phải tiền ông Conein cho mượn. Điều này không cần phải chứng minh, nó đã đi vào lãnh vực hiểu biết công cộng, cũng như đã được các tài liệu của Mỹ xác nhận. Thâm tâm các tướng Đôn, Minh, Đính, Kim Khiêm cũng biết điều đó. Vậy thì, tại sao trong phiếu trình lại ghi là tiền ông Conein cho mượn? Và nếu là tiền ông Conein cho mượn thì các tướng đảo chánh đã trả lại cho ông Conein chưa? Nếu trả rồi, chắc chắn tướng Đôn sẽ thấy có bổn phận phải xuất trình bằng chứng, cũng như ông đã thấy có bổn phận phải xuất trình bằng chứng về sự chi tiêu số bạc.

Thứ đến, phiếu trình ghi rằng số tiền ấy dùng để thù lao các đơn vị trong ngày cách mạng 1/11/63. Thù lao là trả công. Tại sao lại ghi như vậy? Người ta lại nghĩ rằng tướng Đôn đã không đọc kỷ phiếu trình, trước khi công bố.

Những chi tiết nói trên không nên có trong phiếu trình. Dư luận đã từng cười ra nước mắt, nay một lân nữa lại phải cười ra nước mắt, và thương hại cho cái gọi là cuộc cách mạng 1963.

2. Phiếu trình của thiếu tá Hoa đề ngày 14/8/1971, tức là gần 8 năm sau cuộc đảo chánh.

Trong quyển VN Nhân Chứng, tướng Đôn cũng đã viết rõ: năm 1963, ông tặng tiền mà không làm biên nhận, đến năm 1971, ông mới ra lệnh cho thiếu tá Hoa tìm lại các biên nhận và lập phiếu trình.

Cau hỏi được đặt ra: lý do nào đã thúc đẩy tướng Đôn năm 1971 phải cho lập phiếu trình về số bạc đã chi tiêu năm 1963?

Như chúng ta đã biết: năm 1971 là năm bầu cử tổng thống nhiệm kỳ 2. Năm đó, tướng Dương văn Minh ra ứng cử: vấn đề ông Diệm và cuộc đảo chánh 1963 lại được đặt ra trước công luận. Và như trên đã trình bày, ngày 20 và 21 tháng 7 năm đó, hai ông Nguyễn văn Thiệu và Dương văn Minh chửi lộn nhau về cái chết của ông Diệm.

Năm 1971 cũng là năm bầu cử Hạ Nghị viện khóa 2. Ngày bỏ phiếu là 30/8/1971. Tướng Trần văn Đôn ra tranh cử dân biểu tại đơn vị Quảng Ngãị Và ông đắc cử. Những sự việc nói trên có thể trả lời cho câu hỏi: lý do nào đã thúc đẩy tướng Đôn năm 1971 phải cho lập phiếu trình về số bạc ba triệu đã chi tiêu năm 1963,

Tôi muốn nói với các tướng đảo chánh và những kẻ vẫn lớn tiếng ca ngợi biến cố 1963 và cuộc vùng dậy của đại bộ phận dân tộc rằng: hãy có can đảm nhìn vào sự thật. Biến cố ngày 1/11/1963 chỉ là một cuộc tạo phản do ngoại bang chủ mưu và nhằm phục vụ quyền lợi của ngoại bang. Cuộc tạo phản ấy đã được thi hành bởi những tay sai bản xứ. Những kẻ này đã ngửa tay nhận tiền của ngoại bang. Và: đảo chánh xong rồi, họ đã chia nhau số tiền ấy, mặc dù chẳng được bao nhiêu.

Thật là nhục ! Nhục cho những tướng lãnh đảo chánh. Nhục cho cuộc đảo chánh. Và nhục lây cho cả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. (Việt Nam Chính Sử, Nguyễn Văn Chức, trang 86-95) .

Ls Nguyễn Văn Chức
-------------------------
    2 câu hỏi của Mao Tôn Cuơng on-line:

Tướng Quảng Lạc râu dê Nguyễn Khánh góp công đảo chánh cụ Diệm và sau đó ít lâu ký sắc lệnh cải lương phường tuồng giết ông Ngô Đình Cẩn.

Yêu cầu ông Quảng Lạc hãy trả lời trước lịch sử và đồng bào:

1. Tại sao ông giết Ngô Đình Cẩn ?

2. Tại sao bây giờ ông quá khiêm tốn, ép mình làm LOONG TOONG, gọi DẠ BẢO VÂNG cho chú CHÁNH ?



Sunday, October 18, 2009

Cái Chết Của Ông Ngô Đình Cẩn - Như Phong

    Kính chuyển quý vị để thấy tội ác của Dương Văn Minh. Y quyết diệt cỏ tận gốc, sợ Ông Ngô Ðình Cẩn còn sống sẽ là một đại họa cho Y. Chính vì vậy mà chúng ta mất nước hôm nay!Tên Dương Văn Minh, tay sai ngoại bang, đã tung hoành phá tan đất nước. Y sẽ bị dân Việt muôn đời gớm ghiếc bởi do Y mà nước mất nhà tan, toàn dân đang quằn quại dưới gông cùm Cộng sản hôm nay chưa biết đến bao giờ mới thoát được.
    Xin cầu cho Linh hồn Goan Baotuixita Cụ Ngô Ðình Cẩn sớm về hưởng Nhan Thánh Chúa.

    Trân trọng.
    Thế Nguyễn


Như Phong

Khi được nói lời cuối cùng là tử tội có xin ân huệ gì không thì Ngô Đình Cẩn xin được quyền mặc quần trắng, áo dài đen vì ông muốn được chết trong bộ "quốc phục" Việt Nam. Hơn nữa ông Cẩn cũng muốn mặc bộ này đó là vì chiếc áo được thân mẫu may cho khi còn ở Huế.

Ngày hôm sau, đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn đã được chuyển đến tướng Dương Văn Minh là Quốc trưởng. Rồi Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình cũng gửi một lá thư tới Dương Văn Minh xin ân xá cho tử tội Ngô Đình Cẩn với lý do là Cẩn đang bị bệnh rất nặng, ngày sống chỉ đếm được trên đầu ngón tay cho nên không cần thiết phải hành quyết Cẩn. Nhưng tất cả đều bị Dương Văn Minh bác thẳng thừng. Tòa án báo cho thân nhân của gia đình Ngô Đình Cẩn là bà Ngô Đình Thị Hiệp, bà Ngô Đình Thị Hoàng (thường gọi là bà cả Lễ ...) là đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn đã bị Quốc trưởng bác bỏ. Ngô Đình Cẩn sẽ bị hành quyết vào lúc 17h ngày 9/5/1964 tại Khám Chí Hòa.
Trước làn sóng phản đối việc kết án tử hình Ngô Đình Cẩn ngày càng lan rộng trong giáo dân, chính quyền Dương Văn Minh - Nguyễn Khánh quyết thi hành án sớm.

Tại Sài Gòn, ngày giờ xử bắn Ngô Đình Cẩn được giữ rất kín. Có hai người được biết trước là luật sư Võ Văn Quan và linh mục Jean Baptiste Lê Văn Thí.

Ngày 8/5, linh mục Thí được vào gặp Ngô Đình Cẩn để làm lễ rước mình Thánh Chúa an ủi người sắp chết.



Khi ông Thí vừa vào, chào hỏi xong thì Ngô Đình Cẩn đã hỏi ngay: "Ngày mai, họ đem con đi bắn phải không cha?".

Linh mục Thí im lặng và khẽ gật đầu rồi hỏi lại: "Cậu có sợ không?".

Ngô Đình Cẩn gượng cười, trả lời khá bình thản: "Con không sợ chút mô hết cha à!".

Linh mục Thí hỏi tiếp: "Cậu có tha thứ cho những người đã làm khổ cậu và gia đình cậu không?".

Ngô Đình Cẩn nói lớn, và rành rẽ: "Con tha thứ".
Rồi Cẩn nói tiếp: "Con cũng mang tên Thánh là Jean Baptiste và cha cũng mang tên Thánh Jean Baptiste. Xin cha nhớ cầu nguyện cho con sớm lên Thiên đàng chầu Chúa và xin mọi người có đạo chứng kiến con chịu chết, xin đọc cho con một kinh lạy cha "Xin cho chúng tôi hàng ngày đủ dùng và tha tội cho chúng tôi như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi".

(Ngô Đình Cẩn là con út trong nhà nên hay được gọi là cậu Cẩn. Sau này khi TT Ngô Đình Diệm giành được quyền lực thì Ngô Đình Cẩn cũng được coi là nhân vật cực kỳ thế lực ở khu vực miền Trung, cho nên ai đến với Cẩn cũng không dám gọi tên mà chỉ gọi là ông Cậu).

Hôm sau, 10h trưa ngày 9/5, luật sư Võ Văn Quan vào thăm Ngô Đình Cẩn lần cuối cùng.

Sau này, ông Quan kể lại cho nhà báo Phan Kim Thịnh:

"Sáng sớm ngày 9/5, cháu Ngô Đình Cẩn là Trần Trung Dung vào thăm. Ông Cẩn nói chuyện một cách thản nhiên, không hề biểu lộ thái độ lo lắng, sợ sệt. Người cháu gái thì ngồi cạnh giường, khóc và nguyền rủa những kẻ phản phúc nhà họ Ngô. Nhưng ông Cẩn điềm tĩnh nói: "Không có gì đáng buồn mà phải khóc lóc. Làm chính trị là phải như thế. Cậu không có gì oán thán hết".

Khi gặp luật sư Quan, ông Cẩn cũng vẫn tỏ thái độ bình thản. Ông Quan cũng không hề biết là chính Ngô Đình Cẩn cũng đã biết rõ ngày giờ thi hành án. Lúc đầu, hai bên chỉ nói chuyện có tính chất xã giao nhưng rồi đột nhiên ông Cẩn tâm sự về thân thế của ông và tiết lộ một số câu chuyện bí mật. Lời nói của ông như là một sự trăn trối khiến luật sư Quan giật mình và thầm nghĩ: "Có lẽ ông Cẩn biết rồi".

Rồi Ngô Đình Cẩn chuyển sang giải bày những thủ đoạn chính trị của mình với giọng hùng hồn, hoạt bát, mạch lạc. Ngô Đình Cẩn cũng nhắc lại những cuộc tàn sát đẫm máu đối với những người Cộng sản khi Ông Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, và khẳng định làm chính trị thì phải chấp nhận thế thôi. Khi nói đến việc đàn áp những người Cộng sản, Ngô Đình Cẩn ngẩng cao đầu, mắt sáng long lanh, mặt đỏ bừng và nói như đếm từng tiếng.

Nhìn đồng hồ đã thấy gần 12h trưa, Ngô Đình Cẩn bảo: "Luật sư đưa cho tôi cái danh thiếp của ông".

Ông Quan ngạc nhiên không hiểu lúc này Ngô Đình Cẩn còn muốn có danh thiếp của mình để làm gì. Nhưng chiều ý, ông vẫn lấy danh thiếp đưa cho Ngô Đình Cẩn.

Ông Cẩn lấy bút viết vào phía sau danh thiếp: "Xin hết lòng đa tạ" và viết tên Ngô Đình Cẩn. Đưa lại danh thiếp cho luật sư, Ngô Đình Cẩn dịu giọng nói: "Tôi xin gửi lại chút này để cám ơn luật sư đã hết lòng biện hộ cho tôi".

Luật sư Quan bối rối: "Thật sự tôi có giúp được gì cho ông đâu, họ vẫn xử tối đa".

Ông Cẩn khẽ lắc đầu, gượng cười: "Vấn đề không phải ở đó. Viết mấy chữ này, tôi muốn tỏ lòng tri ân đối với người luật sư không từng quen biết, nhưng đã tận tình và can đảm nói lên giữa phiên tòa những gì tôi muốn nói".

Rồi Ngô Đình Cẩn lại bình tĩnh trò chuyện, lấy giấy cuốn thuốc lá theo kiểu sâu kèn, phì phèo hút, rồi lại têm trầu nhàn nhã nhai bỏm bẻm. Ông Quan đứng dậy cáo từ cố giữ nét mặt bình thường. Ngô Đình Cẩn bắt tay luật sư Quan rất chặt và rất lâu, đồng thời luồn bàn tay trái xuống gầm bàn, nhìn xuống đó ra hiệu. Ông Quan thấy bàn tay trái của Ngô Đình Cẩn xòe ra 5 ngón như thể báo hiệu rằng chiều nay vào lúc 5h ông sẽ bị hành quyết.

Sau này, mỗi khi nhớ lại vụ hành quyết Ngô Đình Cẩn, luật sư Quan vẫn tỏ thái độ kính trọng, khâm phục một con người biết cái chết đang đến với mình từng giờ, từng phút mà vẫn ngồi nói chuyện bình tĩnh hàng tiếng đồng hồ.

Cũng phải nói thêm rằng, sau ngày Ngô Đình Cẩn bị hành quyết đã có nhiều tin đồn rằng Ngô Đình Cẩn khi chết đi để lại rất nhiều của cải cho nhiều người thừa hưởng. Ngay chuyện Ngô Đình Cẩn bảo đại úy Nguyễn Văn Minh giao số vàng, đôla, kim loại quý cho tướng Đỗ Cao Trí giữ là "2 bao"... nhưng thực chất đó cũng chỉ là những lời đồn thổi vì chính đại úy Minh cũng không biết có bao nhiêu vàng và tướng Trí khi nhận túi vàng, valy tiền cũng không kiểm đếm.

Tuy nhiên, theo điều tra của các nhà báo về sau thì số bất động sản do Ngô Đình Cẩn giao cho người khác đứng tên không phải là ít. Năm 1989, tướng ngụy quyền Trần Văn Đôn có viết cuốn hồi ký "Việt Nam nhân chứng", và khi nói về cái chết của Ngô Đình Cẩn, ông ta viết như sau: "Vài tháng sau ngày chỉnh lý, tướng Nguyễn Khánh có phái đại tá Lâm Văn Phát thông qua bà Trần Trung Dung và nhờ chuyển lời nói với ông Cẩn rằng, hãy chuyển số tiền 6 triệu USD mà ông Cẩn có trong một ngân hàng Thụy Sĩ cho tướng Nguyễn Khánh. Đổi lại tướng Khánh sẽ cho một chiếc phi cơ đưa ông Cẩn đi Singapore. Bà Trần Trung Dung yêu cầu đừng ghi âm khi bà ấy vào khám hỏi ông Cẩn. Sau khi nghe bà Dung trình bày, Ngô Đình Cẩn không chịu giao số tiền đó cho ông Khánh, rồi hỏi bà Dung có cần lấy thì ông giao cho. Lúc đó bà Dung sợ liên lụy nên không dám nhận. Mấy ngày sau, nhân dịp một vị linh mục vào làm lễ cho ông Cẩn, ông đã ký giấy ủy quyền cho nhà dòng Cứu Thế số tiền đó. Giấy ủy quyền được để trong một cuốn kinh Thánh...".

Như vậy, xem ra sự kiện Ngô Đình Cẩn có mấy triệu đôla là có thể tin được. Nhưng thực sự chuyện Ngô Đình Cẩn chuyển 6 triệu đôla cho nhà thờ cũng có thể rất khó xảy ra, bởi lẽ với một số tiền lớn như vậy không thể cầm tờ giấy ủy quyền có mấy chữ rồi ký tên cho người khác đi lĩnh, đặc biệt đối với các ngân hàng nước ngoài. Ngay linh mục Lê Văn Thí cũng khẳng định là chẳng làm gì có số tiền đó.

Sáng 9/5, các nhà báo sau khi dự buổi hành quyết Phan Quang Đông tại Huế thì vội vàng ra máy bay về Sài Gòn.

Buổi tử hình Phan Quang Đông diễn ra rất ghê rợn. Vợ Phan Quang Đông đang bụng mang dạ chửa sắp đến tháng đẻ, đã ngất lịm ngay tại pháp trường khi chứng kiến cảnh chồng bị trói vào cọc ...

Sau khi làm các thủ tục về giấy tờ, Các nhà báo có mặt ở Bộ Thông tin từ lúc 14h. Và được đưa tất cả lên chiếc xe 18 chỗ đi vào Khám Chí Hòa. Tới cổng khám, ở trạm gác thứ nhất, nhân viên yêu cầu khám xét hành lý và thu giữ lại tất cả máy ảnh. Chụp ảnh buổi hành quyết chỉ có 3 người của Bộ Thông tin và nhân viên của an ninh quân đội. Sau đó các nhà báo được dẫn ra một sân rộng đầy cỏ cây hoang dại và có chôn sẵn một chiếc cột gỗ và trường bắn nằm gần một ngôi chùa nhỏ.
5h chiều, các thủ tục cho buổi hành quyết Ngô Đình Cẩn được bắt đầu tại phòng làm việc của trung tá Phạm Văn Luyện, Quản đốc Khám Chí Hòa. Những người có mặt tại đây là đại tá Trang Văn Chính, Giám đốc cảnh sát đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn; thiếu tá Nguyễn Văn Đức, Chưởng lý Tòa án quân sự; bà cả Lễ là chị ruột Ngô Đình Cẩn; luật sư Võ Văn Quan và một số người khác nữa. Đoàn người đến thẳng phòng giam của Ngô Đình Cẩn và lặng lẽ bước vào.

Nghe tiếng giày, Ngô Đình Cẩn đang nằm trên giường hé mắt nhìn rồi khép lại, miệng lầm rầm cầu nguyện cùng với một vị linh mục đứng cạnh giường đọc kinh. Bóng đèn điện từ trên trần nhà tỏa sáng một màu ánh sáng vàng vọt, thê lương. Thiếu tá Đức đến bên giường, đọc bản bác đơn xin ân xá của Ngô Đình Cẩn. Khi Nguyễn Văn Đức đọc xong, luật sư Quan đến bên ông Cẩn nắm lấy hai bàn tay. Tay Ngô Đình Cẩn nóng hổi, mặt ửng hồng và rõ ràng đang sốt rất cao.

Luật sư Quan cố gượng nói: "Thôi ông cố vấn đừng quá đau buồn. Trên cõi đời này dù sớm hay muộn rồi ai cũng phải ra đi”.

Ngô Đình Cẩn điềm tĩnh: "Luật sư đừng có buồn cho tôi. Tôi đi theo mấy ông anh của tôi. Tôi trở về với Chúa. Tôi không sợ chết đâu. Nhưng tôi lo cho luật sư, lúc cãi cho tôi, luật sư có đụng chạm tới họ. Không biết luật sư ở lại có bị họ làm khó dễ hay không".

Luật sư Quan ứa nước mắt: "Không sao đâu, ông cố vấn đừng lo cho tôi. Xin cầu chúc ông cố vấn được vào nước Chúa".

Thủ tục tiếp theo là vị linh mục làm lễ và cầu nguyện cùng ông Cẩn. Khi được nói lời cuối cùng là tử tội có xin ân huệ gì không thì Ngô Đình Cẩn xin rằng được quyền mặc quần trắng, áo dài đen vì ông muốn được chết trong bộ "quốc phục" Việt Nam (ngày ấy chính quyền Ngô Đình Diệm quy định "quốc phục" của Việt Nam Cộng hòa là quần trắng, áo dài đen, đội khăn xếp). Hơn nữa ông Cẩn cũng muốn mặc bộ này đó là vì chiếc áo được thân mẫu may cho khi còn ở Huế. Rồi ông cũng nói với mọi người là ông tha thứ cho những người đã giết ông.

Yêu cầu của Ngô Đình Cẩn được đáp ứng, những viên cai ngục giúp ông thay quần áo. Rồi thiếu tá Nguyễn Văn Đức ra lệnh cho 2 nhân viên xốc nách dìu ông Cẩn ra khỏi phòng giam và xuống cầu thang. Vì Ngô Đình Cẩn không thể đi được, nên người ta phải đặt ông lên một chiếc băng ca và đẩy đi suốt hành lang này qua hành lang khác. Ra khỏi khu "lò bát quái", Ngô Đình Cẩn được chuyển sang một băng ca khác do 4 người cai ngục khiêng, chiếc băng ca được khiêng ra giữa sân có cắm một chiếc cọc thì cả đoàn người dừng lại ...

Thiếu tá Đức ra lệnh cho đám cai tù xốc nách đỡ Ngô Đình Cẩn dậy, dìu ra cột. Khi Cẩn được dìu tới cột gỗ thì một người lính trong đội hành quyết nói nhỏ với Cẩn là xin phép được trói hai tay ra đằng sau, hai tay được đặt lên một thanh ngang giống như cây thánh giá mục đích là để người bị tử hình không tụt được xuống. Một người lính cai ngục lấy chiếc khăn đen bịt mắt tử tội thì Ngô Đình Cẩn lắc đầu liên tục và nói: "Tôi không chịu bịt mắt. Tôi không sợ chết". Nhưng người ta vẫn buộc khăn vào một cách vụng về, vì vậy không chỉ bịt mắt mà bịt gần hết khuôn mặt ông Cẩn.
Đội hành quyết có 10 người và đội mũ lính quân cảnh có in 2 chữ MP, chia làm 2 hàng. Hàng trước 5 người quỳ, hàng sau 5 người đứng. Trong 10 người thì có 1 người được sử dụng khẩu súng mà trong đó lắp 1 viên đạn mã tử (không có đầu đạn mà chỉ bịt giấy). Đúng 18h20, phút hành quyết đã tới, Nguyễn Văn Đức giơ tay ra lệnh thi hành.

Viên sĩ quan chỉ huy đội hành quyết hô lớn: “Bắn!".

Một loạt súng nổ, Ngô Đình Cẩn giũ người xuống ngay lập tức. Máu từ trên ngực chảy loang xuống chiếc quần trắng. Ngay sau đó viên chỉ huy đội hành quyết chạy đến gí khẩu súng colt 12 ly vào tai Ngô Đình Cẩn và bắn phát ân huệ. Bác sĩ pháp y chạy ra dùng ống nghe gí vào ngực Ngô Đình Cẩn nghe ngóng, vạch mắt ra xem, rồi quay lại gật gật đầu ra ý là Ngô Đình Cẩn đã chết.

Trung tá Luyện, Quản đốc Khám Chí Hòa ra lệnh cho mấy viên cai ngục cởi trói hạ xác Ngô Đình Cẩn đặt vào băng ca rồi khiêng vào Khám Chí Hòa để khâm liệm và cho thân nhân nhận xác mang về chôn cất. Xác Ngô Đình Cẩn được đưa về an táng tại nghĩa trang chùa Phổ Quang, tức nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế gần sân bay Tân Sân Nhất.

Sở sĩ gia đình an táng Ngô Đình Cẩn tại đây là vì Thượng tọa Thích Chí Dũng là người thân quen với gia đình họ Ngô. Sau năm 1975, khi quy hoạch lại TP HCM nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế ở chùa Phổ Quang được di dời về Lái Thiêu. Mộ Ngô Đình Cẩn cũng được đưa về đó nằm cạnh mộ của thân mẫu và 2 người anh là Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu

Như Phong

Monday, October 5, 2009

Mũ Đỏ VNCH với Cờ Vàng tham dự diễn hành trên đại lộ Champs-Elysées


Mũ Đỏ VNCH với Cờ Vàng tham dự diễn hành trên đại lộ Champs-Elysées và đặt vòng hoa tại mộ bia chiến sĩ vô danh dưới chân Khải Hoàn Môn tại Paris hôm 03/10/2009 do hội Union Nationale des Parachutistes tổ chức để mừng ngày lễ St-Michel (29/09).


















Sunday, September 27, 2009

Kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 8 của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009) - Đỗ Văn Phúc


Ngày giỗ thứ 8 năm 2009




Nhớ về người Tư Lệnh cũ
Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009)

Trong các đơn vị thuộc vùng 3 Chiến thuật, Sư đoàn 5 Bộ binh là đại đơn vị trấn nhậm một trọng điểm có tầm sinh tử đối với thủ đô Sài Gòn nhất. Do đó, các cuộc binh biến không thể thiếu sự đóng góp của Sư đoàn 5 BB. Đại tá Nguyễn Văn Thiệu nhờ vào chức vụ Tư lệnh SĐ5BB mà đã được mời tham gia vào cuộc đảo chánh lật đổ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Từ các căn cứ ở Bình Dương, chỉ cách Sài Gòn không đầy 30 ki lô mét, các đơn vị mang số 5 đỏ giữa ngôi sao trắng đã được nhanh chóng điều động về thủ đô chiếm cứ các cơ quan trọng yếu của chế độ. Trong tấm ảnh chụp chung của các Tướng lãnh tham gia đảo chính, Đại Tá Thiệu lúc đó còn ngồi một cách khiêm tốn ở hàng sau giữa những ông tướng có vẻ hùng hổ, tự đắc. Khuôn mặt ông Thiệu ngày đó còn gầy guộc, nhưng đã thấy trong đôi mắt nét sắc sảo, hứa hẹn một bước tiến chính trị rộng mở trong tương lai.

Là một sĩ quan cấp úy nhỏ nhoi trong đội quân cả triệu người, thì hiểu biết được bao nhiêu mà dám viết về một Tổng thống, một Tổng Tư Lệnh Quân đội! Nhất là về cố Tổng thống Thiệu, người đã được công chúng và nhiều sử gia nhận xét thiếu công minh cho đến khi các tài liệu dần dần được giải mật và công bố để trả lại cho ông phần nào sự công bằng.

Lần đầu tiên tôi được gần ông nhất là ngày lễ mãn khoá của Khoá 1 Sĩ quan hiện dịch Chiến Tranh Chính Trị vào đầu tháng 5 năm 1969. Sau đại lễ huy hoàng tại vũ đình trường, các tân thiếu úy được đưa vào hội trường mới xây phía sau lưng toà nhà Bộ Chỉ Huy. Nơi đây, chúng tôi sắp hàng một để lần lược bước đến nhận quà do Tổng thống trao tận tay. Đó là một cây bút bi hiệu Parker, trên đó có in huy hiệu của Tổng Thống bằng kim nhũ và một cửa sổ nhỏ để mỗi lần bấm thì hiện ra theo thứ tự các dòng chữ biểu hiện ba mục tiêu mà chính phủ của ông đã đề ra: xây dựng dân chủ, giải quyết chiến tranh, và cải tạo xã hội.

Nhận xét đầu tiên khi đối mặt vị Tổng thống là ông có khuôn mặt nhỏ nhưng rất thông minh, đôi mắt sáng sắc sảo, và nụ cười rất thân tình, cởi mở. Nhờ đó, những tân thiếu úy đã không cảm thấy khoảng cách quá xa đối với người lãnh đạo cao nhất của quốc gia và quân đội. Ông đã dùng cơm với chúng tôi sau khi ban một huấn thị ngắn và đầy ý nghĩa của một người anh đối với các em vừa chuẩn bị bước vào cuộc chiến gian nguy.

Vì đường công danh chính trị của ông phát xuất từ Sư Đoàn 5 Bộ binh, nên mối quan tâm của ông đối với sư đoàn này cũng có phần đặc biệt ưu đãi. Các tư lịnh sư đoàn thường là những vị thân tín của Tổng thống Thiệu và rất có tương lai trong binh nghiệp. Sau khi ra trường tôi may mắn phục vụ sư đoàn này, và đã từng hãnh diện khi nhìn thấy tấm hình của vị cựu Tư lịnh Nguyễn Văn Thiệu treo trong các phòng họp cấp Sư đoàn và Trung đoàn. Ngoài cái biệt danh “Sư Đoàn Nùng” (vì là hậu thân của một đơn vị toàn người Nùng từ miền Thượng Du Bắc Việt chuyển vào sau hiệp định Geneve), người ta còn gọi chúng tôi là “lính ông Thiệu”.

Thuyên chuyển qua Không Quân cuối năm 1971, tôi không được vinh dự tham chiến trận An Lộc vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, nên không được có mặt công kênh Tổng thống khi ông đến chiến trường ủy lạo binh sĩ giữa lúc tiếng súng còn chưa dứt ở các đồn diền cao su quanh thị trấn An Lộc đổ nát. Chúng tôi quý ông ở điểm này. Là một nguyên thủ quốc gia, ông có quyền hưởng những ngày tết an toàn ở thủ đô trong không khí hạnh phúc của gia đình. Nhưng không có Tết nào mà ông không tìm đến với các đơn vị tiền đồn hẻo lánh. Trong bộ ka ki bốn túi bình dị, chiếc nón jockey đen có phù hiệu hai con rồng, Tổng thống Thiệu đã mang lại cho những người lính chiến chúng tôi niềm an ủi sâu xa thể hiện một mối quan tâm mà hiếm khi thấy được ở những vị lãnh đạo khác.

Tính bình dị của ông, lần nữa tôi được thấy khi ông đến thăm Căn Cứ 20 Chiến Thuật Không Quân ở Phan Rang. Hồi đó là gần cuối năm 1972, sau khi chúng tôi hoàn tất việc tiếp nhận căn cứ từ Không Lực Hoa Kỳ. Một đại đơn vị tân lập của Không Quân Việt Nam đang thành hình, đi vào ổn định để tích cực tham gia chiến đấu ở Vùng 2 Chiến thuật.

Tổng thống đã đến với chúng tôi, ăn tối với các sĩ quan tại Câu Lạc Bộ trên ngọn đồi nhìn ra hướng bờ biển Ninh Chữ. Không một chút quan cách, lễ nghi, ông đã tươi cười trò chuyện cùng chúng tôi trong hơn hai tiếng đồng hồ. Ông đã trao cho Căn cứ một món tiền nhỏ và dí dỏm: “Thường là cấp nhỏ hối lộ cấp trên! Bây giờ thì tôi hối lộ các anh”. Số là Tổng thống còn bà mẹ già đang ở trong căn nhà gần bờ biển. Hàng ngày, các phản lực cơ của Không đoàn 92 Chiến Thuật cất cánh thường bay qua phía làng của Tổng Thống. Tiếng gầm rú của động cơ quấy nhiễu không khí yên bình của bà cụ, làm bà sợ hãi. Ông Tổng Tư Lệnh phải hối lộ cho thuộc cấp để yêu cầu bay chệch một chút, né cái làng Ninh Chữ kia ra.

Miền Nam mất.

Người ta đổ lỗi cho nhau. Người chịu nhiều tai tiếng là Tổng thống Thiệu.

Dĩ nhiên, ông không thể tránh phần trách nhiệm nặng nề đã làm mất miền Nam mà hậu quả là Cộng sản đã đưa đẩy mười lăm triệu đồng bào vào hỏa ngục, gần ba trăm ngàn đồng đội vào các trại tù khắc nghiệt mà hậu quả có hàng chục ngàn đã chết cách này hay cách khác, cùng với cả triệu người liều thân vượt biển mà con số bỏ thây làm mồi cho cá lên đến hơn một nửa.

Ông cũng bị tai tiếng về tài sản miền Nam, điển hình là 16 tấn vàng mà thực tế là đã do tên phản bội Nguyễn Văn Hảo trao lại cho bọn Việt Cộng. Lưu vong ra nước ngoài, ông đã sống ẩn dật, không ồn ào phô trương mà âm thầm chịu đựng búa rìu dư luận. Có thể ông có tài sản lên đến bạc triệu đô la. Nhưng nó đáng kể vào đâu nếu so sánh với con số hàng tỷ đô là mà bọn Việt Cộng thủ đắc hiện nay ?

Tôi cầu xin vong linh cố Tổng Thống tha thứ vì chính tôi cũng đã có lần viết thiếu công bằng về ông khi nhìn sự thất bại của miền Nam theo cách nhìn hạn hẹp của mình. Làm lãnh tụ một nước nhỏ, hoàn toàn lệ thuộc về kinh viện và quân viện của ngoại bang, thì việc quyết định không thể nào tự chủ được. Tổng thống Diệm cũng vì yêu nước, kiên cường trước áp lực Mỹ mà bị thảm sát. Tổng thống Thiệu đã vẫy vùng mà không thoát được. Ông cũng đã từng chứng tỏ sự can đảm, cứng rắn đến độ căng thẳng với Mỹ trong thời gian chuẩn bị Hoà Đàm Paris. Ông cũng từng đối đầu với tên cáo già Henry Kissinger và đã bị tên Do Thái này gán cho những từ ngữ không đẹp. Tựu trung, ông đã chứng minh bản lãnh, lòng yêu nước, trí thông minh đáng để chúng ta khâm phục hơn là trách cứ. Sự thành bại của miền Nam hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của chúng ta.

Duy chỉ có một điều chúng tôi trách ông. Đó là việc dùng người của ông thiên về cảm tình, sự trung thành hơn là dựa trên khả năng. Tiếc thay cho những anh tài không được trọng dụng, mà thay vào đó là những tướng lãnh thiếu kinh nghiệm chiến đấu, một số thì đầy lòng tham. Hậu quả là nạn tham nhũng đã làm suy giảm tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam. Quân Lực VNCH có hơn trăm vị tướng mà con số vị trong sạch tài đức chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mà ngay họ cũng chẳng ngồi lâu hay được trọng dụng đúng với khả năng. Khi thành lập đảng Dân Chủ, Tổng Thống Thiệu đã vì an toàn chính trị của mình mà làm tan vỡ khối đại đoàn kết quốc gia giữa các đảng phái chính trị và tôn giáo. Những năm đấu thập niên 1970, khi tình hình quân sự rất khả quan, phải chi ông chú tâm vào cuộc chiến bài trừ tham nhũng, nâng đỡ đối lập, phát huy thêm tự do để tăng cường sức mạnh quần chúng thì có hy vọng cải thiện phần nào cách nhìn của người Mỹ và cuộc chiến đã không kết thúc theo chiều hướng bi đát như đã xảy ra năm 1975.
Nói gì đi nữa thì công và tôi của một vị Tổng thống phải chờ thêm thời gian để phán đoán. Những cuốn sách do các chính khách, báo giới cả Mỹ lẫn Việt viết ra sau này, những tài liệu được giải mật đã đem lại phần nào sự xét đoán công minh về vị Tổng thống thứ hai của chế độ Cộng Hoà Việt Nam.

Hôm nay, nhân ngày giỗ lần thứ 8 của cố Tổng Thống, tôi mua chai Chivas Regal (loại rượu mà ông thường dùng), rót ra một chung để kính mời người cựu Tư Lệnh Sư Đoàn. Tôi vẫn quý ông về lòng ái quốc và những đức tính hiếm hoi trong vai trò người lãnh đạo quốc gia và nhất là người Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Lực VNCH.

Chúng ta sẽ nhớ mãi câu nói của ông:
    ”Sống mà không có Tự do, thì coi như đã chết”
    (To live without freedom is to have already died.)
Austin, tháng 9, 2009
Kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 8 của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009)

Đỗ Văn Phúc
oooOooo

Bài điếu văn của cựu Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp đọc trước linh cửu Cố Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU ngày 5/10/2001
    Kính thưa Phu Nhân Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU và gia đình,
    Kính thưa các cấp cựu Tướng Lãnh,
    Kính thưa các vị Quan Khách.
Hôm nay tôi được chỉ định đại diện Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến đây để thành kính nghiêng mình trước linh cữu của cựu Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và cũng là vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Trước sự mất mát lớn lao của gia đình, QLVNCH chúng tôi xin trân trọng chia buồn cùng phu nhân và tang quyến.
    Kính thưa Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU,

    Từ đâu đó chúng ta đã từng nghe những lời như sau:

    "Như ngọn gió, ta từ đâu tới ?
    Ai trả lời câu hỏi giùm ta.
    Cõi trần một thoáng vút qua,
    Dẫu trăm năm tuổi ... chỉ là giấc mơ !"
Giấc mơ nào thì cũng vô cùng ngắn ngủi, vì đời người như gió thoảng qua, và nơi kiếp phù sinh có ai sống mãi bao giờ.

Xuất thân từ khóa I Sĩ Quan Võ Bị Huế năm 1948. Tiếp theo chuỗi thời gian dài, Tổng Thống đã phục vụ dưới cờ qua khắp các chiến trường Trung Nam Bắc và qua các chức vụ từ Trung Ðội Trưởng, Ðại Ðội Trưởng, Tiểu Ðoàn Trưởng, Tư Lệnh Sư Ðoàn, Quân Ðoàn đến Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng, và cuối cùng là Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia rồi Tổng Thống nền Ðệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa.

Ðã 3 lần phục vụ tại Trường Võ Bị Sĩ Quan Dalat. Vào năm 1951, Tổng Thống là Sĩ Quan Huấn Luyện Viên của Khóa 5 Võ Bị Dalat, một khóa nổi tiếng trong lịch sử của Trường, đã đào tạo ra nhiều vị Tư Lệnh Sư Ðoàn và Quân Ðoàn cho QLVNCH.

Hai lần sau đó Tổng Thống đã đảm nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng của Trường nầy vào các năm từ 1957 và 1958 tới 1960.

Trong chức vụ trên, Tổng Thống đã dày công xây dựng nền tảng cho Trường Võ Bị từ ngày đầu tiên của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa - Từ cải tổ chương trình huấn luyện liên quân cho đến các nghi thức, lễ phục, phù hiệu, trong đó có phần lễ Truy Ðiệu Tử Sĩ đã tạo nhiều cảm xúc lưu truyền đến ngày nay. Tổng Thống cũng tổ chức lại phần quan trọng trong chương trình Văn Hóa, kéo dài thời gian huấn luyện 4 năm đào tạo, các sinh viên Võ Bị ra trường có trình độ cấp Ðại Học để đảm nhiệm được những chức vụ chuyên môn ngoài lãnh vực quân sự.

Ngày 19 tháng 6 năm 1965, Tổng Thống đã cùng các Tướng Lãnh trong Hội Ðồng Quân Nhân đứng ra đảm nhiệm trách vụ lịch sử, lãnh đạo Quốc Gia sau một thời gian đất nước bị xáo trộn và khủng hoảng khắp nơi. Ðể lấy lại niềm tin cho Quốc dân và Quân Ðội, Hội Ðồng Quân Nhân dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống đã đưa ra quyết tâm:
    1. Tôn trọng tinh thần dân chủ và
    2. Quân Ðội phải triệt để phục vụ toàn dân.
Từng bước một, Tổng Thống cùng toàn thể Chính Phủ chấn chỉnh an ninh trật tự, nêu cao tinh thần Quân Ðội, thực hiện cuộc bầu cử Quốc Hội với Bản Hiến Pháp mở đầu cho giai đoạn dân chủ căn bản của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa.

Và từ đó ngày 19 tháng 6 cũng trở thành Ngày Quân Lực và ngày này đã gắn liền tên tuổi của Tổng Thống cùng các vị Tướng Lãnh đã can đảm ra nắm quyền lo việc đất nước lúc bấy giờ.

Trong thời gian lãnh đạo, Tổng Thống luôn luôn có mặt tại các chiến trường, đặc biệt trong các trận chiến lớn lao và khốc liệt để thăm viếng, ủy lạo, khuyến khích tinh thần các cấp quân dân chống lại quân thù.

Mặt trận An Lộc, Trị Thiên như dầu sôi lửa bỏng, cả thế giới cùng theo dõi lo ngại, Tổng Thống cũng đã đến tận nơi để chia sẻ nỗi hiểm nguy và khổ cực của quân dân.

Giai Ðoạn từ 1971 đến tháng 4-1975 là giai đoạn hết sức khó khăn cho vị lãnh đạo như Tổng Thống - Mặt trận dồn dập tiếng súng không dứt, ngày đêm Tổng Thống phải theo dõi chiến trường, mặt khác Tổng Thống phải liên tục đấu trí hòa đàm trước những áp lực và dối trá của Ðồng Minh đã không muốn cho chúng ta tham dự trực tiếp vào bàn thảo Hiệp Ðịnh Ba-Lê.

Từng giờ từng phút, lúc nào Tổng Thống cũng tỏ ra điềm tĩnh và can đảm ra sức tranh đấu quyết liệt cho quyền lợi và sự mất còn của quốc gia Việt Nam cho đến giây phút cuối cùng.

Nhưng than ôi!

Làm sao được khi mà tay của Tổng Thống cũng như của các Tướng Lãnh ngoài mặt trận đã bị trói chặt, khi mà vận nước đã đến hồi đen tối và khi mà lòng trời cũng đứng về phía mạnh và hình như Ngài cũng đã quyết định bắt buộc dân tộc Việt Nam phải trải qua một kiếp nạn không thể tránh khỏi thì từ Tổng Thống cho đến 17 triệu dân Miền Nam cũng đành cam số phận mà thôi.

Từ khi ra nước ngoài, Tổng Thống cũng không ngại miệng tiếng thị phi vẫn luôn luôn cố gắng gặp gỡ nhiều cấp và cũng đã có nhiều dịp tâm sự cùng các cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat cũng như các chiến hữu khác, để khuyên nhủ anh em cố gắng giữ vững niềm tin, Quân Lực VNCH cố gắng giải phóng đất nước và mong anh em đừng bao giờ bỏ cuộc.
    Kính thưa Tổng Thống,
25 năm tại đất người, Tổng Thống thường khuyên anh em đừng bỏ cuộc nhưng hôm nay Tổng Thống đã bỏ cuộc ra đi vĩnh viễn về nơi an nghỉ. Lần bỏ cuộc nầy không có ai có thể trách cứ Tổng Thống được cả - Nghĩa Tử - Nghĩa Tận.

Thật vậy, từ ngày mất nước Tổng Thống đã bị nhiều nguồn dư luận lên án gần như đôi lúc quá khắt khe trong 2 việc là: Tổng Thống đã bỏ chạy không ở lại chiến đấu cùng anh em như lời đã hứa và sau đó là không lo gì cho đồng bào tỵ nạn cả.

Hôm nay ở đây nhắc lại, chúng tôi không đủ tư cách luận công hay giải oan vì lịch sử về sau sẽ nhận xét công bằng hơn - lịch sử bao giờ cũng khách quan và công bằng. Nhưng dù gì công việc làm đã qua và tinh thần tranh đấu bất khuất của Tổng Thống đối với Quốc gia, đối với đất nước thì quả những nguồn dư luận kia có phần khắt khe và có phần nào oan uổng cho người có lòng.

Việc Tổng Thống ra đi hay ở lại, đã là một sự trả giá xong xuôi giữa Cộng sản và Ðồng minh của chúng ta rồi. Hơn nữa sự ra đi của Tổng Thống là một áp lực đe dọa lấy cớ nếu Tổng Thống không đi thì Miền Nam không thể nào giải quyết được; Và đó là điều kiện căn bản Cộng sản đòi hỏi nhiều năm trên bàn hội nghị, và đó cũng là màn bịp bợm mua bán của BẠN và THÙ.

Về việc đồng bào tỵ nạn, có thể một vài tờ báo ngoại quốc diễn đạt lệch lạc và sai hẳn ý nghĩ của Tổng Thống. Làn sóng người Việt tỵ nạn lên đến hằng triệu người, cả thế giới phải điên đầu góp tay cứu giúp còn chưa xong, làm sao Tổng Thống có thể làm gì được khi thân phận chính mình cũng đang là một người tỵ nạn không biết về đâu.
    Thưa Tổng Thống,
Trong sự mất mát lớn lao của đất nước qua 25 năm nay, chúng tôi biết Tổng Thống là người chịu đựng đau khổ âm thầm nhất, người chịu đắng cay nhiều nhất, nhưng Tổng Thống luôn luôn cố giữ yên lặng nuốt trôi tất cả buồn giận của thế nhân. Tất cả mọi người không ai bao giờ muốn mình có lỗi cả, chỉ việc đổ lỗi cho vị lãnh đạo là mình được yên tâm rồi ? Ðến ngay cả những kẻ mưu mô bán đứng miền Nam Việt Nam cho Cộng sản cũng đã tạo ra dư luận là QLVNCH là bất lực và tham nhũng để mất miền Nam!

Chúng tôi biết trong nhà Tổng Thống, đặc biệt trong phòng đọc sách bị cấm không một ai được vào để ở đó Tổng Thống đôi lúc giam mình, yên lặng suy nghĩ hằng ngày hằng đêm.

Cũng có những buổi chiều ngồi bên hồ vắng, Tổng Thống đã lặng đi hằng giờ trầm ngâm suy tưởng cho chính mình và cho đất nước rằng biết bao giờ được thanh bình và hơn 70 triệu dân thoát khỏi ách Cộng sản để có được tự do no ấm.
    Kính thưa Tổng Thống,
Thôi, từ xưa tới nay, dễ mấy ai vội đem sự thành bại luận anh hùng?

Tôi xin đọc vài vần thơ dưới đây của một cựu sinh viên Sĩ Quan Khóa 12 Võ Bị Dalat để tiễn đưa anh linh Tổng Thống cùng cánh Hoa Dù...bay về nơi vĩnh cửu - Nơi đó có hằng rừng Quốc và Quân kỳ - Nơi đó có những Hiệu kỳ của 4 Quân Ðoàn cùng toàn thể Hiệu kỳ của các Quân Binh Chủng, Nha Sở thuộc QLVNCH đang chờ chào đón Tổng Thống:
    "Chúng ta, trước như sau, vẫn Ðúng,
    Dưới trời xanh, sừng sững hiên ngang.

    Lời thề xưa ... vẫn rền vang:


    - Không nề gian khổ, chẳng màng lợi danh !
    Ai luận việc không thành, cứ xét.
    Mặc cho đời suy tính thiệt hơn.
    Chúng ta ... không có gì buồn,
    Tiếc chăng,
    Tiếc chăng chẳng được chiến trường phơi thây !"
Hôm nay tụ họp nơi đây, trên 11 vị Tướng Lãnh, hàng trăm Sĩ Quan các cấp từ các nơi đổ về đứng bên cạnh Tổng Thống, nhưng chưa hết, xin Tổng Thống lướt qua hàng trăm vòng hoa chung quanh, gần như đầy đủ tên tuổi các Tướng Lãnh đều về đây tiễn đưa Tổng Thống.

Chúng tôi cũng xin nguyện trước linh cữu của Tổng Thống vẫn luôn ghi tạc nhớ lời khuyên của Tổng Thống là Không bao giờ bỏ cuộc cho đến lúc toàn dân Việt Nam được giải phóng và tự do, no ấm. Nếu không làm được chúng tôi cũng xin bỏ mình theo Tổng Thống nơi đất người.

Một lần nữa, chúng tôi xin cầu nguyện linh hồn của cố Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU ra đi được an bình và được mọi sự che chở trong vòng tay đầy ân sủng của đấng Từ Bi Toàn Năng Cao Cả trên trời.
    Muôn vàn tiếc thương - Nghìn thu vĩnh biệt.
Phan Hòa Hiệp
oooOooo