Saturday, June 21, 2008

Tưởng Niệm Ngày QLVNCH 19/06/2008


Vinh Danh Đoàn Nữ Quân Nhân
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa






Friday, June 20, 2008

Lễ Thượng Kỳ ngày QLVNCH 19/06

Vào lúc 9 giờ sáng ngày 19/06/2008
tại công viên Cabra Vale Park
Cabramtta, Sydney NSW









Trần Văn Thinh

Wednesday, June 11, 2008

Giữ Vững Lằn Ranh Quốc Cộng

Thưa qúy chiến hữu và qúy đồng hương, dưới đây là một phần trong những ý kiến đóng góp cho Đại Hội Toàn Cầu lần thứ 16 cùa các Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia (tổ chức 2 năm 1 lần). Trên nguyên tắc, bài này chỉ phổ biến trong sinh hoạt nội bộ của tập thể Võ Bị, nhưng tôi thấy những nhận định này không những chỉ có giá trị và áp dụng cho 1 tập thể Võ Bị nhỏ bé thôi, mà có thể cũng sẽ đóng góp được phần nào vào công cuộc đấu tranh của cộng đồng người Việt Tỵ Nạn CS , vì vậy sau khi được sự chấp thuận của Tác giả Nguyễn Quốc Đống, Cựu SVSQ Khoá 13 và của Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Cựu SVSQ/TVBQGVN, xin được chuyển tới quý chiến hữu và qúy đồng hương bài nhận định "GIỮ VỮNG LẰN RANH QUỐC CỘNG ..."

huan23

Ý KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA CSVSQ NGUYỄN QUỐC ĐỐNG, K.13 GỬI ĐẾN ĐẠI HỘI KỲ THỨ 16 CỦA TỔNG HỘI CSVSQ/TVBQGVN (NGÀY 5-6 THÁNG 7, 2008 TẠI SAN JOSE, CALIFORNIA

GIỮ VỮNG LẰN RANH QUỐC CỘNG, PHÂN BIỆT RÕ BẠN THÙ ĐỂ ĐẨY MẠNH CÔNG CUỘC TRANH ĐẤU CHO TỰ DO, DÂN CHỦ TẠI QUÊ NHÀ

Tranh đấu cho 1 nước Việt Nam tự do dân chủ hầu mang lại hạnh phúc cho người dân là niềm mơ ước của mọi người dân Viê.t. Khi tình nguyện vào trường Võ Bị đại đa số chúng ta cũng mang niềm mơ ước này và chọn binh nghiệp làm phương tiện để thực hiện hoài bão to lớn đó. Trách nhiệm của người trai thời loạn cũng góp phần vào sự chọn lựa đầy ý nghĩa này của chúng ta. Chúng ta muốn trực diện cùng kẻ thù trên các trận địa, chặn đứng làn sóng tấn công của chúng trên chiến trường để bảo vệ nếp sống tự do và an bình cho người dân trên mảnh đất cuối cùng của chúng ta là miền Nam Việt Nam. Kẻ thù của chúng ta không phải là bọn ngoại xâm mà chính là những người cùng chung một huyết thống, cùng dòng giống Việt, cùng nói một ngôn ngữ, từng có chung 1 nền văn hóa. Nhưng những người anh em này chọn lựa chủ nghĩa ngoại lai Mác- Lênin, mơ ước xây dựng 1 chế độ xã hội chủ nghĩa để tiến đến chế độ Cộng sản mà họ từng mơ ước. Lãnh tụ của những người Cộng sản này là Hồ Chí Minh, người đem học thuyết Mác- Lê áp đặt lên dân tộc Việt và kể từ đó đất nước ta chìm đắm trong chiến tranh và nhân dân phải chịu muôn ngàn thống khổ. Vì vậy tuy cùng là dân 1 nước nhưng người Việt đã chia thành 2 phe rõ rệt: 1 phe “Cộng sản” quyết thực hiện “3 dòng thác cách mạng” tại quê nhà bằng mọi giá: cách mạng giải phóng dân tộc (nói là để giành độc lập khỏi sự thống trị của ngoại bang), cách mạng dân chủ, nhân dân (giành lại quyền làm chủ về chính trị cho người dân) và cách mạng vô sản (tiêu diệt giai cấp tư sản bóc lột). Giấc mơ của người Cộng sản là 1 thế giới đại đồng với tất cả các quốc gia đều là anh em cùng tin tưởng ở chủ thuyết Mác- Lênin. Ranh giới các quốc gia sẽ không còn, gia đình phải lùi bước trước xã hội và tôn giáo cũng sẽ không còn chỗ đứng vì đã có "ánh sáng Mác-Lê" thay thế. Ý thức được chủ thuyết ngoại lai này một khi được hình thành sẽ tiêu diệt toàn bộ nếp sống tự do, dân chủ của người dân và tiêu diệt toàn bộ nền văn hóa dân tộc đã hình thành trong nhiều ngàn năm qua, cả triệu dân miền Bắc đã di cư vào miền Nam và cùng nhân dân miền Nam góp công xây dựng 1 quốc gia không Cộng sản là Việt Nam Cộng Hòa.

Chế độ VNCH tuy chỉ đứng vững được 21 năm nhưng đã tỏ rõ là 1 chế độ nhân bản tôn trọng các quyền tự do căn bản của con người, đem lại cơm no, áo ấm cho người dân dù phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài. Trong cuộc chiến chống Cộng sản miền Bắc xâm lược, 1 số chúng ta đã không giữ được lằn ranh Quốc-Cộng nên đã để cho kẻ thù xâm nhập được vào phòng tuyến của chúng ta, lung lạc ý chí chiến đấu của chúng ta và sau cùng lũng đoạn hàng ngũ của chúng ta. Cùng với một số yếu tố bất lợi khác của hoàn cảnh lịch sử, chúng ta đã bị bắt buộc phải buông súng, chấm dứt cuộc chiến khi trách nhiệm chưa hoàn thành, ước mơ chưa thực hiê.n. Đó chính là nguyên nhân thúc đẩy người cựu SVSQVB tỵ nạn Cộng Sản hiện đang định cư ở các nước từ hơn 30 năm qua vẫn tiếp nối công cuộc chống Cộng còn dở dang.

Cuộc chiến Quốc- Cộng chỉ chấm dứt trên các trận địa nhưng hòa bình thực sự thì không có và sự hòa giải dân tộc chưa bao giờ xảy ra. Cộng Sản VN trong tư thế của kẻ thắng trận đã thi hành 1 chính sách trả thù vô cùng tàn độc đối với những người mà chúng rêu rao là “được giải phóng”. Chúng ta là 1 trong các đối tượng chịu những đòn thù thâm độc nhất. Nhiều người trong chúng ta đã phải trải qua tuổi thanh xuân trong các trại lao cải ở khắp các vùng xa xôi từ Nam chí Bắc. Nhiều người bị thủ tiêu, tra tấn, đánh đập dã man hoặc chết vì đói rét, bệnh tật. Nhưng nhiều người trong chúng ta cũng còn may mắn trở về được từ những địa ngục trần gian này. Nhờ bàn tay bao dung của thế giới tự do chúng ta tìm được 1 mái ấm gia đình mới cho bản thân và gia đình. Chúng ta được hít thở không khí tự do và được sống với phẩm giá của 1 con người. Những điều này vẫn chỉ là 1 ước mơ đối với đa số người dân Việt tại quê nhà hiện nay. Vậy chúng ta có thể nào tự bằng lòng với những gì mình đang được thụ huởng, cho rằng mình chiến đấu đã quá đủ và trả giá cũng đã quá đủ hay không? Chúng ta có thể thờ ơ với những gì đang xảy ra cho đồng bào tại quê nhà và dửng dưng với những nỗ lực của đồng hương tỵ nạn Cộng Sản đang tranh đấu chống sự xâm nhập của Cộng Sản ngay tại mảnh đất trú thân cuối cùng của chúng ta và con cháu hay không? Đã hơn 30 năm sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản miền Bắc xâm lược, lằn ranh Quốc-Cộng vẫn còn đậm nét trong lòng những người Việt quốc gia yêu nước, yêu tự do, dân chủ. Họ không thể nào chấp nhận hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản vì những người này chưa bao giờ thực lòng chấp nhận những ai đi ngược lại đường lối, chính sách của họ. Có thể nói Quốc gia và Cộng Sản là 2 phe đối nghịch nhau như nước và lửa.

Một số người cho rằng Cộng Sản đã thay đổi rồi nên đâu cần phải chống chúng. Họ chỉ nhìn thấy sự thay đổi ở cái bề mặt hào nhoáng, các tụ điểm ăn chơi tấp nập, các khách sạn 5 sao sang trọng, các số tiền đầu tư to lớn được đổ vào thị trường kinh tế VN để rồi thấy phấn khởi cho tương lai của đất nước và dân tộc. Họ không ý thức được rằng chỉ có 1 thiểu số cán bộ cầm quyền và bè lũ tay sai được hưởng phúc lợi của những món tiền đầu tư to lớn này, còn đại đa số dân thường vẫn sống trong lầm than, nghèo đói và đất nước đang dần dần mất đi sự độc lập và chủ quyền quốc gia vì CSVN lợi dụng vị thế độc tôn của mình để cắt đất, dâng biển cho đàn anh Trung Cộng. Họ không thấy được đằng sau nếp sống xa hoa kia là cả 1 thế giới tối tăm vô vọng của những gia đình phải để con gái bán thân và để con trai bán sức lao động tại nước ngoài. Cộng Sản Việt Nam có thể thù chúng ta là những kẻ bỏ nước ra đi nhưng chúng cũng chẳng đem lại cuộc sống ấm no gì cho người dân trong nước, chẳng độc lập, không tự do và tất nhiên cũng không có hạnh phúc nữa. Cuộc chiến Quốc-Cộng giờ đây là cuộc chiến của những người yêu chuộng tự do, dân chủ và những tội đồ của dân tộc: những kẻ buôn dân, bán nước với lòng tham vô đáy: tham quyền, tham tiền, tham danh, tham lợi ….

Chúng ta có đủ tư cách tham gia cuộc chiến Quốc-Cộng này hay không? Thứ nhất đây vẫn là trách nhiệm của chúng ta, những người trai tự nguyện đem tuổi trẻ và nhiệt huyết cống hiến cho đất nước và dân tộc, quyết tâm xây dựng 1 nước Việt Nam tự do, dân chủ, những lý tưởng cao cả của con người. Thứ hai, chúng ta được hoàn cảnh tạo cho mình những điều kiện thuận lợi để tôi luyện ý chí, rèn luyện kỹ năng. Thời gian quả đã khiến nhiều anh em trong chúng ta nhụt mất ý chí và mất định hướng tranh đấu nhưng số anh em chúng ta còn nuôi dưỡng được nhiệt huyết với quốc gia, dân tộc không phải là nhỏ. Một số bạn tương đối còn trẻ còn có cơ hội trở lại trường học tiếp bậc đại học và học lên đến cao học hay tiến sĩ. Đây là những thành phần chất xám rất đáng quý của chúng ta. Nếu chúng ta biết sử dụng những tri thức thu nhập được tại xứ sở tạm dung này vào công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ tại quê nhà, cuộc tranh đấu này sẽ có 1 luồng gió mới và chắc chắn sẽ đạt được nhiều thành quả hơn trong tương lai. Điều quan trọng là tổ chức của chúng ta biết xây dựng cho tập thể chúng ta 1 ý thức trách nhiệm đúng đắn, 1 lý tưởng vững mạnh để chống lại sự tuyên truyền nguy hiểm của kẻ thù. Còn nếu chúng ta không còn trẻ nữa thì mình vẫn còn có thể đóng góp cho công cuộc tranh đấu chung bằng các kinh nghiệm quý giá của bản thân. Sự hướng dẫn đứng đắn của các bậc đàn anh luôn luôn là những bài học quý báu đem lại niềm tin cho thế hệ đàn em và cho các cháu Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu.

Một điều nữa chúng ta không thể quên được là dù chúng ta có dễ dãi với kẻ thù và muốn quên đi quá khứ để yên thân với hiện tại, chúng cũng không để chúng ta yên thân. Chắc chúng ta chưa quên những lời nói miệt thị mà CSVN dành cho những người bỏ trốn khỏi chế độ của chúng. Chúng coi những người di tản khỏi đất nước khi miền Nam rơi vào tay CS tháng 4 năm 1975 hay những người vượt biên sau này là “thành phần cặn bã của xã hội, chạy theo đế quốc để hưởng bơ thừa, sữa cặn”. Ngày nay, chứng kiến sự thành công của họ tại hải ngoại, chúng lại muốn khống chế người Việt hải ngoại để họ đem tiền bạc về cho chúng hưởng lợi. Cuộc tranh đấu của chúng ta bước sang 1 trang mới, với những khó khăn mới. Kẻ thù của chúng ta bây giờ dùng những thủ đoạn gian manh, tinh vi hơn để mong đánh lừa chúng ta 1 lần nữa. Chúng ta còn gặp nhiều khó khăn hơn xưa vì ngoài kẻ thù rõ mặt là bọn cán bộ CS, chúng ta còn phải đối phó với “nội thù”. Bọn này còn nguy hiểm và khó thắng hơn cả bọn cán bộ CS vì chúng nằm ngay trong hàng ngũ của chúng ta. Chúng biết ta mà có khi ta không biết được những âm mưu của chúng. Chúng phá ta mà đôi khi ta cứ tưởng chúng là bạn nên không đối phó được. Đến khi chuyện xảy ra và biết được kẻ thù là ai thì mọi chuyện đã quá trễ: tác hại đã xảy ra, lực lượng bị tiêu hao và sự đoàn kết đã mất đi nhiều.

Nhìn vào tình trạng của cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại hiện nay chúng ta phải công nhận 1 trong những nhược điểm của chúng ta là quá dễ dãi trong vấn đề phân biệt bạn-thù, không giữ vững lằn ranh Quốc-Cộng nên đã để mất định hướng, không tập họp đúng lực lượng và để kẻ thù len lỏi quá sâu vào hàng ngũ chống Cộng. Trong nhiều năm chúng ta còn nuôi dưỡng cho kẻ thù của chúng ta lớn mạnh để sau này khi có điều kiện thuận lợi chúng không ngần ngại phá hoại hàng ngũ của chúng ta. Hãy nhìn vào các hiện tượng như tuần báo Việt Weekly công khai ca tụng CSVN, nhật báo Người Việt tại Nam California ca tụng lãnh tụ CS và nhục mạ quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ, ca sĩ hải ngoại tổ chức chương trình ca nhạc để tưởng niệm Trịnh Công Sơn, tên Cộng Sản nằm vùng nguy hiểm, kẻ đã dùng những dòng nhạc ủy mị, phản chiến để lung lạc ý chí tranh đấu chống Cộng của quân dân miền Nam, các tăng sĩ chủ trương cộng tác với bạo quyền để được an thân hành đạo, làm việc thiện, làm văn hóa và công khai chống lại các tăng sĩ chủ trương phải tranh đấu để có tự do tôn giáo đích thực. Hãy nhìn vào các thương gia sống và làm giàu nhờ vào đồng hương tỵ nạn CS nay quay sang bắt tay với kẻ thù để thủ lợi nhiều hơn. Hãy nhìn quanh ta để thấy không thiếu gì những ca sĩ về nước ca hát đánh bóng cho bạo quyền CS và nói xấu đồng bào hải ngoại … Những kẻ đón gió, trở cờ loại này càng ngày càng nhiều.

Chúng ta có nên thất vọng và buông tay đầu hàng hay không khi hoàn cảnh cho thấy chúng ta gặp rất nhiều bất lợi trong 1 cuộc chiến không cân sức như hiện nay? Kẻ thù của chúng ta nắm trọn quyền hành trong 1 đất nước thống nhất nên tài nguyên, nhân lực đều quy về 1 mối. Kẻ thù của chúng ta lại gian ác và sẵn sàng thi hành mọi thủ đoạn hiểm độc để lũng đoạn hàng ngũ của chúng ta. Chúng dùng hết nghị quyết này đến nghị quyết khác để khống chế hơn 3 triệu người Việt tỵ nạn CS tại hải ngoại tuy chỉ là thiểu số so với hơn 80 triệu dân trong nước nhưng có 1 ý chí kiên cường và 1 tấm lòng tha thiết với tiền đồ của đất nước. Thực tế cho chúng ta thấy dù phải đối phó với mọi âm mưu thâm độc của CS và tay sai (bọn Việt gian sẵn sàng thi hành kế sách của CS để phá hoại sự đoàn kết và làm tiêu hao lực lượng của chúng ta), chúng ta vẫn kiên quyết không lùi bước trước sự tấn công và phá hoại của chúng. Sự kiện Trần Trường năm 1999 tại Nam California là 1 tập họp ngoạn mục của những người dân không chấp nhận sự hiện diện của các biểu tượng CS tại thủ đô của người Việt tỵ nạn CS tại Hoa Kỳ. Chiến dịch vinh danh cờ VNCH tại nhiều tiểu bang, các quận hạt và thành phố tại Hoa Kỳ cho thấy ý chí cương quyết bảo vệ căn cước tỵ nạn của chúng ta. Các công trình xây dựng các đài tưởng niệm chiến sĩ để nêu cao chính nghĩa quốc gia và vinh danh các anh hùng tử sĩ vị quốc vong thân tại các cộng đồng có đông dân Việt tỵ nạn CS chứng tỏ chúng ta không quên lịch sử tỵ nạn CS của cộng đồng người Việt. Và mới đây nhất cuộc tranh đấu trường kỳ của đồng hương San Jose để bảo vệ danh xưng Little Saigon cho 1 khu thương mại của người Việt, đồng thời cũng là để bảo vệ căn cước tỵ nạn chính trị chống lại sự lạm quyền của 1 số chức sắc dân cử có hành động phản dân chủ và có biểu hiện phục vụ cho những kẻ làm hại cho công cuộc chống Cộng của chúng ta. Đây là những thành quả đáng trân trọng trrong cuộc chiến Quốc –Cộng hiện nay.

Lý tưởng mà chúng ta chọn lựa là 1 lý tưởng đúng đắn. Tranh đấu cho Việt Nam có tự do, dân chủ thực sự là trách nhiệm của tất cả mọi công dân yêu nước. Muốn thế chúng ta phải có ý chí vững mạnh, có quyết tâm cao độ và phải chịu hy sinh. Không có thành quả nào có thể đạt được mà không tốn mồ hôi, nước mắt và có khi cả xương máu nữa. Nhưng có những sự hy sinh chúng ta không thể từ chối được nếu đó là giá phải trả cho một cuộc sống có phẩm giá, cho sự trường tồn của 1 nền văn hóa và sự sống còn của 1 dân tộc. Trong cuộc tranh đấu trường kỳ Quốc- Cộng này, chúng ta cần khắc phục 1 nhược điểm lớn: đừng coi thường kẻ nội thù, phải biết nhận diện và cô lập bọn người này để thanh lọc hàng ngũ và giữ vững sự đoàn kết. Chúng ta hẳn còn nhớ chuyện An Dương Vương ngày xưa mất cả vươngï nghiệp không vì kẻ ngoại xâm mà chính vì kẻ nội thù. Chính con gái của nhà vua đã vô tình giúp kẻ thù làm sụp đổ cơ nghiệp của phụ vương khiến đất nước rơi vào sự thống trị của ngoại bang. Biết được kẻ nộâi thù là ai, nhà vua đã can đảm vung gươm giết ngay, dù đó là con gái của chính mình. Trong hàng ngũ các cựu SVSQ Võ Bị, chúng ta không thiếu các tấm gương sáng sẵn sàng hy sinh vì cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ tại quê nhà. Nhưng nếu các hoạt động của các cá nhân hay các hội địa phương được nhân lên thành 1 phong trào và Tổng Hội mạnh dạn hỗ trợ cho các hoạt động đúng đắn phù hợp với tôn chỉ của TH thì kết quả đạt được sẽ nhiều hơn và có ý nghĩa hơn. Chúng ta cần đoàn kết các thành phần cùng chung ý chí nhưng cương quyết loại trừ các thành phần có tư tưởng yếm thế, chủ bại, có hành động gây hại cho công cuộc tranh đấu chống Cộng của chúng ta.

Nhìn vào thực trạng xã hội Việt Nam hiện nay sau hơn 30 năm Đảng Cộng Sản Việt Nam thống trị đất nước, tôi thiết nghĩ tập thể cựu SVSQVB cần tạo 1 sự đoàn kết lớn mạnh, thống nhất ý chí để cùng nhau hành động hữu hiệu trong cuộc chiến Quốc-Cộng đang tiếp diễn gay gắt hiện nay tại hải ngoa.i. Ban Chấp Hành Tổng Hội cần sáng suốt và chủ động trong việc lãnh đạo các hội địa phương để các cựu SVSQVB được tập họp thành 1 khối vững chắc biết hành động đúng đắn để có thể đạt được những mục tiêu cao đẹp do Tổng Hội đề ra. Lịch sử đã chứng minh Hồ Chí Minh và tay sai của ông ta là các tội đồ của dân tộc, quá trình hoạt động của Đảng CSVN là 1 quá trình dối trá, lường gạt nên chúng ta không thể để bị chúng lừa thêm 1 lần nữa. Chúng ta dứt khoát không chấp nhận hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản như bè lũ tay sai của CS đang nỗ lực tuyên truyền, vận động mà phải dứt khoát tư tưởng và kiên trì trong cuộc chiến Quốc-Cộng hiện nay. Góp 1 phần trong cuộc chiến này, chúng ta có thể hãnh diện mình đã tiếp tục sống theo lý tưởng của người cựu SVSQ/TVBQGVN.

Nguyễn Quốc Đống, K.13
Tháng 4, 2008

Tuesday, June 10, 2008

Ngày Quân Lực của Một Chiến Binh

Giao Chỉ,
San Jose



Ngày 19 tháng 6-2008 nhằm ngày thứ năm. Tính từ ngày kỷ niệm quân lực lần thứ nhất vào năm 1965 đến nay đã được 43 năm. Vào thời gian đó, các niên trưởng đàn anh của chúng tôi đã lấy ngày tướng lãnh lên nắm chính quyền, sau thời gian đất nước xáo trộn, để gọi là Ngày Quân Lực. Vì vậy cái ý nghĩa nguyên ủy của nó xem ra cũng gượng ép, nhưng tinh thần của ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa cũng không vì thế mà coi nhẹ. Anh em nhà binh dù là quân binh chủng nào, và ngay cả địa phương quân, nghĩa quân, cán bộ nông thôn cũng đều là chiến sĩ của miền Nam,Việt Nam. Dù là Thủ Đức, Đà Lạt, hay Quang Trung, Đồng Đế, súng đạn nào có tránh aị Máu ai đổ cũng là máu đàọ Khi anh nằm xuống thì hồ sơ tử tuất đều cùng 1 mẫu như nhaụ Không tin các bạn nghe tôi kể câu chuyện sau đây:

Tôi vừa nhận được gói quà. Đây là món quà của tháng 6 mà niên trưởng Trung tá Nữ quân nhân có cái tên rất đẹp đẽ đã gửi cho tôị Xin lắng nghe lời của chị Hạnh Nhơn qua bức thơ của mùa quân lực năm 2008, từ Garden Grove, Nam Californiạ

Xin gửi anh Vũ văn Lộc,

Như đã thưa với anh hôm trước qua điện thoại, nay tôi xin gởi đến anh tất cả những tài liệu, di vật kỷ niệm của tử sĩ LÊ VĂN TRÍ mà bà quả phụ NGUYỄN THỊ A đã cất giữ từ mấy chục năm quạ Trước tấm lòng chung thủy và quả cảm của bà, tôi phải nghiêng mình kính phục. Bà đã lưu giữ những giấy tờ nầy trong nhà hơn 30 năm. Việt Cộng mà thấy được thì bà làm sao yên thân?

Càng đọc mấy quyển sổ tay của anh Lê văn Trí, càng cảm phục sự trung kiên của một Cán bộ Phát triển nông thôn. Con người mình tưởng là bình thường, đã ghi từng chi tiết những công tác hằng ngày. Chứng tỏ sự đóng góp không nhỏ trong cuộc chiến Quốc Cộng đã qua ...

Anh Lê văn Trí đi vào lịch sử cùng với những anh hùng tử sĩ hữu danh và vô danh đã hy sinh cho Tổ quốc chúng tạ Phải chăng anh đã chết oan uổng. Vì cuộc chiến đã tàn, mà người hiền lương lại thua kẻ gian ác ... Thật tội nghiệp!

Tôi đã chụp photo để làm hồ sơ cất giữ ở Hội chúng tôi. Cũng gởi giấy tờ cần thiết trả lại cho bà A.

Xin gửi anh các bản chính để lưu trữ vào Viện Bảo Tàng.

Thành thật cám ơn anh.

Rất quý mến,

Nguyễn thị Hạnh Nhơn

Sau đây là các chứng từ gửi cho Viện Bảo tàng Thuyền Nhân và VNCH tại San Jose:



Giấy ban khen, giấy khai tử, Nghị định của nha Hưu Bổng và Cấp Dưỡng, bản Trích lục Tư pháp số 3. Bản sao thẻ căn cước, sổ cấp dưỡng quả phụ, sổ trang bị cán bộ PTNT, bản nội quy khóa sinh, thẻ động viên tại chỗ. Phiếu trả thù lao, thẻ căn cước thẻ công vụ, 3 quyển sổ tay cán bộ Phát triển Nông thôn, ghi công tác năm 1973.

Tấm lịch năm 1972 có hình Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, Giấy chứng chỉ của Đoàn Cán bộ Phát triển Nông thôn. Thẻ đoàn viên giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo, tấm hình của bà quả phụ Nguyễn thị A trước bàn thờ của chồng, gói huy hiệu, phù hiệu và cờ VNCH.

Tất cả giấy tờ gửi đến cho viện Bảo tàng đều là bản chính.

Chị Hạnh Nhơn thân mến!

Tôi đã 75 tuổi nhưng vẫn làm việc đến 2 giờ sáng mỗi đêm. Tưởng là mình đã ngon lành. Nhưng bà niên trưởng đất thần kinh của tôi đã ngoài 80 mà vẫn còn thức để đọc 3 cuốn sổ tay của cán bộ xây dựng nông thôn Lê văn Trí thì quả thực chúng tôi hết sức ngưỡng mộ.

Bây giờ cũng đã quá nửa đêm của tháng 6-2008. Theo lời chị yêu cầu, chúng tôi đã đọc toàn bộ hồ sơ và xin báo cáo niên trưởng Hạnh Nhơn và các bạn bốn phương biết là chúng tôi đã tìm thấy những chuyện gì.

Giấy ban khen của Đại tá Tỉnh trưởng Chương Thiện số 21 ký ngày 12 tháng 1 năm 1974 long trọng tuyên dương Cán bộ Phát triển nông thôn xã Vĩnh Bình tên là Lê văn Trí. Người ký tên là Hồ ngọc Cẩn. Hai tháng sau, đêm 18 tháng 3-1974 thì anh chàng cán bộ xuất sắc của tỉnh Chương Thiện tử trận. Và chúng ta ai cũng biết. Một năm sau đến phiên đại tá Hồ ngọc Cẩn bị Việt Cộng xử bắn tại Chương Thiện. Lê văn Trí đã chiến đấu đến phút cuối cùng tại quận Vĩnh Bình. Hồ ngọc Cẩn cũng chiến đấu đến phút cuối cùng tại thị xã Chương Thiện.

Tất cả hồ sơ tử tuất và cá nhân của anh Trí vẫn còn được người vợ lưu giữ đầy đủ hơn ba mươi năm qua.

Lê văn Trí chết đêm 18 tháng 3-74, vợ con sẽ được chính thức lãnh tiền tử tuất kể từ ngày 19/3/1974.

Nhưng phải chờ đến ngày 20 tháng 6-74 hồ sơ mới hoàn tất và gia đình được truy lĩnh. Tổng cộng $26,960 đồng Việt Nam. Theo hối xuất thời đó vào khoảng 27 mỹ kim. Sau đó gia đình còn được lãnh thêm 2 kỳ, mỗi kỳ $20,000 đồng. Lần cuối cùng là ngày 30/1/1975.

Cuốn sổ cấp dưỡng quả phụ có ghi rõ 4 loại chiến binh đều là chiến sĩ Việt Nam Cộng hòạ Chủ lực quân, Địa phương quân, Nghĩa quân và Cán bộ Xây dựng nông thôn. Khi còn sống các anh mặc quần áo khác nhau, chiến đấu khác nhau, nhưng khi chết tất cả đều chung một loại hồ sơ tử tuất. Tất cả đều do Nha hưu bổng của bộ Cựu chiến binh quản trị. Một nghị định của bộ Cựu chiến binh cũng ghi rõ, con gái út của Lê văn Trí là Lê thị Diễm Thúy sinh ngày 2/12/1973. Lúc bố chết em mới có 3 tháng. Việt Nam Cộng Hòa cam kết sẽ phát tiền cấp dưỡng cho em đến ngày 1 tháng 12 năm 1991. Khi em Diễm Thúy 18 tuổị Trong số giấy tờ còn lưu lại, có mảnh giấy đỏ ghi nhận cán bộ Lê văn Trí lúc còn sống lãnh lương mỗi tháng từ 12 đến 14 ngàn đồng. Tương đương hơn10 mỹ kim. Vợ anh vẫn còn cất giữ những huy hiệu bằng vải để may vào quần áo cán bộ gồm có tấm hình tròn, bản đồ Việt Nam có chữ Tổ quốc Nhân Dân. Hai ngành lúa bọc 2 bên. Đây là huy hiệu chính thức của Cán bộ Xây dựng nông thôn. Ba huy hiệu thêu hình cờ quốc gia, cũng để may trên tay áọ Một huy hiệu tổ quốc học đường, có thể dành cho đứa con lớn của gia đình đã đi học.

Tấm hình của tổng thống Nguyễn văn Thiệu in lịch năm Nhâm Tý 1972. Phía dưới có ghi lời nói của ông đề ngày 31/10 /1971. Nguyên văn như sau:

"Nguyện vọng thiết tha duy nhứt của tôi là sớm đem lại cho Nhân Dân miền Nam Hòa Bình và bảo đảm được Tự Do, No Ấm cho đồng bào ".

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Và di vật hết sức đặc biệt là 3 cuốn sổ tay của cán bộ. Mỗi cuốn dành cho cán bộ ghi lại trong 3 tháng của năm 1973. Cuốn II, tháng 4,5,6. Cuốn III, tháng 7,8,9 và cuốn IV, tháng 10,11,12. Không có cuốn I, có thể đã thất lạc.

Chính các thành tích được ghi lại trong năm 1973 đã đưa đến bản tuyên dương cho cán bộ Lê văn Trí do tỉnh trưởng Hồ ngọc Cẩn ký tên đầu năm 1974.

Xin các bạn hãy cùng tôi đọc 1 trang nhật ký. Sổ tay in sẵn ngày tháng với 4 điều cán bộ phải ghi mỗi ngàỵ

A. Khu vực trách nhiệm?

B. Công tác giao phó?

C. Kết quả?

D. Đề nghị và trở ngạỉ

Sau đây là phần ghi chép của Lê văn Trí:

Ngày 11 tháng 6 - 1973 tức 11 tháng 5 (thiếu) năm Quý Sửụ

A. Trách nhiệm: ấp Bình Phong, Vĩnh Bình.

B. Công tác: Chống trả Việt Cộng tấn công.

C. Kết quả : Anh xã đoàn trưởng tử thương. Việt Cộng 2 chết bỏ xác tại chỗ.

D. Trở ngại: Không.

Và ngày tiếp theo: 12/6/73

A. Trách nhiệm:Trực tại văn phòng đoàn.

B. Công tác: Sửa lại hố cá nhân.

C. Kết quả: Sửa xong hố cá nhân.

D. Trở ngạỉ : Không.
. . . . . . . . . . . . . . . . . .

Vâng, Thưa quý vị, đọc lại cuốn sổ tay của Lê văn Trí sau hơn 30 năm, chúng ta có thể hình dung ra cả một chân trời cũ hết sức đau thương của nông thôn Việt Nam trong chiến tranh.

Nhắc đi nhắc lại vỏn vẹn chỉ có 4 điềụ

A: Hôm nay làm gì?

Hôm nay tổ chức cho các em học sinh hát.

B. Công tác ra sao?

Tình hình mất an ninh, không tập hát được.

C. Kết quả?

Việt Cộng bắn chết 1 cán bộ và 1 anh bị thương.

D. Có trở ngại đề nghị gì không?

Không

Những hàng chữ đơn giản và mộc mạc biết là bao! Tình hình mất an ninh khiến các em không tập hát đựơc. Một cán bộ bị chết, một bị thương nhưng vẫn không có gì đề nghị, cũng không có gì trở ngại.

Một ngày khác:

A. Hôm nay làm gì?

Về lại ấp Bình Phong.

B. Công tác giao phó?

Không có công tác. Nghỉ phép vợ sanh.

C. Kết quả công tác?

Vợ chưa sanh.

D. Trở ngạỉ

Không.

Ngày 6-11-73 tức 1-10 Nhâm Tý:

A. Ở đâu?

Hôm nay công tác tại Kinh II

B. Làm gì?

Dẫn Thiếu nhi nông thôn đi Kinh II huấn luyện.

C. Kết quả?

Niềm vui trong phấn khởi.

D. Trở ngạỉ

Không.

Một ngày khác:

A. Ở đâu?

Trường học ấp Vĩnh tây.

B Làm gì?

Phối hợp với toán Chiêu Hồi, Tâm lý chiến hướng dẫn đồng bào học tập về hòa bình, ngưng bắn.

C. Kết quả?

Tập hợp được 70 người học tập về Hòa Bình.

D. Trở ngạỉ

Không. Ai cũng đã hiểu về Hòa Bình.

xx

Gửi chị Hạnh Nhơn và quý độc giả,

Tôi ngồi đọc 3 cuốn sổ tay của cán bộ đã ghi lại suốt năm 1973. Anh Lê văn Trí ngày đêm hoạt động tại vùng Vĩnh Bình, Chương Thiện. Công tác quanh năm. Sinh hoạt, thăm viếng, đào hố, trực gác và chiến đấụ Lúc 1 mình, lúc có thêm vài người trong đoàn. Không tháng nào là không chiến đấụ Tháng nào cũng có người hy sinh. Trải qua hàng trăm ngày, luôn luôn ở đoạn cuối anh không hề ghi dù chĩ 1 lần các trở ngạị Tất cả đều ghi là " dô sự " Học tập cũng " dô sự ". Trực máy cũng " dô sự " và thậm chí địch bắn giết chết người, sau cùng mọi sự đối với anh cán bộ hiền lành của chúng ta cũng " dô sự ". Anh không đề nghị hay than thở gì cả.

Những tháng cuối của cuộc đời, Cán bộ xây dựng nông thôn Lê văn Trí thường tham dự công tác học tập về ngưng chiến. Anh tin tưởng ở Hòa Bình, bởi vì anh vừa chiến đấu vừa làm ruộng.

Hai vợ chồng, tám đứa con, quanh quẩn ở đất Vị Thanh, Vĩnh Bình, Chương Thiện. Tuy có chiến đấu nhưng làm ruộng vẫn thành thạo hơn cầm súng.

Bây giờ lật bìa sau của cuốn sổ tay, tôi xin đọc cho quý vị nghe bài thơ lục bát ghi rõ 7 điều tâm niệm mà các Cán bộ Phát triển nông thôn thuộc nằm lòng:

MỘT không tiết lộ cơ quan,
HAI không để súng rỉ han trong ngoài.
BA không phí đạn bắn hoài,
BỐN không trai gái bạc bài bê tha,
NĂM không bè phái gian tà.
SÁU không lừa dối, phiền hà cấp trên,
BẢY không vắng sở liên miên,
Và không đi phép lại quên đường về.
Áo đen trót nặng lời thề.
Lẽ đâu sao nhãng kẻ chê người cười ....

Mỗi năm vào Ngày quân lực, ta vẫn thường đề cao các quân binh chủng, từ không quân đến hải quân.Trùng khơi vạn lý, đi mây về gió. Rồi đến các bạn tổng trừ bị áo hoa rừng ngụy trang.Áo xanh sóng biển. Năm nay xin một lần nhắc đến áo đen cũng là Chiến sĩ cộng hòa. Nếu không phải là người lính chủ lực100% lúc sống, thì khi đã hy sinh, sổ tử tuất cũng đã ghi danh chính thực là người chiến sĩ miền Nam.

Chiến sĩ Lê văn Trí của chúng ta hết sức lương thiện và gương mẫụ Anh không muốn phiền hà cấp trên. Khi giặc về, làng xóm mất an ninh, nhưng nếu chống trả qua được hôm sau thì mọi thứ vẫn báo cáo vô sự. Sinh năm 1940, chết 1974. Hưởng dương 34 tuổi, một vợ 8 con, mỗi tháng lãnh lương căn bản $5,200, phụ cấp nguy hiểm $300, vợ $200, mỗi con $200. Xem trong giấy lương tháng cuối cùng tổng cộng lãnh 14,380$. Theo hối xuất thời đó chừng 15 mỹ kim. Sổ trang bị được lãnh 2 bộ đồ đen và chiếc ponchọ Trận cuối cùng vào đêm 18 tháng 3 năm 1974, cán bộ Lê văn Trí đã chiến đấu ra saỏ Người chiến sĩ đã chẳng còn sống để làm báo cáọ Nhưng biết rằng ba anh cán bộ áo đen có 3 cây súng và mấy kẹp đạn. Làm sao chống lại được một tiểu đội du kích. Không thể gọi B52 đến từ Thái Lan giải quyết chiến trường như anh em mũ đỏ, làm gì có hải pháo từ biển Đông như chiến sĩ mũ xanh. Cũng không trông đợi không quân bay lên từ phi trường Bình Thủy để yểm trợ cho sư đoàn. Nói gì đến cấp tiểu khu, ngay đến chi khu cũng còn không lưu tâm. Và những người lính áo đen tử trận âm thầm, nhẹ nhàng ngay tại quê nhà.

Ngày 6 tháng 11 năm 1973, cán bộ Lê văn Trí đã mời được 70 bà con nông dân đến học tập về ngưng chiến. Trong sổ tay anh báo cáo mọi thứ không trở ngại và bà con ta cũng hiểu về hiệp định hòa bình. Nhưng anh đã chết trước khi biết được rằng đây chỉ là bản hiệp định làm mất miền Nam. Sau cùng, người vợ quê mùa của anh vẫn còn giữ mãi những di vật một thời để ba mươi ba năm sau gửi cho Viện Bảo Tàng. Tại đây đã có quân phục của biết bao sĩ quan các cấp. Có huy chương đủ màu xanh đỏ tím vàng. Có bộ quần áo của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã mặc khi ra đị Có cuốn sách viết về thiền học mà đại tướng Cao văn Viên bỏ trong cặp sách trong chuyến di tản sau cùng.

Bây giờ chúng tôi có thêm hồ sơ của chiến sĩ áo đen Lê văn Trí và toàn bộ sổ hưu bổng tử tuất của gia đình một vợ 8 con.

Chính thể Việt Nam Cộng Hòa, với giấy tờ cam kết của ông bộ trưởng cựu chiến binh vào tháng 3 năm 1974, sẽ tiếp tục cấp dưỡng đứa con gái út của cán bộ Lê văn Trí cho đến tháng 2 năm 1991.

Lời cam kết đó chúng ta không giữ được. Bây giờ tất cả các vị Tổng Thống đã qua đờị Các Tư lệnh vùng thời kỳ 1975 cũng không còn nữạ Nếu ai muốn thay mặt Việt Nam Cộng Hòa gửi lời cáo lỗị Xin gửi thư về bà Nguyễn thị A, CMND 370366822. Tổ 19, ấp Bình Phong, xã Vĩnh Bình, huyện Vị Thanh, tỉnh Kiên Giang - Việt Nam.

*****

Nhân dịp ngày quân lực lần thứ 43, nửa đêm về sáng của bình minh tháng sáụ Từ San Jose, không gian cách xa nửa vòng trái đất, thời gian 34 năm trôi quạ Người lính già của một bộ tổng tham mưu tan hàng, lần mò đọc hết hồ sơ tử tuất của anh Cán bộ Xây dựng nông thôn hy sinh vào sáng ngày 19 tháng 3 năm 1974. Chúng tôi sẽ nối tiếp thi hành phần nào sự cam kết của Việt Nam Cộng hòa, ít nhất là cho một hồ sơ. Số tiền nhỏ bé gửi về cho bà A sẻ ghi tên ông Nguyễn. Nào ai biết đây là ông Nguyễn văn Thiệu hay ông Nguyễn khoa Nam.

Giờ đây ai sẽ nhận là ông Việt Nam Cộng hòa, đồng thanh tương ứng xin liên lạc :
giaochisanjose@sbcglobal.net hay: mailto:irccsj@yahoọcom

hoặc địa chỉ :
Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và VNCH ( IRCC )
422 Park Ave. San Jose - CA95110. USA

Xin báo cáo niên trưởng Hạnh Nhơn được rõ.

Wednesday, June 4, 2008

Nhân Quyền Cho Người Chết

Ðấu tranh giành Nhân Quyền cho các Anh Hùng Vô Danh Những Tử Sĩ Việt Nam Cộng Hòa.


Giao Chỉ

Tin riêng ghi nhận được từ Việt Nam. 58 mẫu đất còn lại tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa cũ, thuộc xã Bình Thắng, quận Dĩ An đã được đơn vị quân đội cộng sản sư đoàn 7 bàn giao xong cho tỉnh Bình Dương, vào đầu tháng 7 - 2007

Giới chức hữu trách tỉnh ủy Bình Dương vừa cho biết đang tổ chức để lo công việc bảo vệ và quản trị. Các cơ sở doanh trại của đơn vị huấn luyện bộ đội đã di chuyển nay sẽ dùng để mở trường học. Khu mồ mả giữ nguyên và cho phép tảo mộ. Muốn cải táng phải xin phép. Ðiều quan trọng hơn hết là tỉnh Bình Dương theo lệnh Thủ tướng coi đây là nghĩa địa dân sự Bình An. Ðang nghiên cứu thể lệ để cho phép dân thường được chôn tại những nơi còn trống trong khu mai táng.

Ðây là một chủ trương hết sức thâm độc của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội.

Không cần phải xóa bỏ nghĩa trang quân đội Miền Nam, chỉ cần đưa ra chiêu bài dân sự hóa rất bình thường. Sau một thời gian đem dân vào chôn ngay các nơi an táng chiến sĩ VNCH . Mạnh ai nấy xây cất kiểu cọ dân sự. Với thời gian, ý nghĩa của mảnh đất lịch sử thiêng liêng không còn nữa. Xét trên một bình diện khác, nghĩa trang quân đội Biên Hòa là phòng tuyến cuối cùng còn lại của Miền Nam, nơi yên nghỉ của 16 ngàn tử sĩ Cộng Hòa đang bị tấn công trong trận sau cùng. Vì sự bình an của chiến hữu nằm dưới mộ phần, chúng tôi lên tiếng kêu gọi hãy đấu tranh nhân quyền cho người chết.

Bản nhận định và đề nghị

Bản nhận định và đề nghị về đề tài này đã được soạn thảo gởi dân biểu Mike Honda và các dân biểu Hoa Kỳ. Nhân danh là một người Mỹ gốc Việt cư ngụ tại San Jose, đơn vị của dân biểu Mike Honda, chúng tôi đã mời ông đến Viện Bảo Tàng VNCH để thảo luận về việc này, thăm mộ bia đem qua từ nghĩa trang quân đội năm 2004, quan sát mô hình nghĩa trang và các tài liệu liên hệ.

Sau đây là bản lược dịch tài liệu liên quan đến đề tài:

“ Human Rights for Unsung Heroes - The fallen Soldiers of South VietNam ”.

1) Vấn Ðề:

Từ năm 1975, người Việt đi tìm tự do đã tiếp tục rời bỏ quê hương trong 30 năm. Ðã có hàng triệu thuyền nhân, tỵ nạn, tù chính trị, con lai và sau đó là đoàn tụ gia đình. Tổng số 3 triệu người định cư trên toàn thế giới và cho đến năm 2007 hiện có 1 triệu 500 ngàn người lập nghiệp tại Hoa Kỳ. Những người còn ở lại Miền Nam là thương phế binh, cô nhi quả phụ và những người chết vì chiến tranh. Trong số đó có rất nhiều anh hùng vô danh, các tử sĩ của Miền Nam đã nằm lại trong lòng đất quê hương.

Trong chiến tranh Việt Nam đã có trên 300 ngàn chiến binh VNCH được chôn cất trong các nghĩa trang quân đội khắp Miền Nam. Kể từ năm 1965, Miền Nam xây cất một nghĩa trang quy mô tại quận Dĩ An, 30 cây số phía Ðông Bắc Sài Gòn. Khu đất 125 mẫu dành để chôn từ 30 đến 40 ngàn chiến sĩ. Trong 10 năm từ 1965 đến 1975 đã có 16 ngàn tử sĩ được yên nghỉ tại đây.

Nghĩa trang này gọi là nghĩa trang quân đội, nhưng chính là nghĩa trang quốc gia Việt Nam tương tự như nghĩa trang Arlington của Hoa Kỳ tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Chúng tôi hiện có đầy đủ tài liệu và mô hình bao gồm tất cả các di tích lịch sử như tượng Thương Tiếc, Cổng Tam Quan, Ðền Tử Sĩ và Nghĩa Dũng Ðài.

2) Tác giả:

Khi viết bản đúc kết về đề nghị này, tôi nhân danh một người Mỹ gốc Việt, cư ngụ tại Hoa Kỳ 32 năm và là giám đốc cơ quan định cư bất vụ lợi IRCC , Inc. từ 27 năm qua tại San Jose . Trước 1975 tôi là đại tá quân lực VNCH , làm việc tại bộ tổng tham mưu, có dịp liên hệ với công trình xây cất và bảo toàn nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa.

Cá nhân chúng tôi là một trong số ít những người cao niên còn lại trong quân đội VNCH tại hải ngoại biết được các tin tức về nghĩa trang.

Tôi có sưu tầm hình ảnh, làm mô hình nghĩa trang cho viện Bảo tàng và là tác giả một tác phẩm duy nhất viết về đề tài này. Tựa đề: “16 ngàn tử sĩ ở lại nghĩa trang quân đội Biên Hòa” phát hành năm 1993. Chúng tôi cũng đã tổ chức chương trình tảo mộ nghĩa trang Biên Hòa trong suốt 10 năm qua dưới hình thức thân nhân thăm viếng.

Ngoài ra cũng có rất nhiều người Việt trên khắp thế giới và Hoa Kỳ hết sức quan tâm đến nghĩa trang quân đội tại Việt Nam đã cùng tiếp tay trong việc bảo toàn nơi yên nghỉ của thân nhân và chiến hữu.

Nhưng hiện nay nhà cầm quyền Việt Nam vừa ra thông cáo và bắt đầu áp dụng các thể thức dân sự hóa dưới hình thức làm mất ý nghĩa lịch sử thiêng liêng của khu đất cần được coi là di tích của quốc gia.

3) Bài học:

Là công dân Hoa kỳ, người Việt tỵ nạn đến đất này đã ghi nhận được bài học vĩ đại về câu chuyện phe miền Bắc đối xử với miền Nam sau cuộc nội chiến. Một trăm bốn mươi hai năm trước sau khi tướng Lee ký bản văn đầu hàng tướng Grant ngày 4 tháng 9 năm 1865 đã không có những hành động bạo hành thù hận của phe chiến thắng đối với người thua trận. Ngay cả sau khi tổng thống Lincoln của miền Bắc bị ám sát chết cũng không có các hành động trả thù của chính phủ liên bang đối với quân dân miền Nam. Tượng của tổng thống và tướng lãnh miền Nam vẫn được tôn trọng. Các nghĩa trang của phe thua trận được bảo toàn.

Và sau cùng, các di hài chiến binh miền Nam còn được mai táng trong khu dành riêng tại nghĩa trang quốc gia Arlington tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Tất cả những hành động cao quí đó không hề xảy ra tại miền Nam Việt Nam khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975. Hàng trăm ngàn quân nhân công chức miền Nam bị tập trung trong tù cải tạo và hàng triệu người phải bỏ nước ra đi.

Sau 32 năm, qua nhiều giai đoạn và nhiều hoàn cảnh, Hoa Kỳ đón nhận một triệu 500 ngàn người Việt đi tìm tự do đến định cư tại đất nước vĩ đại này. Những tân công dân đã đóng góp vào việc xây dựng quê hương mới và đồng thời cũng đã học được bài học lớn về tự do dân chủ, đặc biệt đối với việc gìn giữ các mộ phần chiến sĩ sau cuộc chiến.

Nhưng câu chuyện về quê hương Việt Nam thì hoàn toàn khác biệt. Sau 30 tháng 4 năm 1975 bức tượng Tiếc Thương nổi tiếng của miền Nam bị kéo sập và nghĩa trang quân đội bị cộng sản phá hoại. Tuy nhiên phần kiến trúc còn lại và các mồ mả vẫn tồn tại. Mười năm sau này hoàn cảnh thay đổi và người Việt trong và ngoài nước bắt đầu có cơ hội thăm viếng trông nom mộ phần các chiến hữu.

4) Giá trị tinh thần:

Theo truyền thống Á Châu, di hài tử sĩ và mộ phần là những lãnh vực linh thiêng cần được cả hai phía tôn trọng trong cuộc chiến. Phía Tây Phương cũng có cùng chung quan điểm. Chiến binh miền Nam trong cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ đã được an táng ngay trong nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ cũng như tại các nghĩa trang của quân đội miền Nam khắp các tiểu bang. Sau đệ nhất và đệ nhị thế chiến, nghĩa trang của quân đội Ðức vẫn được phe Ðồng minh bảo toàn.

Nghĩa trang của Quốc Dân Ðảng tại Trung Hoa, vẫn được chính quyền Cộng sản gìn giữ như là một di tích lịch sử của quốc gia.

Cho đến năm 2005, ba mươi năm sau cuộc chiến, chính quyền Cộng sản Hà Nội không hề lưu tâm và đề cập đến nghĩa trang Quân đội của miền Nam tại Biên Hòa. Mặc dù bỏ hoang phế nhưng nghĩa trang này vẫn còn tồn tại với vẻ hùng tráng đặc biệt qua các tượng đài, kiến trúc và mộ phần. Hiện nay vẫn còn Cổng Tam Quan, Ðền tử sĩ và Nghĩa Dũng đài

5) Pháp lý:

Nước Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam là thành viên của Liên Hiệp Quốc từ 20 tháng 9 năm 1997 nên có nghĩa vụ phải tôn trọng các thỏa ước quốc tế.

A- Công ước Geneve 12 tháng 8 năm 1949, chương III điều 120 và 121 nói rõ về trách vụ bảo vệ tù binh và bảo toàn mộ phần của các phe tham chiến.

B- Ðiều 23 của hiệp định đình chiến Geneve ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 về việc bảo toàn gìn giữ nghĩa trang trong vùng trách nhiệm.

C- Ðiều 8 của Hiệp Ðịnh Ðình Chiến Paris ký ngày 17 tháng 1 năm 1973 lại một lần nữa xác định các quốc gia ký kết có trách nhiệm bảo vệ nghĩa trang và phần mộ của phe đối nghịch.

6) MIA Hoa Kỳ và Việt Nam

Sau cuộc chiến tại Việt Nam, chính phủ Mỹ đã được chính quyền Hà Nội giúp đỡ trong việc đi tìm hài cốt binh sĩ. Phe cộng sản Việt Nam cũng nỗ lực đi tìm hài cốt bộ đội để đem chôn cất tại các nghĩa trang khắp mọi nơi. Trong khi đó mộ phần của các chiến binh Nam Việt Nam, của các tù binh và tù cải tạo tại miền Trung và Bắc Việt chưa bao giờ được đặt thành vấn đề. Gia đình thân nhân không có phương tiện để thực hiện công việc tìm kiếm. Ðặc biệt là các mộ phần và di hài chiến sĩ Cộng Hòa tại miền biên giới Cam Bốt, Lào, cùng các phần mộ tù binh tại Hàm Tân, Thanh Hóa và miền thượng du Bắc Việt.

7) Hiện trạng:

Cuối năm 2006 Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh bàn giao khu nghĩa trang quân đội từ giới chức quân sự qua tỉnh Bình Dương. Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại hết sức quan tâm đến việc này vì những điểm sau đây qua kinh nghiệm nhiều năm:

1) Cộng sản đã phá hủy bức tượng Thương Tiếc nổi danh tại nghĩa trang ngay sau 30 tháng 4 năm 1975

2) Năm 2002 cộng sản cắt bớt hơn 10 thước ngọn tháp của Nghĩa Dũng Ðài.

3) Trước 1975 toàn thể khu nghĩa trang rộng 125 mẫu với 16 ngàn ngôi mộ. Ngày nay chỉ còn lối 10,000 ngôi mộ. Gia đình có di chuyển một phần. Một phần bị phá hoại. Không có ai kiểm tra để biết con số chắc chắn.

4) Phẫn còn lại để bàn giao giữa quân sự và dân sự đã hoàn tất tháng 6 năm 2007 chỉ còn 58 mẫu. Như vậy sau 30 năm do bộ đội quản lý đã sử dụng 67 mẫu đất để làm doanh trại, nhà cửa, lập nhà máy nước Bình An và lập ra Ấp Bình Thắng.

5) Với 58 mẫu đất bàn giao cho phía dân sự cũng chỉ còn lối 30 mẫu có mồ mả.

Phần còn lại cũng đã được xây cất doanh trại huấn luyện và nay tỉnh Bình Dương định dùng làm trường học.

6) Ðiều quan trọng hơn hết là, theo lệnh của Thủ Tướng từ Hà Nội, tỉnh ủy Bình Dương đang nghiên cứu để cho phép dân thường đem thân nhân vào chôn tại đây và coi đất này là khu nghĩa địa dân sự Bình An.

8) Ðề nghị

Tháng 2 ố 2007 Thủ tướng Hà Nội mở đường dây trên mạng gọi là đối thoại trực tuyến với người Việt mọi nơi. Chúng tôi có đưa vấn đề nghĩa trang quân đội VNCH ra hỏi. Tiếp theo ngày 30 tháng 4 - 2007 chúng tôi gởi thư trực tiếp đặt lại vấn đề. Cả hai lần đều không được trả lời.

Ngày nay vì tính cách thời sự đặc biệt của vấn đề, chúng tôi yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ đưa ra nghị quyết đòi hỏi nhà cầm quyền Hà Nội thực hiện các điểm sau đây:

1 # Yêu cầu giữ nguyên tình trạng nghĩa trang quân đội VNCH tại Biên Hòa. Quốc hội Hoa kỳ cần lưu ý xác định rõ ràng với nhà cầm quyền Việt Nam đây là di sản quốc gia và khu đất thuộc về lịch sử. Không thể phá hủy, di chuyển, hay sử dụng qua các mưu đồ chính trị dưới mọi hình thức.

2 # Cho phép thân nhân, gia đình, chiến hữu được thăm viếng, tu bổ, sửa chữa mộ phần và thực hiện các nghi lễ tôn giáo cho người đã khuất. Thân nhân không được xây cất các phần mộ quy mô kiểu cách. Trong khi sửa chữa các mộ phần cũ, phải giữ gìn hình thức đã có từ trước. Tuyệt đối cấm không cho dân sự chôn cất trong khu vực được coi là di sản quốc gia.

3 # Bảo toàn tất cả các công trình kiến trúc hiện có gồm cổng Tam quan, đền Tử sĩ, và Nghĩa Dũng đài

4 # Cho phép và dành mọi sự dễ dàng cho gia đình, thân hữu, chiến hữu cũng như các đoàn thể từ thiện từ Hoa Kỳ về Việt Nam giúp gia đình đi tìm di hài tử sĩ trên toàn quốc để đem về chôn cất tại các nơi thích hợp.

5 # Với các nhận định kể trên, xin quốc hội yêu cầu tổng thống Hoa Kỳ, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao và ông lãnh sự Hoa Kỳ tại Việt Nam sử dụng mọi ảnh hưởng và quyền hạn để đòi hỏi chính phủ Việt Nam thực hiện các nhu cầu kể trên. Ðòi hỏi này dựa trên căn bản Việt Nam là quốc gia hội viên của Liên Hiệp Quốc, dựa trên sự quan hệ giao thông Việt Mỹ hiện nay và dựa vào tư cách công dân của 1 triệu 500 ngàn người Việt cư ngụ tại Hoa Kỳ.

Trên đây là phần lược dịch bản nhận định và đề nghị chúng tôi gửi đến dân biểu Mike Honda để xin hạ viện cứu xét. Khi dự thảo hoàn tất, chúng tôi sẽ báo tin quí vị để cùng gởi thư xin các dân biêu Hoa Kỳ khắp nơi ủng hộ và chấp thuận.
Bản nghị quyết chính thức của Hạ Viện khi được thông qua sẽ phổ biến rộng rãi.
Trải qua nhiều năm, Hoa Kỳ đã nỗ lực giúp cho quân dân chính miền Nam qua các chương trình định cư nhân đạo. Chào đón thuyền nhân tỵ nạn. Tiếp nhận cựu tù chính trị, con lai và mở rộng chương trình đoàn tụ. Tất cả đều là những người còn sống trên đất tự do.

Chúng tôi tin tưởng rằng ngày nay đã đến lúc chúng ta cùng đấu tranh cho những người đã chết.

Giành lại nhân quyền cho các anh hùng vô danh
Cho các tử sĩ của Việt Nam Cộng Hòa.
***
Cùng đăng trên báo này là:
Bản Anh ngữ gửi dân biểu Mike Honda và các dân biểu Hoa Kỳ.
IRCC, Inc.420 Park Ave. San Jose CA. Tel: 408 971 7878 Email: irccsj@yahoo.com

Ðôi Mắt Người Chiến Sĩ VNCH

Nam Dao


Thời điểm 30/4 là cái mốc thời gian mà có lẽ hầu hết những thuyền nhân tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam đều lắng tâm tư mình để hồi tưởng lại quãng đời tỵ nạn gian truân và những nguyên nhân nào đưa đến sự chọn lựa đổi đời này. Một sự chọn lựa can đảm dẫu biết rằng mình phải trả một cái giá rất đắt là cái chết của chính mình để đổi lấy hai chữ Tự Do. Một sự chọn lựa chưa từng xảy ra trong 4000 năm lịch sử Việt Nam mà trong đó gần 3 triệu người dân Việt vượt biên đi tìm tự do và gần một triệu người bỏ thây ngoài trùng dương. Cho dù đặt chân đến được bến bờ tự do vào những thời điểm khác nhau, nhưng hầu hết những ai mang thông hành tỵ nạn chính trị cũng mặc nhiên coi ngày Quốc Hận 30/4/1975 là nguyên đưa đến sự quyết định ra đi đổi đời của mình.

Dù không vượt biên, đối với tôi, Quốc Hận 30/4/1975 là ngày mở đầu cuộc đời tỵ nạn CSVN của tôi nơi xứ người. Tôi muốn nhấn mạnh sáu chữ tỵ nạn CSVN chứ không phải là tỵ nạn kinh tế mà nhà cầm quyền CSVN cố tình xuyên tạc để bôi nhọ chính nghĩa của chúng ta. Trong ngày tưởng niệm 33 năm quốc hận 30/4/1975 năm nay, tôi muốn trải lòng mình viết về một người chiến sĩ vô danh trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Tôi muốn ghi lại trên trang giấy này ánh mắt anh, đối với tôi là biểu tượng cho sự âm thầm hy sinh cao cả của tập thể chiến binh VNCH để bảo vệ từng tấc đất, từng giây phút sống an lành cho người dân miền Nam. Ánh mắt nhiệm mầu đã thay đổi cuộc đời của một người con gái từ sống vô tư vị kỷ quay sang con đường đấu tranh khá xa lạ đối với phái nữ.

Người ta bảo ánh mắt là cửa sổ tâm hồn cũng không sai. Chỉ cần nhìn ánh mắt của một người là có thể đoán được một phần nào cá tính, lòng dạ tốt xấu và tâm trạng của người đó. Trong đời tôi đã gặp đủ loại ánh mắt, nhưng tôi có đâu ngờ được rằng ánh mắt mà tôi gặp nơi bờ sông Bến Hải đã để trong tôi một tác động tâm lý mãnh liệt làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi sau đó. Sinh trưởng ở miền Bắc và di cư vào Saigon, tôi có cơ may có được một cuộc sống sung túc, ngày cắp sách đến trường, nhìn cuộc đời với đôi mắt màu hồng của tuổi dậy thì. Hình ảnh chiến tranh thời đó tôi cảm nhận được là những ngọn đèn hỏa châu và những tiếng đại bác đêm đêm vọng về. Thế nhưng cuộc đời tôi đã rẽ sang một khúc quanh khi gặp đôi mắt bờ sông Bến Hải.

Trong một chuyến du lịch trở về thăm quê hương (1973) cùng với phái đoàn Tổng Hội Sinh Viên Paris do ông Hoàng Ðức Nhã tổ chức, các sinh viên du học được đưa đi thăm Huế, Quảng Trị, đại lộ kinh hoàng, những địa danh bị tàn phá bởi chiến tranh và bờ sông Bến Hải để sinh hoạt cùng với các anh chiến binh VNCH. Nơi dòng sông Bến Hải, nhìn qua bên kia sông là lá cờ máu của CS. Ngước nhìn lên chòi canh bên này là lá đại kỳ vàng ba sọc đỏ phất phới bay và hình ảnh người chiến binh VNCH trong quân phục tác chiến, tay cầm khẩu súng im lặng mắt hướng về phía bên kia sông. Khuôn mặt sạm màu nắng chiến chinh và ánh mắt khắc khổ chịu đựng gió sương nhưng cương quyết, sẵn sàng quyết tử để bảo vệ màu cờ vàng ba sọc đỏ, đã làm lòng tôi chùng xuống một niềm xúc động lớn pha lẫn xấu hổ. Xấu hổ vì thấy rằng mình đã sống quá vị kỷ chưa làm được gì hữu ích cho quê hương dân tộc. Xúc động vì giờ đây qua ánh mắt người chiến binh đó tôi mới thực sự hiểu được, trong khi tôi và người dân miền Nam được sống yên lành với gia đình thì ở ngoài tiền tuyến lại có hàng trăm ngàn chiến binh VNCH âm thầm chấp nhận đốt cháy tương lai, tuổi thanh xuân, lẫn hạnh phúc, bên ánh đèn hỏa châu lửa đạn.

Người chiến binh VNCH không phải chỉ mất tuổi thanh xuân không thôi. Ðã có hàng trăm ngàn chiến binh trở về sau cuộc chiến "với đôi nạng gỗ", để lại nơi chiến trường một phần máu và thân thể của đời mình. Trở về với cuộc đời dang dở tàn phế tương lai! Và cũng đã có biết bao nhiêu anh hùng liệt sĩ vô danh bỏ thây nơi chiến trường để lại gia tài cho vợ con một tấm thẻ bài và những vành khăn tang trắng làm đổ nát đời người cô phụ và gia đình họ. Tôi đã ngộ những mất mát to lớn đó khi đi trên Ðại Lộ Kinh Hoàng mà cái tên tự nó cũng đủ nói lên trận chiến khốc liệt đã xảy ra tại nơi đây. Dẫu chiến trường đã được dọn sạch từ lâu, nhưng quang cảnh hoang tàn và thê lương cũng đủ làm tôi rùng mình vì tôi vẫn còn cảm nhận được một luồng âm khí của các vong linh hình như chưa siêu thoát nên vẫn còn lảng vảng ở đâu đây. Khi đôi chân mình đi trên mặt đất thấm máu và nước mắt của dân tộc tôi mới thấu hiểu hai chữ tự do vô cùng quý báu như thế nào. Lá cờ vàng ba sọc đỏ biểu tượng cho khát vọng tự do được gìn giữ bởi máu và nước mắt của dân tôi giờ thiêng liêng biết ngần nào!

Cũng vì thế khi ngước nhìn lá đại kỳ phất phới bay nơi dòng sông bến Hải tôi đã nghẹn ngào thầm cám ơn đôi mắt kia và tập thể chiến binh VNCH đã âm thầm hy sinh cho người dân miền Nam trong đó có tôi được thở hít không khí tự do cho đến ngày 30/4/1975. Một món nợ tinh thần mà tôi phải trả dù là một phần rất nhỏ, cho các anh, cho gia đình tử sĩ và cho quê hương dân tộc. Trước khi ra đi tôi đã quay lại nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới bay trên bờ sông Bến Hải lần cuối và thầm nhắn gửi với đôi mắt vô danh kia rằng tôi hứa cùng anh và các đồng đội của anh nguyện bảo vệ chính nghĩa của lá cờ vàng ba sọc đỏ đã được gìn giữ bởi máu và nước mắt của những tấm lòng yêu nước. Ðôi mắt vô danh kia tôi không còn nhìn thấy nhưng vẫn in hằn trong đầu tôi.

35 năm trời đã trôi qua kể từ ngày giã từ lá đại kỳ nơi dòng dông Bến Hải vào năm 1973, tôi không biết đôi mắt kia giờ ở nơi đâu? Anh còn sống hay đã mất? Nếu đã mất thì anh mất ở nơi đâu? Bỏ thây ngoài biển khơi hay ở nơi lao tù rừng thiêng nước độc? Nếu còn sống thì giờ này anh ở nơi đâu? Trại cải tạo hay ở một vùng trời tỵ nạn xa xăm nào đó? Hay nếu còn ở Việt Nam, chế độ tàn bạo CS đã đối xử bất công bạc ác với người chiến binh VNCH như anh ra sao? Những câu hỏi trên luôn trở lại với tôi mỗi khi ngày quốc hận 30/4/ trở về. Những câu hỏi luôn làm nhức nhối trái tim tôi mỗi khi nghĩ đến anh, nghĩ đến các thương binh VNCH và lá đại kỳ nơi dòng dông Bến Hải.

Hôm nay trong ngày tưởng niệm 33 năm Quốc Hận, tôi muốn viết những dòng tâm tư này gửi đến anh. Nếu anh còn sống nơi xứ người, tôi xin được chia sẻ chung với anh nỗi đau của một người chiến binh già khi phải nhìn hình lá cờ vàng ba sọc đỏ bị bôi bác vẽ trong một cái chậu rửa chân. Một hành động vô ơn bạc nghĩa của những kẻ ngày xưa đã từng ăn cơm quốc gia nay đâm sau lưng chiến sĩ VNCH. Tôi cũng xin được chia sẻ chung với anh sự nổi giận khi thấy những con buôn chính trị cho phổ biến năm chương trình lịch sử phản động của Cộng sản H.D.D. bôi nhọ chính nghĩa quân cán chính VNCH. Nếu anh đã qua đời và đang an giấc nơi Nghĩa Trang Quân Ðội, tôi cũng xin được san sẻ chung với anh nỗi u uẩn của một người chết không thể thét lên được khi phải chứng kiến cảnh những kẻ thời cơ quỵ lụy xin xỏ bạo quyền cái đặc ân được trùng tu nghĩa trang quân đội đã bị CSVN biến thành nghĩa trang dân sự Bình An, là một hình thức xóa sổ cái chết vì lý tưởng của anh lẫn thành tích lịch sử đấu tranh hào hùng của quân lực VNCH. Những kẻ thời cơ chính trị đó tất phải thừa hiểu, bất cứ một người chiến binh VNCH nào khi đã cầm súng ra trận tức là họ không sợ chết banh thây ngoài chiến tuyến thì không có lý do gì họ phải nhờ ai van xin kẻ thù trùng tu mộ phần giùm cho họ. Hành động xin/cho đó nào có khác chi cầm dao đâm sau lưng vong linh chiến sĩ VNCH.

Cũng trong ngày tưởng niệm 33 năm quốc hận 30/4 năm nay, tôi xin xác quyết một lần nửa lời thầm hứa với anh nơi bờ sông Bến Hải năm nào giờ đây vẫn còn nguyên vẹn: dù bất cứ ở nơi nào trên thế giới nếu có những ai bôi nhọ lá cờ vàng ba sọc đỏ hay chính nghĩa của quân lực VNCH thì tôi cũng sẽ một lòng cùng với đồng bào ở nơi đó quyết tâm lên tiếng phản đối những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma CS.

Ðối với những vị anh hùng liệt sĩ vô danh bị CSVN tàn phá nơi nghĩa trang quân đội, dẫu các anh đã nằm xuống nhưng chúng tôi và thế hệ mai sau vẫn tiếp nối con đường các anh đi, bởi vì cuộc chiến này chưa phân thắng bại. Sẽ có một ngày màu cờ vàng ba sọc đỏ sẽ phất phới bay trở lại trên bầu trời các anh an nghỉ và cái tên Nghĩa trang Quân Ðội sẽ được phục hồi trả lại cho vong linh anh hùng liệt sĩ VNCH. Tôi và đồng bào miền Nam không hề quên ơn các anh, những chiến binh oai hùng của quân lực VNCH đã một thời đổ máu trên Trường Sa Hoàng Sa, trên khắp nẻo đường Việt Nam để giữ từng tấc đất của tổ tiên không bị rơi vào tay CSVN bán nước buôn dân nay biến thái thành tư bản đỏ.

Nam Dao

Monday, June 2, 2008

Harry Trần Ngọc Huế

Ðỗ Dzũng


Ðại úy Harry Trần Ngọc Huế được Tướng Creighton Abrams, Tư Lệnh Quân Ðội Hoa Kỳ tại Việt Nam, gắn huy chương “Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc” (Gallantry Cross with Silver Star), sau trận Mậu Thân 1968.

FALLS CHURCH, Virginia (NV) - “Harry Trần Ngọc Huế là một chiến binh lỗi lạc và ông đã phải trả giá đắt cho sự trung thành với tổ quốc mình trong cuộc chiến Việt Nam.” Ðó là lời mà Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ James Webb (Dân Chủ-Virginia) viết về người cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) này trong một bức thư đề ngày 4 Tháng Tư vừa qua.

Qua một người bạn giới thiệu, tôi được gặp người đàn ông mà nhiều người trong Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, trong đó có Thượng Nghị Sĩ Webb, từng là bộ trưởng Bộ Hải Quân, gọi là “anh hùng của những anh hùng (Hero of the Heroes).”

Tướng cao to, khỏe mạnh, mặc dù tuổi đã ngoài 60, bàn tay trái chỉ còn hai ngón nguyên vẹn, cộng với một vài vết thẹo trên khuôn mặt và phía dưới cằm, ít ai ngờ rằng, con người này đã từng vào sinh ra tử biết bao lần, nhất là cuộc chiến lấy lại Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh và Ðại Nội Huế, hồi Tết Mậu Thân 1968.

Bàn tay chỉ còn hai ngón nguyên vẹn của Harry Trần Ngọc Huế và những tấm huy chương.


Vì những hành động anh hùng của mình, ông Harry Trần Ngọc Huế đã được Hoa Kỳ tặng thưởng một huy chương “Ngôi Sao Bạc” (Silver Star) và một huy chương “Ngôi Sao Ðồng” (Bronze Star). Ngoài ra, ông cũng được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương cùng nhiều huy chương cao quý khác. Harry là tên các cố vấn Mỹ đặt cho ông.

Cuộc tái chiếm Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh

Là đại đội trưởng Ðại đội Hắc Báo, lực lượng tổng trừ bị của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh QLVNCH, Trung úy Trần Ngọc Huế đã khôn khéo và dũng cảm chỉ huy trận chiến một mất một còn với quân đội Bắc Việt để lấy lại quyền kiểm soát Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1, nơi đầu não chỉ huy tái chiếm lại Huế vào Tết Mậu Thân 1968.

Người cựu chiến binh này kể: “Lúc đó, Ðại đội Hắc Báo của chúng tôi là Lực Lượng Phản Ứng Cấp Thời (Fast Reaction Forces) đóng tại sân bay Thành Nội. Ðêm đó là mùng một Tết và quân đội Bắc Việt đã tấn công nhà đèn, Thiết Ðoàn 7 Thiết Giáp, Phú Văn Lâu, Tòa Hành Chính Tỉnh và Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1. Ngoài đường phố tràn ngập lính Bắc Việt, phi trường bị pháo kích dữ dội ...”

Ông kể tiếp: “Chúng tôi có 6 trung đội, sau khi bố trí quân, tôi về nhà nghỉ. Một lúc sau, thấy pháo dữ dội quá, tôi trở dậy, mặc đồ lính đi. Trong đêm tối, tôi thấy đặc công Bắc Việt đi hàng hàng lớp lớp ngoài đường.”

“Lúc đó, tôi rất lưỡng lự, không biết có nên đi hay không vì con gái đầu lòng của tôi mới sinh được một tháng. Tôi có thể trở về nhà với vợ con, nhưng nghĩ lại trách nhiệm của người lính và một chỉ huy. Hơn nữa, nếu nước mất nhà tan, thì chưa chắc gia đình tôi yên ổn. Thế là tôi tiếp tục đi phía sau họ để đến phi trường,” người anh hùng này kể tiếp.

Cựu hắc báo Harry Trần Ngọc Huế đứng cạnh bức hình mà cựu cố vấn David Wiseman đã cầm để đi tìm ông trong một thời gian dài.


Khi đến sân bay, theo lời ông kể, đặc công Bắc Việt đã tiếp cận bộ chỉ huy Ðại đội Hắc Báo của Trung úy Huế.

“Họ chiến đấu rất hăng say. Họ mặc quần đùi, đeo súng AK bá xếp. Tuy nhiên, các anh em Hắc Báo đã dũng cảm chiến đấu và đánh bật đối phương ra khỏi phi trường. Chúng tôi cứu được hai lính thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, lúc đó có nhiệm vụ bảo vệ phi trường, khỏi tay quân địch,” ông Huế kể tiếp.

Sau đó, đơn vị Hắc Báo lại được lệnh của Trung tá Ngô Văn Chung, trưởng phòng 3, Sư Ðoàn 1, qua giải cứu Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, đang bị địch vây hãm.

“Liền đó, tôi nghe trên điện đàm tiếng Trung tá Chung nói: Ðây là lệnh của mặt trời (ẩn danh của Tướng Ngô Quang Trưởng). Nếu không thi hành sẽ bị đưa ra tòa án mặt trận”. Ông Huế kể.

Qua hệ thống vô tuyến chỉ huy, ông Huế cũng nghe được lệnh của Trung tá Chung ra lệnh cho Thiết Ðoàn 7, đồn trú tại An Cựu, đưa xe tăng sang cứu Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn.

“Tuy nhiên, Trung tá Chí, thiết đoàn trưởng Thiết Ðoàn 7 Thiết Giáp, cho sư đoàn biết là hiện tại bộ chỉ huy của ông đang bị pháo và đặc công uy hiếp nặng nề,” ông Huế kể tiếp.

Harry Trần Ngọc Huế: “Lúc đó, chúng tôi chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết.”


Sau khi ổn định tình hình, Trung úy Huế tập trung anh em Hắc Báo lại và ban lệnh hành quân kế tiếp.

Ông kể: “Tôi nói với anh em rằng, một nửa đại đội phòng thủ phía Nam sông Hương đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và tôi đã mất liên lạc. Nay Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn đang bị vây hãm, tình thế thập tử nhất sinh, tất cả đều trông cậy vào Hắc Báo chúng tôi. Vì sự sống còn của anh em và gia đình, vì sự sống còn của đồng bào và thành phố, chúng tôi quyết phải đánh, dù bất cứ giá nào.”

Sau khi nghe đại đội trưởng Huế nói, tất cả đều hô to “Xin thề! Xin thề! Xin thề!” và “Huế ơi, có chúng tôi đây!”

“Ðó là lời thề của các chiến sĩ Hắc Báo trước khi xung trận,” cựu đại đội trưởng Hắc Báo cho biết tiếp.

Nhờ sống ở Huế lâu và rất rành đường đi nước bước trong thành phố, nên ông Huế dễ dàng dẫn quân luồn lách qua những ngả đường, đến nơi mà địch hoàn toàn không biết.

Người cựu chiến binh QLVNCH này say sưa kể: “Khi đến bên này Cầu Kho, tôi thấy bên kia cầu, gần cổng chính vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, địch đang lúc nhúc đào công sự, chuẩn bị tấn công. Bên trong bộ tư lệnh không thể nào ra được. Ngoài nhân viên Việt Nam còn có một số cố vấn Mỹ trong đó. Nếu bộ tư lệnh mà bị chiếm là coi như rắn mất đầu. Thế là chúng tôi phải dốc toàn lực đánh một mất một còn với địch.”

Theo ông Huế, Hắc Báo là đơn vị đầu tiên của Sư Ðoàn 1 có súng M16, được coi là tối tân nhất lúc đó. Họ cũng sử dụng súng phóng hỏa tiễn M72, đại liên 30ly và đại bác 57ly không giật.

“Từ bên này cầu, tôi cho bố trí ba khẩu đại liên bắn trực xạ làm quân địch rối loạn. Cùng lúc đó, chúng tôi dùng cả lựu đạn khói làm địch không thấy đường. Sau khi hy sinh một tiểu đội, chúng tôi chiếm lại cầu và mở đường vào bên trong bộ tư lệnh,” ông Huế kể tiếp như vậy.

Người đầu tiên Trung úy Huế gặp khi vào bên trong bộ tư lệnh là Trung tá Trần Văn Cẩm, tham mưu trưởng sư đoàn. Trung tá Cẩm liền chỉ cho đại đội trưởng đại đội Hắc Báo biết nơi địch quân đang chiếm đóng trong khu vực. Ðó là khu vực Ðại đội 1 Quân Y Sư Ðoàn, bệnh xá và câu lạc bộ.

“Không chần chờ, tôi cho lệnh chiến đấu,” ông Huế kể.

Ðơn vị Hắc Báo dùng lựu đạn đi đến tấn công từng phòng, giết và bắt một số tù binh một cách dễ dàng.

“Chiến thuật của Hắc Báo lúc đó là cận chiến nhằm bắt sống tù binh để khai thác. Nếu không được mới dùng lựu đạn tấn công,” ông Huế cho biết như vậy.

Tôi hỏi: “Làm sao mà đặc công có thể thoát bãi mìn để vào được bên trong bộ tư lệnh nhiều thế?”

“Ðó là một đường cống, lỗ thoát nước. Ðó chính là nơi mà đặc công bò vào,” ông trả lời.

“Sau khi chiếm cửa hậu phía Bắc của thành Mang Cá, tôi thấy một cảnh hãi hùng. Ðịch đang bò lê bò càng dọc theo bên ngoài bờ thành. Thế là các khẩu đại liên của Hắc Báo cứ thế mà "quét" vào. Cuộc chiến bắt đầu từ 10 giờ sáng mà mãi đến 3 giờ chiều mới kết thúc,” ông Trần Ngọc Huế nói.

Ông nói tiếp: “Lúc đó, chúng tôi chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết.”

Ngay sau đó, ông đã được tặng thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc (Gallantry Cross with Silver Star) do chính Tướng Creighton Abrams, tư lệnh Các Lực Lượng Quân Ðội Hoa Kỳ tại Việt Nam, gắn lên ngực áo. Cũng trong dịp này, ông được lên đại úy và chính Tướng Ngô Quang Trưởng gắn lon cho ông.

Ngày 19 Tháng Sáu, 1969, Ngày Quân Lực VNCH, ông Trần Ngọc Huế được thăng cấp thiếu tá.

Viên ngọc của “Huế”

Sinh ra và lớn lên tại Huế, cái tên Trần Ngọc Huế của ông còn có nghĩa là “hòn ngọc của Huế xuất phát từ nhà Trần.”

Năm 12 tuổi ông đã vào trường Thiếu Sinh Quân. Sau khi đậu tú tài, chàng thanh niên Trần Ngọc Huế vào trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, khóa 18. Ra trường năm 1963, ông được điều ngay về Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.

Kể từ năm 1969, ông lần lượt làm tiểu đoàn trưởng các tiểu đoàn 1/3, 5/2 và 2/2 thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.

Tháng Ba, 1971, Tiểu Ðoàn 2/2 của ông cùng với các tiểu đoàn khác, dưới sự chỉ huy của Ðại tá Ngô Văn Chung, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 2, được điều động tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719 với nhiệm vụ đột kích bằng trực thăng vận vào mục tiêu chiến lược Tchepone, Nam Lào. Theo kế hoạch, sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiếm và kiểm soát mục tiêu chính của cuộc hành quân, ông Huế sẽ được Tướng Phạm Văn Phú đáp trực thăng xuống gắn lon trung tá và tiểu đoàn của ông sẽ được lệnh hành quân về phía Tây Nam Lào, giải vây cho hai tiểu đoàn 3/3 và 4/3.

Sau khi giải vây được cho tiểu đoàn bạn, Tiểu Ðoàn 2/2 lại bị địch bao vây.

Ông Huế kể: “Lúc đó, pháo bắn vào dữ quá. Tôi bị thương nặng nơi mặt, đầu và cổ. Ban chỉ huy ra lệnh mở đường máu rút lui. Anh em đòi khiêng tôi rút lui, nhưng tôi không chịu. Tôi không muốn anh em bị thiệt hại vì mang tôi đi. Chúng tôi xuống 600 người nhưng chỉ thoát được 50 người. Toàn bộ số còn lại bị bắt hoặc hy sinh. Ðó là ngày 21 Tháng Ba, 1971.”

Sau đó, ông Huế được anh em tù binh khiêng đi dọc đường mòn Hồ Chí Minh về tới Vĩnh Linh. Phía địch quân đưa ông lên xe lửa và mang ra nhốt tại nhà tù Hỏa Lò. Vài tháng sau, ông bị đưa lên nhốt ở các trại tại Sơn Tây, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lạng Sơn và Cao Bằng.

Ông Huế kể tiếp: “Sau khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết hôm 27 Tháng Giêng, 1973, theo quy định, địch phải thả tôi. Lúc đó, tôi đang ở Kỳ Cùng thì địch đưa về Hà Tây. Sau đó, họ đưa tôi cùng một số anh em khác vào bờ sông Thạch Hãn để trao trả tù binh. Nhưng tự nhiên địch chia chúng tôi ra làm hai nhóm, nhóm bị bắt tại các nơi khác và nhóm bị bắt ở Lào. Lúc đó, tôi đã mường tượng một điều gì đó không tốt.”

“Các anh bị bắt ở Lào là thuộc quyền Mặt Trận Lào Yêu Nước,” một cán bộ Bắc Việt nói với ông Huế như vậy, theo lời kể của ông.

Hài cốt nạn nhân của Việt cộng Tết Mậu Thân năm 1968


Ông kể tiếp: “Thế là họ đưa chúng tôi về ngã ba Ðường Thành, Hà Nội, và giam tiếp. Chúng tôi phản đối bằng cách tuyệt thực và cạo đầu. Thế là chúng còng tay và đánh đập chúng tôi. Sau đó, chúng tôi bị đưa đi Yên Bái và nhốt cách ly. Kế đến, chúng lựa ra 11 người đầu não, trong đó có tôi, đưa lên nhốt ở Cao Bằng.” “Năm 1974, chúng tôi bị đưa về Nghĩa Lộ làm trại cải tạo chuẩn bị đón thêm tù binh. Sau đó, chúng tôi lại bị đưa trở lại về Yên Bái để làm đường chiến lược Tây Bắc,” ông kể tiếp. Năm 1978, khi Việt Nam rục rịch chiến tranh với Trung Quốc, ông Huế lại bị đưa về Nam Hà. Ðến Tháng Tư, 1982, ông được chuyển về Hàm Tân. Tháng Bảy, 1983, ông được thả. Về Sài Gòn, ông bị quản thúc tại gia trong nhiều năm cho đến năm 1991, ông sang Hoa Kỳ diện cựu sĩ quan chế độ cũ.

Cuộc sống mới tại Hoa Kỳ

Hồi ở Tiểu Ðoàn 2, Trung Ðoàn 2 của Sư Ðoàn 1, ông Huế có một người bạn thân là David Wiseman, lúc đó là cố vấn Mỹ. Ông Wiseman cũng từng bị thương ba lần tại Việt Nam và rất cảm kích tinh thần chiến đấu của người bạn Trần Ngọc Huế.

Sau năm 1975, ông David Wiseman không biết người bạn của mình sống chết ra sao. Ông cầm tấm hình của ông Huế đi khắp vùng thủ đô Washington D.C. và đưa cho mọi người xem. Mỗi lần ông đưa tấm hình ra, ông đều nhận được một cái lắc đầu.

Cho đến một hôm, ông Wiseman tham dự một buổi tiệc gây quỹ của Hội Gia Ðình Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Virginia và gặp ông Ngô Ðức Am, em rể của bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch hội.

Thật là may mắn cho ông Wiseman vì ông Am chính là người ở chung trại tù với ông Huế.

Sau khi xem tấm hình, ông Am cho ông Wiseman biết ông Huế vẫn còn sống ở Việt Nam. Thế là ông Wiseman tìm cách liên lạc với ông Huế.

Việc đầu tiên là ông Wiseman gởi cho ông Harry một bức thư ngắn trong đó kèm theo năm tờ giấy $20.

Bức thư chỉ có vài hàng: “Harry, tôi biết anh còn sống. Tôi đã tìm anh 20 năm nay. Tôi sẽ tìm mọi cách đưa anh sang Mỹ. Nếu anh qua Mỹ tôi sẽ giúp. Nếu anh muốn ở lại, tôi sẽ gởi tiền về giúp. Anh còn thích hút thuốc Salem không?”

Khi đến Hoa Kỳ năm 1991, chính ông Wiseman là người ra đón gia đình ông Huế tại phi trường Washington National Airport. Sau đó, ông Wiseman lo mướn nhà cho gia đình ông Huế, giúp mua sắm một số vật dụng cần thiết.

Theo ông Huế cho biết, ông Wiseman đã qua đời cách đây bốn năm.

Kể từ khi biết Harry đến Hoa Kỳ, các cố vấn Mỹ, mà nhiều người sau này trở thành bạn thân và coi Harry như anh em ruột, gọi điện thoại và đến thăm tới tấp. Ai cũng muốn giúp ông ổn định cuộc sống mới.

Năm 1994, nhờ bạn bè Mỹ giúp đỡ, cựu chiến binh Trần Ngọc Huế và ba cô con gái, Coco, Vicky và Elly, vào làm cho ngân hàng Navy Federal Credit Union cho đến nay.

Một người lính đầy danh dự

Dù trong hoàn cảnh nào, cựu chiến binh Harry Trần Ngọc Huế luôn giữ được khí tiết và danh dự của một người lính QLVNCH. Vì thế, ông được nhiều người rất kính nể.

“Mỗi người có một cách sống riêng. Bản thân tôi luôn sống với danh dự của một quân nhân QLVNCH. Người ta (các cố vấn Mỹ) đã rời bỏ quê hương sang giúp mình thì mình phải giúp họ hoàn thành nhiệm vụ. Sống với họ phải sống xứng danh quân đội VNCH. Vì thế, tôi có những cảm tình rất khó tin với các cố vấn Mỹ,” ông Huế chia sẻ như vậy.

Ông Ned Devereaux, cố vấn cũ và từng bị thương với ông cố vấn Wiseman và ông Huế ngày 8 Tháng Mười Một, 1970, cho biết: “Khi tôi gặp Harry lần đầu tiên, tôi biết ngay ông là một người lính chuyên nghiệp, một sĩ quan chuyên nghiệp, một người mà khi ra lệnh tôi sẽ theo ngay, không thắc mắc. Harry đã làm tôi cảm thấy mình là một thành viên trong gia đình quân đội của ông. Những gì ông làm đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ dễ dàng.”

“Nếu phải viết một câu về Harry, tôi sẽ viết, Harry thật sự là một anh hùng, một người trung thành với tổ quốc, cấp trên, gia đình và binh sĩ của mình và tôi coi Harry như một người anh em cùng huyết thống và thật sự kính nể ông,” ông Devereaux viết như vậy trong email gởi cho tôi.

Ông Thái Quang Ty, một trung sĩ đại đội Hắc Báo tham gia trận đánh lấy lại Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, đang sống tại thành phố Atlanta, Georgia, kể: “Anh Huế là một chỉ huy tài giỏi và mưu lược. Lúc tôi ở cùng đơn vị với anh, Hắc Báo đánh đâu thắng đó, chưa thua một trận nào. Ở mỗi trận đánh, anh đều quan sát trước địa hình trước khi giàn quân. Các chỉ huy khác thường xua binh sĩ đi trước, riêng bản thân anh lúc nào cũng đi sát binh sĩ. Chính vì vậy làm cho tinh thần anh em hăng say.”

Qua điện thoại, ông Richard Weyand, cố vấn đại đội Hắc Báo từ năm 1967 đến 1969 và hiện sống tại thành phố Kenosha, Wisconsin, nói: “Harry là người dấn thân nhất cho cuộc chiến. Cách chỉ huy của ông, sự trung thành của ông và sự can đảm của ông làm tôi tự hào khi được làm việc với ông trong hai năm trời.”

Một cố vấn khác của đơn vị Hắc Báo, ông William Bolt, hiện là trung tướng hồi hưu sống tại thành phố Columbia, South Carolina, kể qua điện thoại: “Trong một trận đánh tại phía Nam thành phố Huế vào cuối năm 1968, chính ông Harry đã cõng ông Richard Weyand ra sau khi ông này bị thương trong một bãi mìn. Harry quả thực là một người can đảm. Ông là một người yêu nước và là người hy sinh nhiều nhất cho đất nước của ông mà tôi được biết.”

Thủy quân lục chiến Mỹ tại Huế, Tết Mậu Thân năm 1968


Khi Giáo Sư Sử Học Andrew Wiest, trường đại học University of Southern Mississippi, chuẩn bị viết tác phẩm “Vietnam's Forgotten Army, Heroism and Betrayal in the ARVN,” ông vô tình biết được Harry Trần Ngọc Huế qua ông Jim Coolican, cựu Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và là cố vấn của ông Huế hồi Tết Mậu Thân 1968.

Giáo Sư Wiest kể: “Tôi sang thăm Việt Nam năm 2000 và thấy rất nhiều. Một điều tôi ít thấy nói đến là QLVNCH. Về Mỹ tôi quyết định viết một cuốn sách về đề tài này. Trong lúc nghiên cứu tìm tài liệu, nhiều người cho tôi biết phải tìm và viết về Harry Trần Ngọc Huế. Thế là tôi nhờ cựu cố vấn Jim Coolican giúp tôi.”

“Tôi nghĩ Harry là một biểu tượng xứng đáng nhất của Việt Nam và Hoa Kỳ. Cũng như bao nhiêu người khác sau chiến tranh, đến Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng. Giờ đây, cả ba cô con gái của ông đều tốt nghiệp đại học và có việc làm ổn định. Harry đã thực hiện được giấc mơ Mỹ của mình,” giáo sư này nói tiếp.

Ông kết luận: “Harry là người yêu nước nhất mà tôi gặp từ trước đến nay.”

Vào Tháng Mười Một tới đây, Giáo Sư Andrew Wiest sẽ cho ra mắt tác phẩm nêu trên.

Đỗ Dũng